TRƢỜNG ĐAI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
===o0o===
LÊ THỊ THANH HUYỀN
KHẢO SÁT
HỆ THỐNG TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC
TRONG THƠ VƢƠNG DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hán Nôm
HÀ NỘI - 2019
TRƢỜNG ĐAI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
===o0o===
LÊ THỊ THANH HUYỀN
KHẢO SÁT
HỆ THỐNG TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC
TRONG THƠ VƢƠNG DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hán Nôm
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thị Hải Vân
Lê Thị Thanh Huyền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài...................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 3
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ............................................................... 3
5. Nhiệm vụ đề tài ....................................................................................... 4
6. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................... 4
7. Cấu trúc khóa luận................................................................................... 4
NỘI DUNG .................................................................................................... 5
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG .................................................... 5
1.1. Vƣơng Duy: thi hào tinh thông hội họa ................................................ 5
1.1.1. Vương Duy - một nhà thơ nổi tiếng................................................. 5
1.1.2. Vương Duy - một họa sĩ tài ba ........................................................ 7
1.1.3. Vương Duy họa sĩ luôn đi liền với Vương Duy thi sĩ ....................... 8
1.2. Màu sắc trong hội họa và hội họa Trung Hoa ....................................... 9
1.2.1. Những màu sắc có trong nghệ thuật hội họa .................................. 9
1.2.2. Màu sắc sử dụng trong hội họa Trung Hoa .................................. 11
1.3. Từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán .......................................................... 17
1.3.1. Từ chỉ màu sắc đơn âm tiết........................................................... 17
1.3.2. Từ chỉ màu sắc đa âm tiết ............................................................. 18
Chƣơng 2. KHẢO SÁT TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG THƠ VƢƠNG DUY .... 22
2.1. Số từ chỉ màu sắc trong thơ Vƣơng Duy ............................................. 22
2.1.1. Các từ chỉ màu trắng trong các bài thơ của Vương Duy............... 22
2.1.2. Các từ chỉ màu xanh trong thơ Vương Duy .................................. 24
2.1.3.Các từ ngữ chi những màu khác .................................................... 26
2.2. Tần số xuất hiện từ chỉ màu sắc trong thơ Vƣơng Duy ....................... 28
chẽ với sự thống trị Trung Quốc suốt gần 300 năm của nhà Đƣờng (618 - 907)
đã để lại số lƣợng tác phẩm vô cùng đồ sộ. Ngày nay, bộ Toàn Đường thi ấn
hành dƣới thời Khang Hy ta thấy gồm 900 quyển, 30 tập với gần 500 vạn bài
thơ của hơn 2300 nhà thơ, trong đó Lí Bạch, Đỗ Phủ, Vƣơng Duy, v.v… là
những nhà thơ lớn nổi tiếng thế giới.
Sự phồn vinh của văn học Đƣờng không chỉ bởi số lƣợng các tác phẩm
đồ sộ mà còn do nội dung và hình thức sáng tác của các nhà thơ thời kì này đã
có sự chuyển biến mạnh mẽ. Về nội dung đã thay vì đi sâu khám phá cái rỗng
tuếch nghèo nàn của văn học quý tộc mà đã bắt đầu hƣớng đến cuộc sống quý
tộc phong phú rộng rãi đồng thời kết hợp đƣợc nhiều ngành nghệ thuật vào
trong thơ ca nhƣ trong thơ có nhạc, trong thơ có họa, có điêu khắc,… Về mặt
hình thức đã có nhiều phát triển mới mẻ, sáng tạo. Trong số các nhà thơ đó
không thể không kể đến Vƣơng Duy - một nhà thơ có tầm ảnh hƣởng sâu
rộng. Ông đƣợc đánh giá là một trong bốn “ngôi sao sáng chói” của thơ ca đời
Đƣờng (cùng với Lí Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cƣ Dị).
1
Vốn đƣợc tôn là tổ sƣ của họa phái Nam Tông là “Văn nhân họa” nên
trong thơ Vƣơng Duy những câu thơ kết hợp với hội họa đƣợc sử dụng rất
nhiều. Trong thơ Vƣơng Duy, những nét chấm phá của tranh thủy mặc là
những dòng thơ đơn giản lạ kì nhƣng lại không mất đi vẻ trang trọng, mĩ lệ.
