Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN NGỮ VĂN
NGÔ TRẦN THỊ ANINA
TÍNH BIỂU TRƯNG CỦA KHUÔN VẦN
TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Sư phạm Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn:
BÙI THỊ TÂM
Cần Thơ, 4 - 2011
-1-
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
2.
3.
4.
3.2 Giá trị biểu trưng trong việc châm biếm, đả kích lễ giáo phong kiến.
PHẦN KẾT LUẬN
PHẦN PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA CBHD
-2-
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ văn học là một cơ thể sống phức hợp, vận động nhiều âm thanh,
nhiều màu sắc: mỗi tiếng là một “con kì nhông” đứng chỗ này thì màu xanh, đứng chỗ
khác thì màu nâu hoặc vàng úa. Và nói như Hemingway “nghiên cứu tác phẩm văn
chương là nghiên cứu phần nổi của “tảng băng trôi” nhằm phát hiện phần chìm của
các ý nghĩa” [21,tr.303]. Người đọc muốn tìm hiểu tác phẩm thì trước hết phải xuất
phát từ cái biểu đạt trên các bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp. Và ở thơ chủ yếu
là ngữ âm “thơ là lâu đài của các âm vang”, “âm là nghĩa”. Hay nói khác hơn nghiên
cứu ngữ âm của tác phẩm thơ chính là nghiên cứu tính biểu trưng của khuôn vần trong
thơ.
Tính biểu trưng của khuôn vần chính là ý nghĩa của những sự vật, sự việc mang
tính hình tượng, có thể tái hiện lại những hiện tượng của cuộc sống một cách cụ thể,
sinh động bằng những từ ngữ gợi cảm, gợi hình và gợi thanh. Nó được sử dụng để làm
nổi bật những nét nghĩa của từ ngữ. Trên cở sở của sự sáng tạo từ các nhà văn, nhà thơ
đã vận dụng một cách tinh tế sự hòa phối giữa các từ cùng khuôn, để tạo nên các sắc
thái ý nghĩa giàu hình ảnh, hình tượng cho tác phẩm của mình.
Sự vận dụng khuôn vần từ những đặc điểm cơ bản của hình tượng đơn vị gốc là
-3-
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
Với những lí do trên người viết đã chọn “Tính biểu trưng của khuôn vần trong
thơ Hồ Xuân Hương” làm đề tài nghiên cứu và hi vọng sẽ góp một phần nhỏ cho việc
tìm hiểu tính biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương nói riêng và thơ ca
nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn
học. Không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học, bởi chính ngôn ngữ chứ
không phải cái gì khác đã cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện của hình tượng trong
tác phẩm văn học. Và Macxim Gorki đã từng viết “Yếu tố đầu tiên của văn học là
ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc
sống là chất liệu của văn học”[tr.109]. Chính vì vậy khi đi nghiên cứu tác phẩm văn
học, trước hết ta nghiên cứu ngữ âm của nó. Và đó là điều mà các nhà ngôn ngữ đã
dày công tìm hiểu. Những năm gần đây các nhà ngôn ngữ đã dành nhiều thời gian cho
việc nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ, trong đó có vấn đề tính biểu trưng của khuôn vần.
Trên cơ sở nghiên cứu các từ cùng khuôn, các nhà nghiên cứu xem xét chúng có
những nghĩa chung nào, hay biểu trưng cho ý nghĩa gì.
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về khuôn vần và các nghiên cứu về
tác phẩm thơ Hồ Xuân Hương (có liên quan tới ý nghĩa của từ hay vần) mà người viết
chọn lựa và trên cơ sở đó để đi sâu hơn khi nghiên cứu “Tính biểu trưng của khuôn
vần trong thơ Hồ Xuân Hương”.
