Từ ngữ chỉ chức sắc trong cộng đồng tộc người Mạ - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ

NIÊN LUẬN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

Đề tài:

TỪ NGỮ CHỈ CHỨC SẮC TRONG TỔ CHỨC
CỘNG ĐỒNG TỘC NGƯỜI MẠ

CBHD: PGS.TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC
SVTH: MAI THANH THIÊN TRANG
LỚP: NGÔN NGỮ K12
MSSV: 1256010181

TP.HCM, ngày 18 tháng 06 năm 2015


MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................1
PHẦN 1: DẪN NHẬP ..............................................................................................3
1.

Lí do chọn đề tài .........................................................................................3

2.

Lịch sử vấn đề ............................................................................................4


1.3.

Khái niệm về từ .....................................................................................10

1.4.

Khái niệm về ngữ ..................................................................................10

1.5.

Giới thiệu sơ lược về tộc người và ngôn ngữ Mạ tại địa bàn khảo sát .11

1.5.1.

Về tên gọi tộc người và ngôn ngữ ..................................................11

1.5.2.

Một số đặc điểm văn hóa – xã hội của người Mạ...........................13

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CHỈ CÁC CHỨC SẮC TRONG TỔ
CHỨC CỘNG ĐỒNG TỘC NGƯỜI MẠ .......................................................16

1


2.1. Đặc điểm cấu tạo của từ chỉ chức sắc trong tổ chức cộng đồng người Mạ.
..........................................................................................................................16
2.1.1. Từ thuần Mạ .......................................................................................16

anh em chung sống trên lãnh thổ Việt Nam đều có một bản sắc văn hóa riêng, tiếng
nói riêng của mình. Bên cạnh quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản
sắc dân tộc thì chúng ta cũng cần phải đẩy mạnh việc giữ gìn, phát huy bản sắc riêng
của mỗi dân tộc để đảm bảo một nền văn hóa đa dạng, đầy màu sắc của Việt Nam,
song song đó, việc tìm hiểu, giữ gìn ngôn ngữ của mỗi dân tộc cũng được xem là
bước đi quan trọng trong việc tìm hiểu, bảo tồn cội nguồn, văn hóa, phong tục và tri
thức của các dân tộc tại Việt Nam.
Hiểu rõ vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đang rất quan tâm đến vấn đề giữ gìn,
phát huy tiếng nói của 54 dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó có tiếng Mạ tại
địa bàn tỉnh Đak Nông. Hiện nay, tiếng Mạ đã được đưa vào giảng dạy cho các cán
bộ, công chức sinh sống và làm việc tại địa bàn có dân tộc Mạ sinh sống, nhằm nâng
cao năng lực song ngữ Mạ - Việt cho những người ở đây.
Việc nghiên cứu, tìm hiểu từ ngữ chỉ chức sắc trong tiếng Mạ là việc làm cần
thiết, góp phần giữ gìn ngôn ngữ dân tộc và phát huy bản sắc văn hóa của tộc người
Mạ. Đồng thời, việc nghiên cứu này còn giúp ta hiểu một cách sâu sắc, đầy đủ hơn
về một nét văn hóa lâu đời của đồng bào người Mạ và cũng góp phần làm phong phú
thêm về mặt tư liệu văn hóa của dân tộc này.
Với những lí do đó, người viết đã chọn vấn đề về Từ ngữ chỉ chức sắc trong tổ
chức cộng đồng tộc người Mạ để làm đề tài nghiên cứu cho mình. Mặt khác, việc
nghiên cứu từ ngữ chỉ chức sắc trong tổ chức cộng đồng tộc người Mạ còn với một

