ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HẠNH
TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG CA DAO
VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HẠNH
TỪ NGỮ CHỈ THỜI GIAN TRONG CA DAO
VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA
Chuyên ngành : Ngôn ngữ Việt Nam
Mã ngành
: 60.22.01.02
hoàn thành tốt luận văn này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các phòng ban chức
năng, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
tốt nghiệp.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và các bạn
học viên lớp Cao học ngôn ngữ K21 đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt
thời gian vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 04 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Hạnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ii
http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ...........................................................................................................iii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................... iv
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .............................................................................. 7
1.1. Khái niệm thời gian .................................................................................... 7
1.1.1. Các quan niệm về thời gian ..................................................................... 7
TRONG CA DAO VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA .................................................. 64
3.1. Thời gian liên quan đến cảnh quan tự nhiên trong ca dao về tình yêu
đôi lứa .............................................................................................................. 65
3.1.1. Thời gian xác định................................................................................. 65
3.1.2. Thời gian không xác định ..................................................................... 66
3.2. Thời gian hiện tại hay thời gian diễn xướng ............................................ 68
3.3. Thời gian tâm lý ....................................................................................... 73
3.3.1. Thời gian gợi liên tưởng đến giai đoạn tỏ tình ..................................... 73
3.3.2. Thời gian gợi liên tưởng đến giai đoạn tình yêu ................................... 77
3.3.3. Thời gian gợi liên tưởng đến những lời thề nguyền ............................. 79
3.3.4. Thời gian gợi liên tưởng đến sự hận tình ............................................. 83
3.4. Tiểu kết ..................................................................................................... 87
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 90
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iv
http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Bảng thống kê các danh từ chỉ thời gian tiêu biểu trong Ca dao về
tình yêu đôi lứa ................................................................................................... 26
Bảng 2.2. Bảng thống kê từ ngữ chỉ thời gian trong Ca dao về tình yêu đôi lứa ..... 27
Bảng 2.3. Bảng cấu trúc so sánh trong Ca dao về tình yêu đôi lứa .................... 56
iv
động. Trong đó, ca dao về tình yêu đôi lứa được coi là một tiểu loại chiếm vị trí
1
quan trọng trong kho tàng ca dao của dân tộc. Tìm hiểu và nghiên cứu ca dao về
tình yêu đôi lứa, ta sẽ thấy cách thể hiện độc đáo và sâu sắc của tác giả dân gian
về đời sống tâm hồn con người Việt Nam qua bao thế hệ. Nghiên cứu ca dao về
tình yêu đôi lứa theo hướng tiếp cận thi pháp, chúng ta có thể tìm hiểu được các
phương diện đề tài, cảm hứng sáng tác, nhân vật trữ tình, không gian- thời gian
nghệ thuật, hình thức diễn xướng. Trong đó, thời gian nghệ thuật là yếu tố quan
trọng trong việc thể hiện nội dung và ý đồ nghệ thuật của tác phẩm. Thời gian
được diễn tả trong ca dao về tình yêu đôi lứa là thời gian nghệ thuật. Mỗi thể
loại văn học đều mang nét đặc thù riêng về thời gian nghệ thuật. Nếu như trong
sử thi là thời gian “khuyết sử”, mang đậm chất thần thoại; thời gian trong cổ
tích là thời gian của quá khứ không xác định, mang tính hoang đường thì thời
gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, có nghĩa là "thời gian của tác
giả và thời gian của người đọc (người thưởng thức) hòa lẫn với thời gian của
người diễn xướng”.
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lớp từ ngữ
chỉ thời gian trong ca dao nói chung, trong ca dao về tình yêu đôi lứa nói riêng.
Trong tình hình như vậy, chúng tôi chọn đề tài “Từ ngữ chỉ thời gian trong
ca dao về tình yêu đôi lứa” để nhằm làm rõ vai trò của lớp từ ngữ này trong ca
dao, góp phần làm rõ thêm một cái nhìn, một cách tiếp cận về phong cách sáng
tác của các tác giả dân gian.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu về ca dao
Những công trình nghiên cứu về ca dao trong mấy thập kỷ qua là vô cùng
phong phú và đa dạng với số lượng ngày càng tăng. Tuy nhiên, các công trình
có tính chất sưu tầm vẫn chiếm đa số. Có thể kể ra một số công trình nghiên
ngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa.
