Đối chiếu các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng anh và tiếng việt - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ PHƯƠNG THẢO

ĐỐI CHIẾU CÁC TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC TRONG

TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. PGS.TS. Hà Quang Năng
2. PGS.TS. Hoàng Tuyết Minh

HÀ NỘI - 2018

i


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép
của ai. Các kết quả khảo sát và miêu tả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Phương Thảo


Việt ............................................................................................................................64
2.3.1. Thống kê các tính từ chỉ màu cơ bản và các tính từ phái sinh từ màu sắc cơ
bản .............................................................................................................................65

iii


2.3.2. Đối chiếu ngữ nghĩa của các tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và
tiếng Việt. ..................................................................................................................69
CHƯƠNG 3 ...................................................................................................................... 93
ĐỐI CHIẾU CÁC THÀNH NGỮ CÓ TỪ CHỈ MÀU SẮC CƠ BẢN TRONG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT ................................................................................... 93
3.1. Khái niệm về thành ngữ .....................................................................................94
3.1.1. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Anh .......................................................94
3.2. Ngữ nghĩa của các thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng
Việt ............................................................................................................................95
3.2.1. Ngữ nghĩa của các thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh ......95
3.2.2. Ngữ nghĩa của các thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt ....115
3.3. Đối chiếu ngữ nghĩa của các thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng
Anh và tiếng Việt ....................................................................................................128
3.3.1. Những điểm tương đồng về ngữ nghĩa của thành ngữ có từ chỉ màu sắc trong
tiếng Anh và tiếng Việt .............................................................................................136
3.3.2. Những điểm khác biệt về ngữ nghĩa của thành ngữ có từ chỉ màu cơ bản
trong tiếng Anh và tiếng Việt ..................................................................................139
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ NỘI DUNG LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ................................................................................................ 163

iv

Bảng 3.2 Các nghĩa biểu trưng xuất hiện trong thành ngữ chứa từ chỉ màu cơ bản
trong tiếng Anh và tiếng Việt ..................................................................................131

v


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Màu sắc là một trong những thuộc tính của vật thể tồn tại trong thế giới xung
quanh chúng ta mà thị giác con người có thể nhận biết được. Màu sắc tồn tại trong
thế giới vật chất nhưng lại gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của con người,
góp phần làm cho cuộc sống trở nên sinh động và tràn đầy sức sống. Những màu
sắc khác nhau với những ý nghĩa khác nhau đã mang lại những sắc màu phong phú
cho cuộc sống.
Các dân tộc trên thế giới cảm nhận màu sắc trong tự nhiên và đánh dấu chúng
bằng một hệ thống chỉ màu sắc riêng. Do sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ, sự
cách biệt về địa lí, sự không đồng nhất về điều kiện sinh hoạt và môi trường, nên
cách thể hiện và diễn đạt các khái niệm ngôn ngữ không như nhau. Từ vựng của
một ngôn ngữ là nơi có thể thể hiện rõ nét nhất bản sắc văn hóa dân tộc. Các thành
tố văn hóa dân tộc đều được thể hiện rõ qua bình diện nội dung của từ. Việc nắm
vững văn hóa của một ngôn ngữ sẽ tạo điều kiện cho việc cảm nhận một cách sắc
sảo và tinh tế các từ mà ngữ nghĩa của chúng thể hiện đặc trưng văn hóa dân tộc.
Dù số lượng từ ngữ chỉ màu sắc trong mỗi ngôn ngữ khác nhau, ngôn ngữ có
thể hạn chế số lượng từ vựng gọi tên cho màu sắc cụ thể đó nhưng cộng đồng
người sử dụng ngôn ngữ đó vẫn nhận ra sự khác biệt về các loại màu sắc. Đặc
trưng văn hóa dân tộc được thể hiện rõ nét trong ý nghĩa biểu trưng của các sắc
màu trong từng nền văn hóa. Ở các quốc gia khác nhau, các nền văn hóa khác
nhau, màu sắc cũng thể hiện các ý nghĩa khác nhau. Mỗi dân tộc với những bức
tranh ý niệm khác nhau sẽ hình thành bức tranh ngôn ngữ thế giới khác nhau và
như thế, từ ngữ về màu sắc sẽ không nằm ngoài qui luật chung đó.

học Việt Nam và từ điển thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra tần số sử dụng
của từng màu sắc cơ bản trong hai ngôn ngữ;
- Miêu tả và phân tích khả năng tạo từ và đặc điểm ngữ nghĩa của từ, ngữ chỉ màu
sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra những điểm giống nhau và khác
nhau về mặt cấu trúc, ngữ nghĩa trong việc liên hệ với văn hóa hai dân tộc;
- So sánh, đối chiếu ý nghĩa của từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
thông qua các thành ngữ có yếu tố từ chỉ màu sắc cơ bản trong mối liên hệ với đặc
trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy.