3


mục đích khác là giúp cho các dân tộc khác hiểu thêm được văn hóa của dân tộc Mạ
qua hệ thống từ ngữ chỉ chức sắc của họ.
Việc nghiên cứu từ ngữ chỉ chức sắc trong tiếng Mạ không chỉ có ý nghĩa khoa
học thực tiễn mà còn góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh giáo dục, thực hiện
chủ trương của Đảng và Chính phủ trong việc dạy và học tiếng Mạ cho người dân,
công chức sinh sống và làm việc tại đây.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Nghiên cứu về từ chỉ chức sắc trong tiếng Mạ
- Đưa ra bảng hệ thống từ ngữ chỉ chức sắc trong tiếng Mạ một cách đầy đủ và
hệ thống.
- Thông qua việc nghiên cứu từ chỉ chức sắc trong tiếng Mạ giúp ta hiểu rõ hơn
về văn hóa của tộc người Mạ qua vốn từ.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được những mục đích trên, niên luận có các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận: về một số khái niệm ngôn ngữ học, đặc điểm của tiếng
Mạ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa,…
- Miêu tả đặc điểm cấu trúc trong những từ, ngữ chỉ chức sắc trong tiếng Mạ,
đồng thời miêu tả văn hóa của các từ chỉ chức sắc trong tiếng Mạ.
4. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: từ chỉ chức sắc trong tiếng Mạ tại tỉnh Đăk Nông
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu giới hạn trong cộng đồng tộc người
Mạ tại địa bàn bon B’Srê B, xã Đăk Som, huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông.
5. Tư liệu và phương pháp
5.1. Tư liệu
- Nguồn tư liệu thành văn:
Hỏi đáp về 54 dân tộc Việt Nam (2014), Người Mạ ở Việt Nam – The Mạ in Việt
Nam (2014)…và một số công trình có liên quan khác của những người đi trước.
- Nguồn tư liệu điền dã:

5


 Thu thập tư liệu từ thực tiễn cuộc sống, qua đợt điền dã tại địa bàn
nghiên cứu.
 Các tài liệu truyền miệng do những người gốc Mạ sinh sống tại địa bàn

03/2004/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 2004, nhằm đưa việc học tiếng dân tộc thiểu
số trở thành nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức hay Chỉ thị 38/2004/CT-TTg về
việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức
công tác ở vùng có người dân tộc sinh sống, miền núi.
7. Kết cấu niên luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
của niên luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề nhận thức
1.1.

Khái quát về “chức sắc” phi nhà nước

1.2.

Quan niệm về “chức sắc” của cộng đồng tộc người Mạ

1.3.

Khái niệm về từ

1.4.

Khái niệm về ngữ

1.5.

Giới thiệu sơ lược về tộc người và ngôn ngữ Mạ tại địa bàn khảo sát

1.5.1. Về tên gọi tộc người và ngôn ngữ
1.5.2. Một số đặc điểm văn hóa – xã hội của người Mạ

1.1.

Khái quát về “chức sắc” phi nhà nước

Trước khi tìm hiểu về “chức sắc” phi nhà nước là gì thì chúng ta cần làm quen
với những khái niệm cơ bản sau:
-

“Chức sắc”: theo cố Giáo sư Hoàng Phê định nghĩa, chức sắc là (1)

người có chức vị và phẩm hàm ở nông thôn thời trước, (2) người có chức vị trong
một số tôn giáo, (3) quyền chức và địa vị. (4, Tr.259).
-

Phi nhà nước là một khái niệm được hiểu là những gì nằm ngoài nhà

nước.
Vậy, “chức sắc” phi nhà nước có thể hiểu là những chức vị nằm ngoài nhà nước,
không do nhà nước điều hành và quản lý.
1.2.

Quan niệm về “chức sắc” của cộng đồng tộc người Mạ.

Theo quan niệm của cộng đồng tộc người Mạ, “chức sắc” là khái niệm dùng để
chỉ những người có chức vị cao, đứng đầu một bon hay thôn.
Chức sắc trong tổ chức cộng đồng tộc người Mạ là những vị chức sắc phi nhà
nước, không nằm trong bộ máy quản lý và điều hành của nhà nước, các vị chức sắc
này được bầu chọn là dựa vào sự tin tưởng của người dân, họ là những người có uy
tín, kinh nghiệm sống dồi dào, nắm rõ những luật tục trong làng, có tài ăn nói và có
khả năng giải quyết được những chuyện liên quan đến đời sống của người dân (giải

- Chúng có thể tái hiện trong lời nói như từ
- Về mặt ngữ pháp, chúng có thể làm thành phần câu, cũng có thể làm cơ sở để
cấu tạo các từ mới.
- Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng là những đơn vị định danh, biểu thị những hiện
tượng của thực tại khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con
người.” [8, tr.71-72]

10


Ngữ mà ta hay nói tới là ngữ cố định, nó bao gồm tập hơp của những từ đơn có
kết cấu chặt chẽ, bất biến, có nghĩa hoàn chỉnh để gọi tên sự vật, hiện tượng, biểu
thị khái niệm.
Ngoài ra, còn có ngữ tự do, nghĩa của nó là do các từ vựng độc lập tạo thành,
ngữ này có khả năng sản sinh ra từ mới một cách linh hoạt.
1.5.