2.2. Sơ lược về nghiên cứu Từ ngữ chỉ thời gian trong ca dao
Thời gian nghệ thuật là một yếu tố thi pháp được một số nhà nghiên cứu
quan tâm. D.X.Likhachop trong cuốn Thi pháp văn học Nga cổ đã nói: “Thời
gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu tả, là sự ý thức và cảm giác về sự
vận động và đổi thay của thế giới trong các hình thức đa dạng của thời gian
xuyên suốt tác phẩm văn học”. Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa “Thời
gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính
chỉnh thể của nó” [4]. Trong Giáo trình Dẫn luận thi pháp học, giáo sư Trần
3
Đình Sử cho rằng “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể thể nghiệm
được trong tác phẩm với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều
thời gian là hiện tai, quá khứ hay tương lai” [43]. Thời gian nghệ thuật là sản
phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nó gợi lên trong trí tưởng tượng của chúng ta qua
các tín hiệu ngôn từ và mang tính vận động rõ nét. Để tạo nên thời gian nghệ
thuật cho mỗi tác phẩm luôn có những lớp từ ngữ mang nét đặc trưng riêng. Đã
có việc khảo sát, nghiên cứu các từ ngữ chỉ thời gian nghệ thuật trong tác phẩm
của một vài tác giả.
Về cách diễn đạt thời gian, trong bài Về một phương diện trong ca dao,
Trần Thị An đã đưa ra nhận xét rằng trong ca dao tình yêu, thời gian cá nhân
riêng biệt, thời gian khách quan, thời gian xã hội bị nhạt nhòa. Do đó, trong
việc miêu tả thời gian, người bình dân thường sử dụng những cách nói ước lệ,
công thức.
Tác giả Lý Thơ Phúc trong bài viết Không gian và thời gian nghệ thuật
trong ca dao tình yêu đôi lứa ở Phú Yên đã trình bày những đặc trưng cơ bản
của không gian và thời gian trong các bài ca dao về tình yêu đôi lứa, làm nổi bật
các kiểu thời gian và không gian được sử dụng, những phương tiện nghệ thuật
dao về tình yêu đôi lứa, chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong cách tổ chức ngôn
từ của tác giả dân gian khi biểu hiện thời gian nghệ thuật.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được sử dụng để thống kê và phân loại các đơn vị từ
ngữ chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa ở phạm vi nguồn tư liệu
khảo sát đã xác định.
5.2. Phương pháp miêu tả
Được sử dụng để miêu tả các đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của từ ngữ
chỉ thời gian trong ca dao về tình yêu đôi lứa, từ đó rút ra các kết luận về đối
tượng nghiên cứu.
5.3. Phương pháp phân tích
Được sử dụng để phân tích nội dung các bài ca dao về tình yêu đôi lứa có
sử dụng từ ngữ chỉ thời gian từ đó làm rõ vai trò của lớp từ ngữ này trong việc
biểu hiện các chủ đề trong ca dao về tình yêu đôi lứa.
5
6. Đóng góp của Luận văn:
Luận văn đưa ra cách tiếp cận mới trên cơ sở vận dụng kiến thức ngôn ngữ
học vào việc nghiên cứu ca dao về tình yêu đôi lứa. Cung cấp các cứ liệu về đặc
điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa cũng như giá trị của lớp từ ngữ chỉ thời gian
trong ca dao về tình yêu đôi lứa. Từ những kết quả khảo sát của đề tài, luận văn
đóng góp thêm một cách tiếp cận về ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học, giúp cho
việc phân tích và giảng dạy các tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường
phổ thông có cơ sở và có sức thuyết phục hơn..
7. Bố cục Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
niệm hoàn toàn độc lập với nhau.
Nhìn nhận thời gian trong ngôn ngữ xét ở góc độ mối quan hệ ngôn ngữ văn hóa - tư duy, Eichinger phát biểu: “Các cách thức nói về không gian và thời
gian trong một ngôn ngữ được hiểu như là những sự trừu tượng hóa có tính
chức năng và được tiến hành theo quy tắc các kinh nghiệm trong cuộc sống của
7
các cộng đồng văn hóa nói ngôn ngữ đó” [47, tr. 51]. Không gian và thời gian
là những yếu tố định vị bắt buộc của mọi hành động, sự kiện diễn ra trong hiện
thực khách quan. Mỗi một dân tộc cảm nhận và thể hiện không gian và thời
gian vào trong ngôn ngữ của mình theo những cách thức riêng biệt. Theo
Wendorff: “thời gian ở những nền văn hóa khác nhau thì được cảm nhận và
đánh giá khác nhau” [46].