2


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong
tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu là khả năng tạo từ và đặc điểm ngữ nghĩa của 11 tính
từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và 9 tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng
Việt dựa trên 1065 lượt từ chỉ màu sắc cơ bản được thống kê từ 950 trích đoạn của
8 tác phẩm văn học Anh, 1189 lượt từ chỉ màu sắc cơ bản được thống kê từ 925
trích đoạn của 11 tác phẩm văn học Việt Nam và 295 thành ngữ tiếng Anh, 339
thành ngữ tiếng Việt được thống kê từ 11 cuốn từ điển thành ngữ tiếng Anh và 9
cuốn từ điển thành ngữ tiếng Việt.
- Luận án cũng tập trung nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ có
từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt.
- Trong luận án, tiếng Anh được sử dụng như là ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt
là ngôn ngữ đưa vào đối chiếu, có nghĩa là so sánh đối chiếu một chiều và theo
chiều Anh - Việt.
- Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ ngữ nghĩa học. Các từ

màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học.
Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ lí luận về từ, nghĩa của từ, từ chỉ
màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt, mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ
và tư duy thể hiện trong ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ bản.
Trên cơ sở miêu tả, phân tích và đối chiếu khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của
từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án tìm ra các điểm giống
và khác nhau về khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong hai ngôn ngữ,
đưa ra các nhận xét và rút ra một số đặc trưng văn hóa dân tộc của hai dân tộc Anh
và Việt Nam thể hiện trong các thành ngữ có chứa từ chỉ màu sắc cơ bản.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
Luận án đóng góp những cơ sở lí luận về việc nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc
trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về khả năng
tạo từ và ngữ nghĩa của 11 từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và 9 từ chỉ màu
sắc cơ bản trong tiếng Việt, đồng thời rút ra một số đặc trưng văn hóa dân tộc được
thể hiện qua khả năng tao từ và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng

4


Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ,
công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của giáo viên và học viên, đồng thời
phục vụ cho công tác dịch thuật của các nhà biên, phiên dịch cũng như công tác
biên soạn từ điển Anh- Việt, Việt- Anh.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được
triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

số nhóm minh chứng cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa các cơ chế cảm nhận màu
sắc, các màu cơ bản theo cảm quan và việc đặt tên các màu cơ bản. Tuy nhiên,
những câu hỏi quan trọng vẫn tồn tại liên quan đến các thuộc tính chung của con
người về nhận thức màu sắc và sự phát triển và cấu trúc của các loại màu cơ bản đa
văn hóa. [115]
Nghiên cứu về màu sắc trên phương diện Vật lý học: Trong bài viết Colour
categories are not universal: Replications and new evidence from a stone-age

6


culture, các tác giả Roberson, Davies, and Davidoff (2000) đã tìm cách tái tạo và mở
rộng công trình của Heider (1972) với việc so sánh người Papua, New Guinea, những
người nói tiếng Berinmo mà ngôn ngữ của họ chỉ có 5 thuật ngữ cơ bản chỉ màu.
Việc xác định tên và bộ nhớ cho các kích thích vật lí và phi vật lí với độ bão hòa thấp
đã được khảo sát. Họ đã tìm ra việc các màu đã bão hòa bị ảnh hưởng bởi nhóm từ
vựng màu. Các hiệu ứng nhận thức phân loại đối với cả tiếng Anh và Berinmo đã
được tìm thấy, nhưng chỉ ở ranh giới của các thể loại ngôn ngữ hiện có [141].
Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Văn hóa học: Trong công trình đồ sộ
Dictionnaire des symboles: mythes, rêves, coutumes, gestes, formes, figures,
couleurs, nombres (Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới), với phụ đề “Các huyền
thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số” Chevalier
và Gheerbrant (1997) đã trình bày khá chi tiết về biểu tượng màu sắc của các nước
trên thế giới. Các từ chỉ màu sắc trong cuốn từ điển này đã được các tác giả miêu tả
bao quát được nhiều khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương tiện Dân
tộc học, Xã hội học, Tâm lí học, Thần thoại học, Tôn giáo học. [15].
Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Ngôn ngữ học: từ năm 1969, hai nhà
nghiên cứu Berlin & Kay của Trường đại học California ở Berkerly đã tiến hành
nghiên cứu tổng kết toàn bộ tư liệu, kinh nghiệm về từ ngữ chỉ màu sắc của các dân
tộc khác nhau trên thế giới. Berlin & Kay đã xác lập “phương pháp giai đoạn tiến