Dù Vƣơng Duy là một con ngƣời đa tài: đàn hay, vẽ giỏi, chữ đẹp, văn
chƣơng xuất chúng nhƣng ngƣời đời biết đến Vƣơng Duy nhiều nhất là một
Vƣơng Duy họa sĩ luôn đi liền với một Vƣơng Duy thi sĩ của núi rừng cây cỏ.
Chính vì vậy mà câu thơ “Khi xem tranh của Duy Ma Cật ta thấy gồm cả một
bài thơ. Khi đọc thơ Duy ma Cật ta còn thấy gồm cả một bức tranh” của Tô
Thức đã trở thành câu nói cửa miệng để mọi ngƣời ca ngợi Vƣơng Duy.
Thơ của Vƣơng Duy đã vƣợt qua 10 thế kỉ để tồn tại cho đến ngày nay,
Trong Tuyển tập thơ Đường, các tác giả đã giới thiệu sơ lƣợc về nhà
thơ Vƣơng Duy và một số bài thơ tiểu biểu của ông nhƣng tuyệt nhiên chƣa
đề cập đến màu sắc đƣợc sử dụng trong thơ của Vƣơng Duy.
Nhƣ vậy, những công trình nghiên cứu về nhà thơ Vƣơng Duy đa phần
đều đề cập đến phong cách, phần họa trong thơ của ông …nhƣng chƣa có hệ
thống và công trình nghiên cứu hoàn thiện về màu sắc trong thơ Vƣơng Duy.
Tuy nhiên, đây là những nguồn tƣ liệu quý báu làm nên nền tảng cơ sở giúp
chúng tôi lựa chọn và xây dựng đề tài “Khảo sát hệ thống từ ngữ chỉ màu
sắc trong thơ Vƣơng Duy”.
3. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận này đƣợc thực hiện với mục đích chỉ ra vị trí, ý nghĩa quan
trọng của các từ ngữ chỉ màu sắc trong các bài thơ của Vƣơng Duy. Từ đó,
chúng tôi tiến hành thống kê, khảo sát và phân tích đối chiếu từ các bài thơ
của Vƣơng-Duy để chỉ ra sự đa dạng, phong phú và độc đáo của các từ ngữ
chỉ màu sắc trong thơ của ông và tác dụng của chúng đối với việc hình thành
phong cách nghệ thuật của Vƣơng Duy.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về “Khảo sát hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc trong
3
thơ Vƣơng Duy” tập trung vào tìm hiểu sự phong phú, đa dạng của màu sắc
của thiên nhiên và cuộc sống, có tác động mĩ cảm sâu sắc đến con ngƣời đƣợc
nhắc đến trong các bài thơ của Vƣơng Duy. Đồng thời, ngƣời viết tập trung
vào các loại màu sắc, màu sắc nổi bật đƣợc sử dụng tạo nên nét thanh tịnh
trong thơ ông
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát trong khoảng 50 bài thơ
tiêu biểu của Vƣơng Duy
5. Nhiệm vụ đề tài
bảy đại quý tộc danh tiếng nhất thời Thịnh Đƣờng. Gia đình ông gồm có sáu
ngƣời con, Vƣơng Duy là con trai trƣởng, sau đó tới Vƣơng Tấn cùng hai em
trai và một em gái
Vƣơng Duy là một nhà thơ nổi tiếng thời Đƣờng và đã đƣợc ngƣời đời
tôn ông là Thi Phật. Cùng với Lý Bạch (Thi Tiên) và Đỗ Phủ (Thi Thánh) và
Lý Hạ (Thi Quỷ), Vƣơng Duy với biệt danh Thi Phật đã tạo nên Thánh - Tiên
- Phật - Quỷ cùng xuất hiện trong giai đoạn cực thịnh của thơ Đƣờng. Sinh ra
trong một gia đình thuộc tầng lớp quý tộc, đƣợc tiếp xúc với nền giáo dục của
nho giáo và những ngƣời tài hoa nên ngay từ nhỏ Vƣơng Duy đã sáng tác thơ
ca. Năm 716, khi mới mƣời lăm tuổi, Vƣơng Duy cùng em trai là Vƣơng Tấn
lên Trƣờng An và Lạc Dƣơng du học. Lúc này, Vƣơng Duy đã khét tiếng về
tài làm thơ nên đã đƣợc các gia đình quý tộc tiếp đãi trọng vọng. Không
những thế, em ruột của vua Huyền Tông Đƣờng Minh Hoàng là Kỳ Vƣơng
cũng rất nể phục và quý trọng tài làm thơ của ông nên cũng đã tiếp đãi vào
hàng thƣợng khách tri kỉ. Vì cảm kích trƣớc tấm lòng của Kỳ Vƣơng nên
Vƣơng Duy đã làm một bài thơ thay lời Kỳ Vƣơng đa tạ vua cho mƣợn Cửu
5
Thành Cung để nghỉ mát. Vƣơng Duy sống trong một cuộc sống xa hoa
nhung lụa và đƣợc tham gia vào các buổi tiệc du hí của hoàng tộc và những
nhà đại quý tộc nên danh tiếng của ông ngày một vang xa.