Giới thiệu sơ lược về tộc người và ngôn ngữ Mạ tại địa bàn khảo sát

1.5.1. Về tên gọi tộc người và ngôn ngữ
- Tên gọi tộc người
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc. Các tiêu chí để xác định thành phần dân
tộc dựa trên: cộng đồng về mặt ngôn ngữ, đặc điểm chung về sinh hoạt – văn hóa, ý
thức tự giác tộc người. Theo đó, người Mạ được định danh là một tộc người riêng
biệt trong 54 dân tộc của Việt Nam.
Tộc người Mạ thuộc loại hình nhân chủng Anhđônêdiên, có chiều cao trung bình
khoảng 1,57m đến 1,6m đối với nam và 1,5m đến 1,56m đối với nữ, cũng có những
trường hợp người Mạ cao tới 1.7m. Thân hình vạm vỡ, cân đối. Da ngăm đen, mặt
rộng, gò má hơi dô, mũi bè, môi dày, mặt nâu sẫm hoặc đen. Tóc cứng.
Về tên gọi: đã có không ít những nhà nghiên cứu quan tâm đến tộc danh “Mạ”,

càng nhiều, diễn ra hiện tượng giao tiếp ngôn ngữ. Do đó, ngoài ngôn ngữ chính của
mình, đa số người Mạ còn biết thêm tiếng phổ thông và sử dụng chữ quốc ngữ một
cách thuần thục, nhất là đối với giới trẻ.
- Dân số và địa bàn cư trú.
Người Mạ là một trong những cư dân bản địa sống lâu đời ở khu vực Tây Nguyên.
Họ tập trung chủ yếu tại tỉnh Lâm Đồng, Đak Nông, Đồng Nai.
12


Theo báo cáo điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 của Ban chỉ đạo Tổng điều tra
Dân số và Nhà ở, dân số Mạ ở Việt Nam hiện thời có 41.405 người, trong đó nữ là
21.316 người và nam là 20.087 người. Theo sự phân bố về khu vực sinh sống, người
Mạ cư trú tại 34/63 tỉnh, thành phố. Tại tỉnh Lâm Đồng có 31.869 người, chiếm 77%
tổng người Mạ tại Việt Nam; tỉnh Đak Nông có 6.456 người; Đồng Nai là 2.436
người; tại Bình Phước chiếm 432 người; cuối cùng là thành phố Hồ Chí Minh với
72 người.
Người Mạ có những nhóm địa phương sau:
- Mạ Ngăn: được quan niệm là người Mạ chính dòng, cư trú chủ yếu ở lưu vực
sông Đa Đơng và phía tây, phía bắc thị xã Bảo Lộc.
- Mạ Xốp: là người Mạ cư trú ở vùng đất xốp (xốp có nghĩa là đất phiến), nay
thuộc huyện Bảo Lộc.
- Mạ Tô: ở thượng lưu sông La Ngà, nằm trên cao nguyên Bảo Lộc, có nhiều
quan hệ với người Cơ Ho.
- Mạ Krung: là người Mạ cư trú ở miền bình nguyên, tính từ phía Tây – Nam
Bảo Lộc đến huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
1.5.2. Một số đặc điểm văn hóa – xã hội của người Mạ.
- Đơn vị cư trú của người Mạ là bon, tương đương với “làng, buôn, bảng” của
những dân tộc khác. Phạm vị một bon của người Mạ là rất rộng, bao gồm khu vực
để ở, khu vực để làm rẫy, khu vực rừng tái sinh, khu vực dành để làm nghĩa địa,…
Đứng đầu bon là già làng. Già làng là hiện thân cho truyền thống và là yếu tố tinh

- Kho tàng văn học dân gian: gồm nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại
độc đáo, những bài dân ca trữ tình được gọi là tam bớt. Nhạc cụ có bộ chiêng, đồng,
trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô.