chẽ với ngôn ngữ của chúng ta. [123]
Tiếp theo hướng này, tác giả Quinion (1996), trong bài viết The fugitive names
of hues (Những tên gọi nhất thời của màu sắc) đăng trên trang English in the British
viewpoint (Tiếng Anh theo quan điểm của người Anh) đã nghiên cứu từ ngữ chỉ
màu sắc tiếng Anh bằng phương pháp từ nguyên học. Ông đã xác định màu từ màu
xanh da trời (blue) bắt nguồn từ tiếng Pháp, xanh lá cây (green) có cùng gốc với
“grow” và xuất xứ từ tiếng Đức, màu đỏ (red) được vay mượn từ tiếng Hy Lạp, màu
hồng (pink) cùng gốc từ với tiếng Hà Lan,…[140]. Cách nghiên cứu của tác giả đã
mở ra thêm một hướng tiếp cận khác trong tiến trình nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc
trên thế giới nói chung và tiếng Anh nói riêng. Có thể nói, ở một mức độ nhất định,
Berlin & Kay (1969) là những người tiên phong trong việc nghiên cứu các từ chỉ
màu sắc nói chung hay các từ chỉ màu cơ bản nói riêng để sau đó nhiều các công
trình khoa học đã lấy đối tượng nghiên cứu là từ chỉ màu sắc.
Nghiên cứu của hai tác giả Soriano và Valenzuela (2009) trong bài báo Emotion
and colour across languages (Cảm xúc và màu sắc qua các nền văn hóa) đã khám

8


phá ra các lí do tại sao các từ màu sắc và từ biểu đạt cảm xúc thường liên quan đến
các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Một trong số đó là sự chồng chéo giữa thuật
ngữ chỉ màu sắc và thuật ngữ chỉ cảm xúc. Một phương pháp thử nghiệm mới được
sử dụng để khảo sát cấu trúc ẩn dụ của các thuật ngữ chỉ màu cơ bản về phương
diện ngữ nghĩa. Các kết quả cho thấy một bản so sánh với các công trình trước đây,
ngoại trừ giá trị của một số thuật ngữ chỉ màu. Những điểm tương đồng và khác biệt
đã được đưa ra để kiểm tra những ảnh hưởng của ngữ nghĩa đối với từ chỉ màu sắc
và từ chỉ cảm xúc. [145]
Sau giai đoạn này, một số các công trình nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ
học tri nhận hoặc liên ngành ngôn ngữ học tâm lí đã đưa ra các hướng giải quyết
vấn đề về những đặc điểm chung trong việc gọi tên màu sắc như công trình của

