Đặc trưng của không gian ,thời gian trong ca dao - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Nền văn học dân gian Việt Nam rất nổi bật với sự kết hợp nhiều thể loại
như truyền thuyết ,truyện cổ tích ,thần thoại ,sử thi …và một bộ phận không
thể thiếu đó là ca dao.Ca dao là một thể loại khá tiêu biểu và có một vị trí
quan trọng trong đời sống xã hội .Nội dung ca dao phản ánh cuộc sống của
người dân lao động , tình cảm gia đình ,tình yêu quê hương đất nước …
Khi nghiên cứu về ca dao đã có không ít nhà nghiên cứu tìm hiểu nhân vật
trong ca dao hay cấu trúc ca dao …Theo chân của một số nhà nghiên cứu
như Trần Thị An , GS Nguyên Xuân Kính , ThS Trần Tùng Chinh .Tôi đi
vào tìm hiểu đề tài “Đặc trưng của không gian ,thời gian trong ca dao” ,qua
đó thấy được sự quan trọng của không gian ,thời gian trong ca dao đồng thời
thấy được những sáng tạo về không gian ,thời gian trong ca dao tạo sự độc
đáo và sâu sắc về đời sống tâm hồn người Việt Nam qua bao thế hệ .
2.Lịch sử vấn đề
Vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao Việt Nam đã được
nhiều người nghiên cứu với nhiều thành tựu đáng kể.
Với chuyên luận thi pháp ca dao nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính tìm
hiểu các vấn đề ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu, thể thơ, thi pháp diễn xướng,
thời gian và không gian nghệ thuật của ca dao truyền thống. Về không gian
nghệ thuật, tác giả chú ý đến “không gian vật lí”, “không gian xã hội”. Theo
tác giả thì không gian nghệ thuật trong ca dao truyền thống chủ yếu là không
gian trần thế, đời thường bình dị, phiếm chỉ với những nhân vật chưa được
cá thể hóa mang tâm trạng tình cảm chung của nhiều người.
Trong cuốn Thi pháp văn học dân gian, nhà nghiên cứu Lê Trường Phát
cũng đã tìm hiểu vấn đề không gian nghệ thuật trong ca dao. Tác giả khẳng
định không gian trong ca dao là không gian vật lí, đó là không gian thực tại
khách quan như nó vốn có. Ngoài ra còn có không gian xã hội – nơi diễn ra
mọi hoạt động của đời sống với những mối quan hệ giữa con người với con
người”.
D.X Likhachốp trong cuốn Thi pháp Văn học Nga cổ đã nói: “Thời

NỘI DUNG
Chương 1: Những nét khái quát về ca dao
1.1. Khái niệm ca dao
Đã có không ít tài liệu đề cập đến khái niệm ca dao nhưng theo cách hiểu
thông thường thì “ Ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi tiếng
đệm , tiếng láy…Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến
ca dao người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian , còn khi nói đến dân
gian người ta nghĩ đến làn điệu ,những thê thức hát nhất định ….Khái niệm
ca dao đã được quy định dung để chỉ bộ phận cốt lõi nhất , tiêu biểu nhất :đó
là những câu hát trở thành cổ truyền của nhân dân ta” .
Cũng có ý kiến khác về khái niệm ca dao như : (ca: bài hát thành chương
khúc; dao: bài hát ngắn, không thành chương khúc) là những câu hát theo
giọng điệu tự nhiên lưu hành trong dân gian, thường diễn tả ý nghĩ, tình
cảm, nếp sinh hoạt của đại chúng bình dân. Ca dao còn được gọi là phong
dao ("phong" là phong tục). Người xưa cho rằng qua ca dao có thể nhận biết
phong tục tốt, xấu của một xứ, một vùng.
Còn với Vũ Ngọc Phan theo ông thuât ngữ “Ca dao” vốn là tên gọi Hán Việt
,được các nhà nghiên cứu Văn nghệ dân gian Trung hoa gọi cho hai loại Dân
ca khác nhau .
Như vậy , ca dao là lời ca dân gian .Lời ca là lời của các làn điệu dân ca và
các sáng tác ngâm vịnh của các nhà Nho được hòa vào dòng chảy dân
gian .Khái niệm ca dao được xem là phần lời của những câu hát trữ tình
truyền thống . Ca dao là tiếng nói của tình cảm.
1.2 Đặc trưng thi pháp của ca dao
*thể thơ :
- thể lục bát
Đa số ca dao được sáng tác theo thể thơ lục bát. Theo thống kê của
Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “ ca dao Việt Nam”, có 973 lời được sáng tác
theo thể thơ lục bát, chiếm 95%. Theo thống kê trong cuốn “Tuyển tập Văn
học dân gian Việt Nam” thì có 5337/5600 lời sáng tác bằng thể thơ lục bát,