14


- Trang phục: Tóc dài búi sau gáy, nam ở trần đống khố, nữ mặc váy. Nam nữ
thường thích mang vòng đồng hồ ở cổ tay có những ngấn khắc chìm, đó là những ký
hiệu các lễ hiến sinh tế thần cầu mát cho chủ nhân của nó. Nam nữ đều đeo hạt cườm
trên cổ, và đeo hoa tai cỡ lớn bằng đồng, ngà voi, gỗ. Phụ nữ còn mang vòng chân
đồng nhiều vòng xoắn. Tuy nhiên, ngày nay rất ít thấy những hình ảnh này, chỉ có
trong ngày lễ, hội, những ngày quan trọng thì người Mạ mới ăn mặc như vậy.
- Học: Người Mạ không có chữ viết, nền văn hóa dân gian của người Mạ là do
truyền miệng mà tồn tại đến ngày nay. Hiện nay, ngoài tiếng nói của mình, người
Mạ còn học thêm tiếng phổ thông, biết viết và nói thuần thục tiếng phổ thông.
- Tôn giáo - tín ngưỡng: chủ yếu là đạo Tin lành, ngoài ra còn có đạo Thiên
Chúa.
- Lễ hội chính và quan trọng tại địa phương:
 Lễ hội đâm trâu vào tháng 8 và 10 hàng năm
 Lễ hội thu mùa vào tháng 11 và 12 hàng năm
- Lịch: người Mạ theo âm lịch

15


CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CHỈ CÁC CHỨC SẮC
TRONG TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG TỘC NGƯỜI MẠ
Từ chỉ chức sắc là những từ chỉ về chức vị do một người đảm nhận. Đây là những
danh từ chung, có thể là từ đơn tiết, chẳng hạn như Pap (Linh mục). Tuy nhiên, lớp

- Từ ghép:
Ghép là phương thức cấu tạo từ được bắt gặp rất nhiều trong hệ thống từ vựng
tiếng Mạ, trong đó có hệ thống từ chỉ về chức sắc. Từ ghép trong tiếng Mạ khi chỉ
về chức sắc phần nhiều là từ ghép chính phụ. Từ ghép chính phụ là loại từ ghép được
cấu tạo theo nguyên tắc yếu tố chính (C) chỉ sự vật, hoạt động khái quát đứng trước,
yếu tố phụ (P) làm chức năng bổ ngữ đứng sau, kiểu như:
Cara bon (già + bon/làng) = già làng
Utbô bon (trưởng + bon/làng) = trưởng bon
Sau đây là sơ đồ miêu tả về mối quan hệ giữa các thành tố
Cara bon

Utbô bon

Trong ví dụ trên, Cara (già) là yếu tố chính, bon (bon/làng) là yếu tố phụ
đứng sau, bổ ngữ cho yếu tố chính đứng trước nó, tạo thành nghĩa: già làng (cara
bon), tương tự như ví dụ Utbô bon (trưởng (C) + bon (P) = trưởng bon).
Dưới đây là hệ thống từ thuần Mạ chỉ chức sắc được cấu tạo theo phương thức
ghép mà chúng tôi khảo sát được trong cộng đồng tộc người Mạ.
Cara bon

Già + bon/làng

Già làng

Utbô bon

Trưởng + bon/làng

Trưởng bon


trong xã hội vô cùng giản đơn, nên các từ chỉ chức sắc, sự phân biệt địa vị xã hội
như người Kinh dường như không hình thành, bởi ngôn ngữ chính là phản ánh nhận
thức khách quan và thế giới khách quan của một tộc người.
2.1.2 Từ vay mượn
Qua quá trình tiếp xúc văn hóa, chính trị (chủ yếu là tiếp xúc với tiếng Việt),
người Mạ có nhu cầu định danh các chức sắc mới trong cộng đồng của mình, từ đó,
quá trình vay mượn ngôn ngữ diễn ra. Quá trình này được biểu hiện trên hai bình
diện sau đây.
- Mượn cách viết lẫn phiên âm với ngôn ngữ tiếp xúc:
Tiếng Mạ

Tiếng Kinh

Bí thư Đảng ủy

Bí thư Đảng ủy

Phó Bí thư Đảng ủy

Phó Bí thư Đảng ủy

Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân

Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân

Chủ tịch Ủy ban nhân dân

Chủ tịch Ủy ban nhân dân

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

18


Những từ này đều được người Mạ đọc và viết như tiếng Việt.
- Mượn một số yếu tố của ngôn ngữ tiếp xúc kết hợp với một số yếu tố của
từ bản địa.
Utbô công an