Ngƣời ta chủ yếu biết Vƣơng Duy là một nhà thơ sơn thủy thi, thơ ông
chủ yếu viết về thiên nhiên sông núi bởi Vƣơng Duy chịu ảnh hƣởng của đạo
Phật và đạo Lão. Sở dĩ có điều này là do mẹ ông rất mực tín Phật pháp,
Vƣơng Duy chịu ảnh hƣởng từ mẹ. Ngày nay ngƣời ta còn giữ lại đƣợc
khoảng hơn 400 bài thơ của Vƣơng Duy với phong cách tinh tế trang nhã.
Thời trẻ, thơ Vƣơng Duy bộc lộ tâm trạng của tầng lớp tri thức có tài, có trí
nhƣng không đƣợcc dùng phải sống trong cảnh hàn vi còn bọn công tử quý
không đƣợc tôn xƣng là họa sĩ bậc nhất nhƣng Vƣơng Duy vẫn đƣợc sách
“Đƣờng triều danh họa lục” ca tụng bức “Võng xuyên đồ” là một tuyệt phẩm
hãn hữu hay sách “Cựu Đƣờng thƣ” cũng kể lại những kì tích của ông trong
giới hội họa.
Theo ghi chép, Vƣơng Duy chính là ngƣời đã sáng tạo ra lối vẽ sơn
thủy bằng thủy mặc. Trong lòng Vƣơng Duy luôn muốn chứa đựng thiên địa
vạn vật nên khi ông đặt bút có thể ngay lập tức vẽ đƣợc những nét vẽ vô cùng
tự nhiên, phóng khoáng với tạo hình nhất sơn nhất thủy tuyệt đẹp. Những nét
vẽ của ông luôn giản dị tinh tế, đó không phải là sự đơn giản mà đó là sự giản
dị đã đạt đến cảnh giới cao nhất của nghệ thuật, là phƣơng pháp đạt đến độ
“dƣờng nhƣ không có phƣơng pháp”. Vƣơng Duy đã từng nói: “Trong lòng
thoải mái, không có chƣớng ngại, nhƣ hồ băng trong suốt… thì khi hạ bút vẽ
sẽ mang phong cách khí thế thoát tục”. Danh tiếng về tranh sơn thủy của
Vƣơng Duy nổi tiếng đến mức gần nhƣ lấn át đi tên tuổi của một thi hào
Vƣơng Duy. Khi thƣởng thức tranh của ông, Tô Đông Pha đã từng ca ngợi:
“Trƣớc tranh của Duy Ma Cật ta chỉ biết lùi lại cúi lạy, vô ngôn”. Phải tài hoa
và tinh tế đến mức nào thì mới có thể làm cho một ngƣời nổi tiếng nhƣ Tô
Đông Pha thốt ra câu nói đầy kính nể tranh Vƣơng Duy đến thế.
7
Vƣơng Duy không phải là ngƣời nổi tiếng bậc nhất về họa phái nhƣng
tranh của ông mới thực sự có ảnh hƣởng lớn đến tinh thần hậu thế. Vƣơng
Duy chƣa bao giờ lập trƣờng phái vẽ tranh nào và ông cũng không dạy ngƣời
khác vẽ tranh nhƣng các họa sĩ đời sau lại khởi hứng từ tranh ông rất nhiều
đặc biệt là Kinh Hạo, Lý Thành, Đổng Nguyên,.. Tuy sử sách không ghi rõ
các bức tranh của Vƣơng Duy nhƣng khi dâng Họa Phổ lên Tống Huy Tông
(1101 - 1125) ta thấy còn đến tên 126 bức tranh của ông gồm: tranh Phật,
tranh Bồ Tát, tranh Sơn Thủy,.. và có lẽ số lƣợc các bức họa của ông còn
Ngã tâm tố dĩ nhàn, thanh xuyên đạm nhƣ thử”
(Lời nói chui vào suối Hoàng hoa, hòa theo dòng Thanh Khê cùng chảy
........