trong thơ Nguyễn Bính, từ đó, nêu bật vài điểm trong phong cách nghệ thuật của
Nguyễn Bính. Trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 8 năm 2006, Hà Thị Thu Hoài
viết: “Từ chỉ màu sắc để miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm Truyện Tây Bắc của
nhà văn Tô Hoài”. Qua khảo sát, tác giả bài viết đã phân tích nét đặc sắc sáng tạo
trong việc tạo ra nhiều sắc độ của màu trắng, đỏ, vàng trên những trang văn Tô
Hoài.[45]
Cũng có một số công trình (các luận án, luận văn thạc sĩ) đi sâu nghiên cứu
kĩ hơn về về các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt như luận án của Chu Bích Thu
(1996) với công trình “Những đặc trưng ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt hiện đại”.
Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa để phân tích các nhóm
tính từ trong đó có nhóm tính từ chỉ màu sắc. Tuy nhiên, trong luận án, khi đề cập
đến tính từ chỉ màu sắc, tác giả chỉ mới dừng lại ở chỗ phân tích cấu trúc ngữ nghĩa
của nhóm tính từ này. [79]
Trong luận văn của Nguyễn Khánh Hà (1995) “Hệ thống từ chỉ màu sắc
trong tiếng Việt”, tác giả đã thống kê và lập một bảng từ ngữ chỉ màu sắc trong
tiếng Việt, phân loại, sắp xếp nhóm từ này thành hệ thống và phân tích ý nghĩa từ
vựng và ngữ cảnh sử dụng. Luận văn đã hệ thống hóa các từ chỉ màu sắc trong tiếng
Việt trên góc độ của sự liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, nêu ra những đặc điểm
của các lớp từ như lớp từ chỉ màu cơ sở, lớp từ chỉ màu thứ cấp, lớp từ chỉ màu đặc
trưng và so sánh các lớp từ này để tìm ra mối quan hệ và kết cấu giữa các lớp từ
này. Tuy nhiên, luận văn mới chỉ đề cập đến các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt,
các thành ngữ, tục ngữ và các ngữ có chứa từ chỉ màu sắc chưa được tác giả đề cập
đến. Luận văn chưa đi vào so sánh đối chiếu từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và

10


tiếng Việt để tìm ra sự giống nhau và khác nhau về đặc điểm, ngữ nghĩa của các lớp
từ này. [33]
Cũng bàn về từ ngữ chỉ màu sắc, Trịnh Thị Minh Hương (1999) đã tiến hành


các quan điểm về từ ngữ chỉ màu sắc, về văn hóa, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
văn hóa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Các khái niệm sẽ được tổng hợp, phân tích
và chúng tôi sẽ đưa ra quan điểm của mình trong việc sử dụng khái niệm hoặc định
nghĩa làm cơ sở cho luận án.
1.2.1. Khái niệm về từ
1.2.1.1. Định nghĩa về từ
a. Định nghĩa về từ trong tiếng Anh
“Từ” (word) xuất hiện như là một khái niệm đơn giản, nhưng để trả lời câu
hỏi “Từ là gì?" lại không hề dễ, nhiều nhà ngôn ngữ đã đưa ra các định nghĩa khác
nhau về từ. Theo Bloomfield (1933), “Về mặt cú pháp, từ được định nghĩa là một
câu ngắn nhất”.
Theo Saussure (1973), mặc dù khó có thể đưa ra định nghĩa chính xác về từ
nhưng ông khẳng định trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ, từ vẫn là một đơn vị
trung tâm.[65]
b. Định nghĩa về từ trong tiếng Việt
Hoàng Văn Hành (2008) đã vận dụng năm tiêu chuẩn để xác định từ. Năm
tiêu chuẩn đó là: (i) Từ ngữ âm: Đó là những đơn vị được thống nhất với hiện tượng
ngữ âm nào đó. Đối với Việt ngữ, hiện tượng âm đều đặt trên ngữ lưu có thể dùng
làm tín hiệu phân giới chính là âm tiết; (ii) Từ chính tả: Đó là những khoảng cách
giữa hai chỗ trống trên chữ viết, tức là những đơn vị được viết liền thành một khối;
(iii) Từ hoàn chỉnh: Đó là những cấu trúc ổn định, không thể tách hoặc hoán vị các
thành tố của chúng; (iv) Từ từ điển học: Đó là đơn vị mà căn cứ vào đặc điểm ý
nghĩa của nó phải xếp riêng trong từ điển; (v) Từ biến tố: Đó là những đơn vị luôn
luôn gồm hai phần: một phần nhân từ, biểu hiện ý nghĩa đối tượng, còn một phần
biến tố biểu thị mối liên hệ của từ đó với các từ khác trong câu. Thực chất tiêu
chuẩn này muốn nói đến đặc điểm ngữ pháp của từ - Từ ngữ pháp. [38, tr. 21]
Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010), “Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của
ngôn ngữ. Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người
bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ. Chính tổng thể của các từ là vật liệu