Trưởng + công an

Trưởng công an

Canara văn phòng

Cán bộ + văn phòng

Cán bộ văn phòng

Canara địa chính

Cán bộ + địa chính

Cán bộ địa chính

Canara kế toán

Cán bộ + kế toán

Cán bộ kế toán


2.3. Phân loại về mặt xã hội các chức sắc trong tổ chức cộng đồng tộc người
Mạ
Dựa vào các nguồn tư liệu truyền miệng của những người dân bản địa và
nguồn tư liệu của các cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân xã Đak Som, chúng
tôi phân loại về mặt xã hội các chức sắc trong tổ chức cộng đồng tộc người Mạ như
sau:
TỪ NGỮ CHỈ CHỨC SẮC TRONG TỘC NGƯỜI MẠ

STT

NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU TRONG THÔN/BON
TIẾNG VIỆT

TIẾNG MẠ

1

Già làng

Cara bon/ Chau cara utbô bon

2

Trưởng bon

Utbô bon

3

Phó bon

Pap

8

Mục sư

Chau knoar

9

Nhà sư

Nhà sư
20


10

Ông trùm

Chau lơgung/Chau Utbô

11

Thầy

Phucuru

12



Chủ tịch Ủy ban nhân dân

17

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

18

Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam

19

Chủ tịch Hội nông dân

Chủ tịch Hội nông dân

20

Chủ tịch Hội phụ nữ

Chủ tịch Hội phụ nữ

21

Chủ tịch Hội cựu chiến binh

Chủ tịch Hội cựu chiến binh

26

Cán bộ kế toán

Canara kế toán

27

Cán bộ thư pháp

Canara tư pháp

28

Cán bộ văn hóa

Canara văn hóa

Tuy nhiên, hiện nay tại địa bàn khảo sát (Bon B’Srê B, xã Đak Som, huyện
Đak Glong, tỉnh Đak Nông) đã không còn tồn tại các vị chức sắc: thầy bói, thầy cúng
21


và thầy phù thủy, thay vào đó là hệ thống chức sắc trong bộ máy quản lý của nhà
nước và hệ thống chức sắc trong các tôn giáo, điển hình là đạo Thiên Chúa và đạo
Tin lành.
2.4. Tiểu kết:
Qua phân tích, tìm hiểu về từ ngữ chỉ chức sắc trong tổ chức cộng đồng tộc
người Mạ, ta có thể nhận thấy:
- Từ ngữ chỉ chức sắc trong tiếng Mạ là không nhiều, hầu hết đều là những từ

Thông thường, già làng là những người lớn tuổi, được người dân bầu chọn và
sẽ đảm nhiệm chức vụ cho đến khi qua đời, còn trưởng bon thì sẽ đảm nhiệm chức
vụ từ 5 đến 10 năm, hoặc có những trường hợp trưởng bon vẫn còn nhận được sự tín
nhiệm của người dân, vẫn còn minh mẫn thì người đó có thể thực hiện nhiệm vụ của
mình đến 20 năm.
Hội đồng già làng của người Mạ không tách khỏi cộng đồng, mà họ chính là
đại diện, có quyền và nghĩa vụ gắn liền với cộng đồng.

23


Hiện nay, hội đồng già làng không còn nắm giữ mọi quyền quyết định như
xưa nữa, bởi bây giờ ở các thôn/bon, ngoài già làng thì còn có bộ máy chính quyền
cấp xã. Theo đó, tất cả các việc của làng đều được hai bên bàn bạc và đưa đến thống
nhất chung.
Nhìn chung, ngày nay hội đồng già làng vẫn phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ
của mình trong việc giải quyết những mâu thuẫn trong làng một cách ôn hòa, nhất
là trong việc vận động, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước đến từng nhà một cách thấu tình đạt lý.
Hội đồng già làng như linh hồn sống của cộng đồng, luôn gắn chặt với cộng
đồng và cùng với bộ máy chính quyền địa phương đảm bảo, thúc đẩy an sinh cho
cộng đồng của mình.
Việc giữ gìn từ ngữ chỉ chức sắc trong cộng đồng tộc người Mạ là bước đầu
của việc lưu truyền và phát huy những nét đẹp văn hóa trong tổ chức cộng đồng của
họ.
3.2.

Chức sắc trong tôn giáo

Trong thời gian qua, đối với cộng đồng tộc người Mạ tại bon B’Srê B thì các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status