Nhà toán học Hermann Minkowski lại cho rằng thời gian không tồn tại độc
lập mà phụ thuộc vào không gian tạo thành một thể thống nhất và là chiều thứ
tư của không gian. Quan điểm này có liên quan tới thuyết tương đối của
Einstein trong vật lý hiện đại. Eintein cho rằng, không gian cùng với thời gian
thông qua tốc độ của ánh sáng tạo thành một thể thống nhất gọi là không gian
bốn chiều.
Theo quan điểm của khoa học tự nhiên (vật lý học) thời gian là một khái
niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của
chúng. Thời gian được xác định bằng số lượng các chuyển động của các đối
tượng có tính lặp lại (sự lượng hoá các chuyển động lặp lại) và thường có một
thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó.
Theo cuốn Hán Việt – giản yếu từ điển (Đào Duy Anh biên soạn): “Thời gian
chỉ ba trạng thái quá khứ, hiện tại và vị lai lưu chuyển với nhau vô cùng” [ 2 ].
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa: “Thời gian là hình
thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian), trong đó vật chất vận
động và phát triển liên tục, không ngừng” [39].
Trong giáo trình Dẫn luận thi pháp học, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho
rằng: “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể thể nghiệm được trong
tác phẩm với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là
hiện tai, quá khứ hay tương lai” [43]. Trên thực tế không có hình tượng nghệ
thuật nào không tồn tại trong thời gian và bản thân người kể chuyện hay nhà thơ
trữ tình cũng nhìn sự vật bằng một điểm nhìn nhất định trong thời gian. Khác
với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có
thể đảo ngược quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn
9
nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành
vô tận.
Như vậy, có thể thấy rằng thời gian nghệ thuật là một dạng tồn tại đặc biệt,
có quan hệ mật thiết với thời gian vật lý. Nếu như thời gian vật lý tồn tại một
cách khách quan bên ngoài ý thức của con người thì thời gian nghệ thuật lại
mang đậm dấu ấn chủ quan của chủ thể sáng tạo. Đó là thời gian tinh thần của
con người, là thời gian sống mà con người cảm nhận. Hay nói cách khác, thời
gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nó gợi lên trong trí tưởng
tượng của chúng ta qua các tín hiệu ngôn từ và mang tính vận động rõ nét.
Ví dụ:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà...
Thời gian trong bài ca dao Hôm qua tát nước đầu đình đều là thời gian
mang tính chất phiếm chỉ: hôm qua, đã lâu, mai, đến lúc lấy chồng mà tác giả
dân gian sử dụng làm phương tiện để giãi bày, thể hiện tình cảm của mình một
cách ý nhị, sâu sa, nhưng cũng vô cùng thông minh, dí dỏm. Để có dịp thổ lộ
cổ tích, có thời gian nghệ thuật xây dựng trên dòng tâm tưởng và ý thức như
tiểu thuyết, có tác phẩm dừng lại chủ yếu trong quá khứ, khép kín trong tương
lai, có thời gian nghệ thuật trôi trong các diễn biến sinh hoạt, có thời gian nghệ
thuật gắn với các vận động của thời đại, lịch sử, lại có thời gian nghệ thuật có
tính vĩnh viễn, đứng ngoài thời gian như thần thoại.
Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong
từng thời kỳ lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thể hiện sự cảm thụ độc
đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Trong thế
giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu có tính
tiêu đề được giấu kín để miêu tả đời sống trong tác phẩm cho thấy đặc điểm tư
duy của tác giả. Tác giả có thể chọn điểm bắt đầu và kết thúc, có thể kể nhanh
hay chậm, có thể kể xuôi hay đảo ngược, có thể chọn điểm nhìn từ quá khứ,
11
hiện tại, tương lai, có thể chọn độ dài một khoảnh khắc hay nhiều thế hệ, nhiều
cuộc đời. Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo của nghệ thuật.
Tóm lại, thời gian nghệ thuật là mô hình thời gian của thế giới nghệ thuật.
Thời gian nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với không gian nghệ thuật và
chính mối quan hệ đó đã đem lại cho người thưởng thức nghệ thuật sức liên
tưởng mạnh mẽ. Thời gian nghệ thuật không chỉ mang tính chủ quan mà còn
mang tính tượng trưng, quan niệm. Nghĩa là chủ thể sáng tạo luôn tạo ra thời
gian nghệ thuật để thể hiện một quan niệm nhất định của mình về thế giới và
cuộc sống con người. Không những vậy, thời gian nghệ thuật còn mang một cấu
trúc đặc biệt, nó gắn liền với điểm nhìn của con người trong tác phẩm văn học.