ý nghĩa ngữ pháp của từ. Ví dụ, trong tiếng Anh, từ “happy” (hạnh phúc) có thể
thêm tiền tố un hoặc hậu tố ness để tạo nên các từ phái sinh (derived words) như
unhappy, happiness.
(ii) Phương thức ghép (compounding)
Bên cạnh phương thức sử dụng phụ tố, phương thức ghép (compound) cũng
rất phổ biến trong tiếng Anh. Trong hệ thống từ vựng tiếng Anh, các từ là những từ
đa tiết. Vì vậy, các từ trong tiếng Anh khi đi cùng nhau để tạo thành từ ghép có thể
được đặt thành một từ như: schoolgirl; hai từ nối nhau bằng gạch ngang: recordplayer; hoặc hai từ riêng lẻ: flower garden… Từ ghép trong tiếng Anh cũng được

13


chia thành hai loại: Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ.
Trên thực tế sử dụng, hầu hết các từ ghép trong tiếng Anh đều có quan hệ chính
- phụ. Không giống tiếng Việt, yếu tố chính thường đứng trước: vườn hoa, trong
tiếng Anh, yếu tố chính thường đứng sau flower garden. Trật tự của từ ghép quyết
định nội dung ý nghĩa của từ đó: schoolboy (nam sinh) khác với boyschool (trường
dành cho con trai).
Những từ ghép cũng có thể quan hệ đẳng lập với nhau trong từ ghép: secretarydriver (thư kí- lái xe); bitter - sweet (đắng - ngọt)… Những từ ghép này không có
yếu tố phụ thuộc vào yếu tố khác, và nghĩa của nó thường có nội dung của cả hai từ:
secretary - driver (thư kí và lái xe, để gọi một người có thể kiêm cả hai vị trí chứ
không phải đây là từ ghép để gọi tên một loại lái xe).
Ngoài 2 phương thức trên, theo Greenbaum (1996), tiếng Anh còn sử dụng các
phương thức khác như phương thức chuyển loại (conversion), phương thức kết hợp
(combining form), phương thức rút gọn (clipping), phương thức viết tắt
(shortening). Tiếng Anh cũng sử dụng phương thức láy âm (alliteration) như ping
pong (bóng bàn) và láy vần (rhyme) như drain brain (chảy máu chất xám), hurryscurry (hối hả, bận rộn)… nhưng để tạo nên các từ chỉ màu sắc, tiếng Anh chỉ sử
dụng các 2 phương thức: phương thức phụ tố (tiền tố) và phương thức ghép nên
luận án chỉ miêu tả và phân tích các phương thức này làm cơ sở lí luận cho luận án.
b. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt

1.2.2.1. Khái niệm về nghĩa từ vựng của từ
Theo tác giả Goddard và Wierzbicka (2014), ngữ nghĩa cũng được xem như
một thành phần của ngôn ngữ học hơn là một quan điểm về ngôn ngữ và ngôn ngữ
học. Tuy nhiên, ý nghĩa chính là tất cả những gì ngôn ngữ diễn đạt. Đối với hầu hết
người dùng ngôn ngữ, người nói và người nghe, nhà văn và người đọc - từ là luôn
luôn “sống”(alive) và "xanh" (green), trong khi các hình thức, biểu tượng và các
công thức trừu tượng có thể dần dần mất đi hoặc không được dùng nữa.[111]
Các nhà Việt ngữ học có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa
của từ. Tuy nhiên, có thể chia thành 3 nhóm như sau:
(i)

Quan niệm thứ nhất coi nghĩa của từ là một bản thể nào đó. “Nghĩa của từ
là sự vật, hành động, tính chất ngoài thực tế khách quan mà từ biểu thị”.

(ii)

Quan niệm thứ hai coi nghĩa của từ là một quan hệ nào đó. Theo Saussure
(1975), nghĩa, là quan hệ của cái biểu hiện (significant) và cái được biểu
hiện (signifie), trong đó, cái biểu hiện không phải là bản thân tổ hợp ngữ âm
cụ thể mà là hình ảnh tâm lý của nó và cái được biểu hiện là tư tưởng. [65]

(iii)

Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010) “Nghĩa của từ (cũng như ở các đơn vị
ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân đó.