Lòng ta vốn đã an nhàn sẵn, suối trong kia lại rất êm đềm)
Qua giai điệu không ngừng chảy của nó ta có thể thấy hiện ra bức tranh có các
cảnh trí thiên nhiên khác nhau, thể hiện rõ đặc tính và sức sống tràn trề của
nó. Và đặc biệt để làm nên chất họa trong thơ Vƣơng Duy không thể không
nhắc đến màu sắc. Có lúc thơ ông hiện lên bức họa với màu sắc sinh động
tƣơi tắn, lúc lại là những màu sắc nhạt màu. Ở đây ta có thể thấy màu sắc
trong thơ ông là màu sắc của hội họa thủy mắc sơn thủy. Nó giúp thơ ông
mang vẻ đẹp tĩnh tại, đạm mạc. Không những thế, trong các bài thơ của mình
Vƣơng Duy cũng sử dụng cấu đồ hội họa rất điêu luyện. Thơ ông có sự đối
lập mà thống nhất giữa đƣờng nét, màu sắc, hình khối, chiều kích… của các
sự vật hiện tƣợng giúp cho bài thơ có sự cân đối hài hòa. Với nghệ thuật
“dùng tranh vẽ thơ” và “dùng thơ để tả tranh” Vƣơng Duy xứng đáng là một
thiên tài nghệ thuật. Một con ngƣời họa sĩ luôn đi liền với một con ngƣời thi
sĩ đã tạo ra thi nhân Vƣơng Duy đƣợc ngƣời đời kính nể.
1.2. Màu sắc trong hội họa và hội họa Trung Hoa
1.2.1. Những màu sắc có trong nghệ thuật hội họa
Màu sắc là con đẻ của ánh sáng, là hiệu quả hiển thị của các loại ánh
sáng có bƣớc sóng dài, ngắn khác nhau, là do sựu phản chiếu của ánh sáng lên
9
những vật thể. Theo quang học khi luồng ánh sáng trắng đi qua lăng kính mặt
trời thì tách ra gồm bảy sắc là: vàng, cam, đỏ, lục, lam, chàm, tím. Trong hội
họa thì màu là chất liệu cụ thể do những sắc tố đƣợc chiết ra từ khoáng chất,
hóa chất, thảo mộc. Đó gọi là màu sắc tố.
Trong hội họa, ngƣời ta chia ra rất nhiều các loại màu khác nhau. Thứ
Màu tƣơng đồng là loại màu thoạt nhìn chúng có vẻ giống nhau, nhóm
màu đứng cạnh nhau trong vòng thuần sắc. Đó là một dãy các màu nối tiếp
nhau, liên kết chặt chẽ, không phân biệt nóng lạnh
Các màu bổ túc xen kẽ: vàng và tím, đỏ và lục, lam và cam dùng để
làm màu nhấn, màu trọng điểm. Bên cạnh đó còn có màu bổ túc trực tiếp,bổ
túc kép, bổ túc bộ ba, bổ túc bộ bốn.
Màu chiếm diện tích trội nhất trong toàn bộ không gian, chi phối toàn
bộ hòa sắc của không gian đƣợc gọi là màu chủ đạo. Màu chủ đạo còn tùy
thuộc vào đề tài, không gian, thời gian, vị trí sử dụng, tâm lí ngƣời sử dụng, ý
đồ, tình cảm để xác định.
Màu sắc riêng: quy luật hỗ trợ cộng hƣởng của các màu sắc, ánh sáng,
môi trƣờng, không khí, vật thể. Sử dụng màu là để diễn tả sự cộng hƣởng ấy.
Màu sắc riêng là tên gọi của loại không gian chỉ sử dụng một màu pha
với trắng và đen tạo sự liên kết sắc độ một cách tinh tế hài hòa.