1.2. Sơ lược về từ và ngữ
1.2.1. Về khái niệm từ, ngữ
a. Theo cuốn Từ vựng, ngữ nghĩa, tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu: “Từ của
tiếng Việt là một hoặc một số ấm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm
một riêng rẽ. Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý
nghĩa của từ.
Từ phức bao gồm hai tiểu loại: từ láy và từ ghép. Từ láy là những từ được
cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận
hình thức âm tiết của một hình vị hay đơn vị có nghĩa. Từ ghép được sản sinh
do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ,
độc lập đối với nhau.
b. Ngữ cố định là các cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa của cụm từ,
cấu tạo là cấu tạo của cụm từ) nhưng đã cố định hóa cho nên cũng có tính chất
chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính chất xã hội như từ. Tính thành ngữ có những
mức độ từ thấp đến cao.
Ví dụ: ngữ cố định: Chờ hết nước hết cái khác với nghĩa của các cặp từ
ghép biệt lập hay ghép phân nghĩa. Động từ chờ vẫn giữ nguyên tính chất nghĩa
của nó. Cụm từ hết nước hết cái được hiểu là sự chờ đợi đã kéo dài khá lâu vượt
mức nhẫn nại của người phải chờ, khiến cho người đó phải sốt ruột, bực dọc.
13
Do sự cố định hóa và tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có
tính thành ngữ. Cuốn Từ vựng, ngữ nghĩa Tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu định
nghĩa tính thành ngữ như sau: Cho một tổ hợp có nghĩa S do các đơn vị A, B,
C… mang ý nghĩa lần lượt s[1], s[2], s[3]… tạo nên, nếu như nghĩa S không thể
giải thích bằng các ý nghĩa s[1], s[2], s[3] thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ.
Ví dụ: Hết nước hết cái là tổ hợp có tính thành ngữ vì ý nghĩa “quá dài, quá
mức chịu đựng, bực dọc, sốt ruột” của nó không thể giải thích được bằng các
nghĩa của hết nước, hết cái…
Ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa, tuy nhiên có nhiều ngữ cố định có
hình thức cấu tạo là các câu như: Chuột chạy cùng sào, Chim sa cá lặn, Chó
ngáp phải ruồi; có cấu tạo là câu ghép như: Gió chiều nào che chiều ấy, Ăn cơm
Ngoài ra, các danh từ có ý nghĩa thời gian này có thể kết hợp với nhau tạo
thành những tổ hợp từ có ý nghĩa khái quát như: ngày ngày, ngày đêm, hôm
sớm, sáng khuya, trước nay, nay mai, mai sau,… Các danh từ, danh ngữ dùng
làm chỉ tố định vị thời gian này có thể phân loại như sau:
* Các từ ngữ chỉ thời điểm, tức là những từ ngữ dùng để định vị thời gian
như: nay, mai, trước, sau, sáng, trưa, chiều, tối, chiều chiều, đêm đêm,… Các
từ ngữ chỉ thời điểm lại có thể chia ra làm ba loại nhỏ:
- Từ ngữ chỉ thời điểm có tính chất định vị thời gian khái quát, bao gồm:
mai, sau, hiện, giờ, trước, sáng, trưa, chiều, tối, v.v…
- Từ ngữ chỉ thời điểm có tính chất định vị thời gian phỏng định, bao gồm:
sáng sáng, trưa trưa, chiều chiều, tối tối (các từ này có nghĩa là gần sáng, gần
trưa, gần chiều, gần tối một chút).
- Từ ngữ chỉ thời điểm có tính chất định vị thời gian lặp lại, bao gồm: sáng
sáng (với nghĩa là sáng nào cũng), trưa trưa (với nghĩa là trưa nào cũng), chiều
chiều (với nghĩa là chiều nào cũng), tối tối (với nghĩa là tối nào cũng), đêm đêm
15
(với nghĩa là đêm nào cũng), ngày ngày (với nghĩa là ngày nào cũng), tháng
tháng (với nghĩa là tháng nào cũng).
Ví dụ:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
(Quang Dũng)
Đây là những từ có khả năng định hướng thời gian mang tính khái quát, là
những chỉ tố thời gian chỉ sự tình trong câu xảy ra kéo dài từ thời gian quá khứ đến
hiện tại và thậm chí kéo dài đến tương lai, ví dụ như chỉ tố thời gian chiều chiều,
đêm đêm trong ví dụ trên.
* Các từ ngữ chỉ thời đoạn, tức là những từ ngữ dùng để định lượng thời