15


Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì,

Cùng quan điểm với Đỗ Hữu Châu, tác giả Đỗ Việt Hùng (2013) cũng cho
rằng: “Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần có quan hệ ổn định với hình thức từ”.
[47, tr. 37].
Ở bình diện khái quát, thoát khỏi các ngôn ngữ cụ thể, có thể nhận thấy cách
nhìn nhận về nghĩa là ngữ nghĩa học cấu trúc-chức năng luận quan hệ với ngữ nghĩa
học tri nhận.
Theo hướng ngữ nghĩa học cấu trúc chức năng hướng đến ngữ nghĩa học tri
nhận, Lê Quang Thiêm (2015) hiểu nghĩa từ vựng của từ như sau: “Nghĩa của từ,
cũng như nghĩa của ngôn ngữ nói chung là một sản phẩm văn hóa tinh thần, tâm lý
của con người… Nó là kết quả của sự phản ảnh, ánh xạ, tri nhận thực tại được tích
hợp lại trong nội dung kí hiệu từ. Nó là nội dung được biểu đạt trong kí hiệu từ mà
hình thức là cái biểu đạt. Nội dung này là sự kí hiệu hóa, là việc sử dụng vào giao
tiếp, tư duy. Đồng thời là kết quả của sự biểu trưng hóa, cấu trúc hóa trong vốn từ
ngữ cũng như trong đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc xác định.” [77, tr 27].
Theo hướng ngôn ngữ học tri nhận thì cấu trúc của thế giới khách quan (hiện
thực) được phản ánh trong ngôn ngữ là một sản phẩm của trí tuệ con người, do đó ý
nghĩa thuộc phạm trù tinh thần, phạm vi ý thức, trong hiểu biết của cá nhân và cộng
đồng sử dụng ngôn ngữ, dưới dạng những khái niệm tập quán, thói quen. Với cách

17


tiếp cận biểu hiện này (mà không phải tiếp cận quy chiếu), nghĩa ngôn ngữ thuộc về
nội dung hiểu biết, tri nhận, tri thức của người nói trong ngôn ngữ nói chung, còn
nghĩa của tín hiệu nói riêng là thuộc về tri thức đời thường của người nói (khác với
tri thức bách khoa, có tính khoa học).
Với quan niệm coi trọng vai trò của chủ thể con người trong việc tạo ra, sử
dụng và lưu giữ nghĩa, Lê Quang Thêm cho rằng nghĩa được sử dụng trong hoạt
động, bộc lộ trong quá trình tư duy - giao tiếp bằng ngôn ngữ. Mặt khác, nghĩa cũng
bộc lộ đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ. Khác với quan niệm qui

quan hệ với cấu trúc của ngôn ngữ với các từ khác sẽ hình thành các ý nghĩa, cấu
trúc và quan hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thành các ý
nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữ pháp. Từ sự phân định trên của tác giả Đỗ Hữu
Châu, ta thấy có hai thành phần nghĩa lớn là ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp.
Trong đó, ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa của riêng từng từ, còn ý nghĩa ngữ pháp là ý
nghĩa mang tính đồng loạt chung cho nhiều từ.
Trong ngôn ngữ có những từ có chức năng định danh, hay còn gọi là khả
năng gọi tên cho các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất, quan hệ… trong thực
tại khách quan, ta gọi đó là các từ định danh (đen, trắng, đỏ,…). Bên cạnh các từ
định danh, có các từ không có khả năng gọi tên như trên mà chỉ có vai trò thực hiện
các chức năng ngữ pháp khác nhau khi tạo câu, tạo văn bản, ta gọi đó là các từ phi
định danh (vì, nên, hoặc..). Nghĩa của từ định danh không phải là một khối không
phân hóa. Nó là một thể thống nhất gồm bốn thành phần nghĩa: nghĩa biểu vật,
nghĩa biểu niệm và nghĩa ngữ pháp, nghĩa biểu thái (nghĩa ngữ dụng). Trong đó ba
thành phần nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái gộp thành nghĩa từ
vựng của từ. Vì vậy, hễ nói đến nghĩa từ vựng của từ thì ta chỉ đề cập đến loại từ
định danh. Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng thành phần nghĩa từ vựng
của từ.
* Ý nghĩa biểu vật (denotative meaning): Là phần nghĩa của từ liên quan đến sự vật
hoặc phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng trong thế giới mà từ gợi ra khi ta tiếp
xúc với nó. Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật. Nói cách khác, ý nghĩa
biểu vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn
ngữ. Tuy nhiên, các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính trong thực tế được phản ánh
vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh trong tự
nhiên. Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không
hoàn toàn trùng khớp với thực tế. Nghĩa là, ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại,

19




20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status