1.2.2. Màu sắc sử dụng trong hội họa Trung Hoa
Trong ngôn ngữ khác nhau ngƣời ta lại có những nguyên tắc riêng để
vạch ra những ranh giới từ chỉ màu sắc. Chính vì vậy đã dẫn đến sự khác màu
và số lƣợng ngôn ngữ chỉ các màu trong ngôn ngữ. Các từ chỉ màu sắc trong
tiếng Hán vì thế mà cũng có sự khác biệt so với các từ ngữ chỉ màu sắc trong
tiếng Việt.
Ta có thể thấy các từ ngữ chỉ màu sắc trong hội họa Trung Hoa vô cùng
phong phú có tài liệu cho rằng lên đến 1100 từ nhƣng ở đây chúng tôi chỉ
thống kê những màu sắc cơ bản:
11
STT
Màu sắc
vàng nhạt
6
黑
đen
7
橙
cam
8
绿
xanh lá
9
紫
tím
10
灰
vàng (gold)
16
褐紫红
đỏ bóoc đô
17
灰棕
tro
18
浅蓝
xanh da trời
19
深蓝
xanh lam đậm
20
浅绿
25
彩
sắc
26
苍
xanh biếc
27
沧
xanh ngắt
28
赤
đỏ son
29
翠
xanh biếc
35
玄
đen huyền
36
银
bạc
37
猩红
đỏ ổi
38
银红
đỏ bạc
39
肉红
đỏ thịt
45
牛血红
đỏ tiết bò
13
46
铜红
đỏ đồng
47
枣红
táo đỏ
48
米黄
ngà
49
金黄
đỏ mã não
55
黄褐
vàng nâu
56
鲜粉红
hồng tƣơi
57
赭
đỏ sẫm
58
银白
trắng bạc
59
茶
hồng nhạt
65
灰棕
nâu xám
66
靛蓝
chàm
67
青白
trắng xanh
68
青黄
vàng xanh
14
74
深红
mận chín
75
天青
trong xanh
76
栗褐
nâu hạt dẻ
77
胭脂红
son đỏ
78
黄棕
vàng nâu
84
淡紫
tím hoa cà
85
蓝紫
Xanh tím than
86
乳白
trắng sữa
87
苔绿
xanh rêu
88
雪白
trắng tuyết
đỏ bảo thạch
94
深褐
nâu đậm
95
浅褐
nâu nhạt
96
海绿
xanh nƣớc biển
97
海水蓝
xanh nƣớc biển
98
橄榄
ghi lông chuột
104
嫩
nhạt
105
浅
nhạt
106
深
đậm
107
红棕
nâu đỏ
108
浅棕
16
đơn âm tiết lớn hơn rất nhiều số lƣợng các từ ngữ chỉ màu sắc đơn âm tiết.
Những màu sắc này đã tạo nên một nền hội họa đỉnh cao của một trong những
quốc gia có nền văn hóa lâu đời nhất Châu Á.
1.3. Từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán
1.3.1. Từ chỉ màu sắc đơn âm tiết
Các từ ngữ chỉ màu sắc do một âm tiết cấu thành đƣợc gọi là từ chỉ
màu sắc đơn âm tiết. Trong tiếng Hán các từ ngữ chỉ màu sắc đơn âm tiết vô
cùng phong phú: 紅 (đỏ), 黃 (vàng), 白 (trắng), 黑 (đen), 青 (thanh), 蓝 (lam),
灰 (xám), 紫 (tím), 褐 (màu hạt dẻ), 橙 (màu da cam), 赤 (đỏ), 绯 (đỏ), 朱 (đỏ
son), 绛 (đỏ thẫm),翠 (xanh biếc), 碧 (ngọc xanh biếc/ xanh biếc),苍 (xanh lá
cây/ xanh biếc gồm cả lam và lục)),乌 (đen), 玄 (đen), 漆 (đen), 殷 (đỏ đen), 粉
(hồng), 素(trắng), 缟 (trắng), 葱 (xanh), 赭 (đỏ), 黛 (đen vàng), 黝 (đen xanh),…
Những từ chỉ màu sắc đơn âm tiết chiếm số lƣợng rất lớn trong bảng các từ
ngữ chỉ màu sắc.