Chiều chiều trước bến Vân Lâu
Ai ngồi ai câu
Ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm
Ai nhớ ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước.
* Cấu trúc ngữ nghĩa:
- Cấu trúc lời đơn
Đây là dạng cấu trúc chỉ có một vế đơn
“Yêu nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ba làm mười
- Cấu trúc lời đôi:
+ Cấu trúc đối giải: Đây là kiểu cấu trúc đối đáp để giải bày tâm sự:
“Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng mở lối ai vào hay chưa
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn đào mở lối nhưng chưa ai vào”.
* Nhân vật, biểu tượng
- Nhân vật trong ca dao không phải là nhân vật tính cách mà là nhân vật
trữ tình - tâm trạng:
“Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng”.
Hay đó là nhân vật của những nét tính cách:
“Gặp đây anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này có lấy anh không?”
Xây dựng nhân vật tâm trạng, chủ yếu là tâm trạng tình yêu mà nét buồn
nhớ vẫn là nét chủ yếu trong tâm trạng tình yêu.
Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng. Trong ca dao có rất hiều hình tượng
mang tính biểu tượng.

Trong ca dao,tác giả với tư cách là một cá nhân- cá thể, là một cái tôi trữ
tình riêng biệt, tách biệt với cộng đồng không được biểu lộ ra. Chính đó là
điều tạo ra sắc điệu trữ tình độc đáo của ca dao so với thơ trữ tình bác học.
Tính độc đáo ấy cũng được thể hiện cả ở cách xử lí thời gian của ca dao.
Trong những cuộc hát ca dao được cất lên.Tác giả bài ca hoàn toàn vắng
mặt, trong thời điểm hiện tại của cuộc hát, ca dao được cất lên từ cửa miệng
những người khác, ca dao được cả người diễn xướng lẫn người thưởng thức
cùng như thể đang diễn đạt những cảm xúc- tâm lí nảy sinh từ chính trái tim
mình ở vào khoảnh khắc dương thời đang tiếp diễn. Rút cục, trong ca dao,
thời gian của tác giả và thời gian của người diễn xướng và cả thời gian của
người thưởng thức hòa lẫn làm một. Thời gian đó luôn luôn là thời gian hiện
tại (Điều này khác với thời gian trong truyện cổ tích luôn luôn là thời gian
quá khứ phiếm định, khác với thời gian trong truyền thuyết luôn luôn là thời
gian quá khứ xác định.)
Ca dao sử dụng hàng loạt cụm từ để chỉ thời gian: “bây giờ”, “hôm nay”,
“chiều chiều”, “đêm đêm”, “hôm qua”, “ đêm qua”, “sáng ngày”, “khi
xưa”…Nói chung thời gian nghệ thuật trong ca dao vừa là thời gian thực tại
khách quan, lại vừa là thời gian của sự tưởng tượng, hư cấu mang tính chủ
quan của nhân vật trữ tình.
Khi thời gian thuộc về đối tượng phản ánh thì đó là thời gian thực tại được
ca dao tái hiện lại. Ví dụ như cách tính thời gian trong những bài ca nông
lịch.:
Tháng chạp là tháng trồng khoai,
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà… .
Ở đây chu kì thời vụ được tính bằng tháng. Bài ca cho thấy tính chất dồn dập
của công việc nhà nông hết tháng này sang tháng khác trong năm, đồng thời
cũng hé lộ tính lặp lại đều đều của thứ “nông lịch” ấy từ năm này sang năm
khác. Qua đó, bài ca diễn đạt, một cách nghệ thuật, tính cách kiên nhẫn, bền
bỉ, sự chịu đựng không biết mệt mỏi của người làm ruộng.
Nhưng khi cần diễn đạt một sự dồn dập với tốc độ nhanh hơn, đòi hỏi một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status