Tuy nhiên, về cấu tạo những từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Hán
cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau. Theo Lƣu Quân Kiệt và Lƣu Vân Tuyền
Thì từ chỉ màu sắc trong tiếng Hán hiện đại gồm có mƣời màu cơ bản nhƣ: 红
(đỏ), 黄 (vàng), 绿 (lục), 白 (trắng), 黑 (đen),青 (xanh), 蓝 (lam), 灰 (xám), 紫
(tím), 褐 (màu hạt dẻ). Còn ông Lƣu Đan Thanh thì lại cho rằng chỉ có chín từ
chỉ màu sắc cơ bản là các màu giống ý kiến cuả Lƣu Quân Kiệt và Lƣu Vân
Tuyền nhƣng lại bỏ màu 褐 (màu hạt dẻ) đi. Ý Kiến của Chiêm Nhân Phƣơng
cho rằng chỉ có sáu từ là: 红 (đỏ), 黄 (vàng), 绿 (lục), 白 (trắng), 黑 (đen), 蓝
(lam) là từ chỉ màu sắc cơ bản; còn lại màu青 (xanh) và 灰 (xám) đƣợc cho
rằng là hai màu chuẩn cơ bản.
Trong tiếng Hán, nhữung từ chỉ màu sắc đơn âm tiết ngoài mƣời từ chỉ
màu sắc cơ bản: 红 (đỏ), 黄 (vàng), 绿 (lục), 白 (trắng), 黑 (đen), 青 (xanh),
biểu thị màu chính, giữa hai hình vụ này là mối quan hệ chính - phụ. Ví dụ
nhƣ 灰白 (xám trắng) là trong màu xám mang một chút sắc trắng, hay 紫红 (đỏ
18
tía) tức mà trong màu đỏ pha lẫn một chút tía. Thứ hai là từ chỉ màu sắc đa
âm tiết đƣợc hình thành do hai từ ngữ chỉ màu sắc đơn âm tiết cùng một phạm
trù màu sắc với nhau tạo nên: 赤红 (đỏ), 朱红 (đỏ son), 绯红 (đỏ ửng), 绛红 (đỏ
thẫm)… Và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc này đa số thể hiện ở hình vị sau.
Phƣơng thức ví von là hình vị trƣớc trong từ chỉ màu sắc mang ý vị ví
von, biểu thị ý nghĩa giống nhƣ cái gì đó. Trong phƣơng thức ví von này ta
có thể chia làm hai loại. Ở loại thứ nhất ta có thể thêm chữ 色 (màu) vào sau
hình vị gọi tên vật thể nhƣ: 米色 (màu kem), 驼色 (màu lạc đà), 茶色 (màu
nƣớc chè), 桃红色 (màu hoa đào), 内色 (màu da ngƣời), 咖啡色 (màu cà
phê), 玫瑰色 (màu hoa hồng),… Những từ chỉ màu sắc đa âm tiết này mang
tính hình tƣợng giúp ngƣời nghe hình dung ra tính chất đặc trƣng của vật thể
ví dụ nhƣ: 古铜色的皮肤 (da dẻ màu đồng cổ), màu đồng cổ đây ngoài ngữ
nghĩa màu be, còn khiến ngƣời ta nghĩ đến tính bóng láng của màu đồng cổ.
Loại thứ hai là kiểu do hình vị gọi tên vật thể đƣợc thêm vào từ chỉ màu sắc
đơn âm tiết mà thành. Phạm vi màu sắc của hình vị danh từ đằng trƣớc
tƣơng đối hẹp, phạm vi màu sắc của từ chỉ màu sắc đơn âm tiết đằng sau
rộng hơn.Ví dụ nhƣ: a. 米色(màu kem), 杏黄(vàng mơ), 桔黄 (màu da cam),
桃红 (hoa đào), 银色 (trắng bạc), 玫瑰红 (màu hoa hồng), 孔雀蓝(màu
xanh công lông), 月白(trắng xanh),… b. 雪白(trắng tuyết), 乌黑 (đen nhƣ
cốc), 漆黑 (đen nhƣ mực), 铁青 (xanh thẫm), 火红 (đỏ gay), 血红 (đỏ lòm),
蜡黄 (vàng bệch),…
Trong đó loại a chủ yếu biểu thị bản thân màu sắc, đằng sau có thêm
vào chữ 色(màu), ví dụ: 米黄色 (màu kem), 杏黄色(vàng mơ), 桔黄 (màu da
cam), 桃红色(màu hoa đào), nhƣng từ chỉ màu sắc phƣơng thức-ví von đa âm