Nguyễn Đại Bàng trong cuốn Khuôn vần tiếng Việt và sự sáng tạo của từ đã đi
nghiên cứu khuôn vần và sự sáng tạo của từ ở từ láy. Ông nhận thấy sự sáng tạo từ quy
tắc “đối ứng khuôn hay ý nghĩa cơ bản” và chuyển đổi khuôn để tạo nên một lớp từ
mới mang những nghĩa chung cùng với các khuôn vần này: “Chẳng hạn khuôn -ang,
(Tố Hữu)
Hoặc giữa các câu thơ:
“Em đứng bên đường như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường”
(Nguyễn Đình Thi)
Các câu thơ không chỉ tạo nên tính nhạc cho câu thơ mà với các vần -ương, an, -ắng làm cho ý thơ có sức lan toả rộng lớn và vang vọng sâu xa trong tâm hồn
người đọc thơ [
]. Theo Hà Minh Đức, ông cho rằng khuôn vần được thể hiện
trong từ láy rất quan trọng trong việc tạo ra giá trị biểu hiện của câu thơ.
Hoàng Văn Hành trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt, khi đi khảo sát ngôn từ ở
phương diện từ láy, ông nhận thấy rằng từ láy cũng có những giá trị biểu trưng và ông
phân chúng thành các loại từ mang tính biểu trưng như sau:
Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm giản đơn. Đó là những từ có nét chung là mô
phỏng âm thanh trong tự nhiên theo cơ chế láy. Ví dụ: lộc cốc, thùng thùng, oai oái, í
ới, nheo nhéo…
Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu: Biểu thị thuộc tính (tính chất, trạng
thái, quá trình…); Biểu thị sự vật, ví dụ: đăm đăm, chồm chồm, lổm ngổm, bâng
khuâng…
Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa.
Ở dạng từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa ông
định nghĩa chúng như sau: “Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về
nghĩa là từ mà nghĩa của nó có thể giải thích được không chỉ nhờ nghĩa của từ gốc mà
còn nhờ ở giá trị tạp nghĩa (tức là giá trị biểu trưng hóa) của sự hòa phối ngữ âm
trong cấu tạo của nó. Hình thái biểu hiện của sự hòa phối ngữ âm này là điệp và đối.
Trong đó điệp và đối khuôn vần vẫn là quan trong”[6, tr.86].
Điều đó cho thấy ông đã có những tìm hiểu và nhìn nhận sâu sắc về các dạng từ
láy. Đặc biệt những từ láy có chung khuôn vần thường mang những sắc thái ý nghĩa
cho một dạng thức nào đó, chúng có thể là những biểu thị âm thanh hay biểu thị tính
chất sự vật, sự việc. Nhất là, các từ láy chuyên biệt nghĩa ở chúng có những “giá trị
biểu trưng hóa” nhờ vào sự phối âm và cấu tạo từ chúng làm nên ý nghĩa cho từ ngữ
thống, tính quy tắc ở giá trị biểu trưng của khuôn vần”.
Phi Tuyết Hinh đã phần nào khẳng định và chứng minh được sự tồn tại của
những giá trị biểu trưng mà các khuôn vần góp phần tạo nên nôi dụng ý nghĩa của thơ
ca nói chung. Đặc biệt, ông đã thử đi tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các khuôn vần
trong các từ láy không rõ thành tố gốc, hay các khuôn vần từ láy trong các trường hợp
khác. Nghiên cứu của ông có vai trò hết sức quan trọng cho việc tìm hiểu nghĩa biểu
trưng của các khuôn vần trong tác phẩm mà người viết khảo sát.
Nguyễn Thái Hòa cho rằng “Cù Đình Tú đã thống kê được nhiều khuôn vần
nhưng chưa đủ”. Theo ông, “ngay sự đối lập âm vực cao, thấp cũng tạo ra những từ
có nét nghĩa khác nhau về mức độ:
- Sát / sạt, phát / phạt, dát / dạt, bát / bạt, ngát / ngạt…
- Bấp / bập, tấp / tập, vấp / vập, gấp / gập, rấp / rập…
- Óp / ọp, móp / mọp, tóp / tọp, sóp / sọp, bóp / bọp…
Chúng ta có thể cảm nhận dễ dàng những nét nghĩa ấy mà không cần giải thích.
Ví dụ: “hương thơm ngào ngạt” với “hương thơm ngát” với “hương thơm ngan
ngát” có liên quan chặt chẽ với nhau chứ không phải là những từ biệt lập”[3, tr.267].
Và theo ông “Tính biểu trưng của các phương tiện ngữ âm là có thực và cần
được nghiên cứu. Nhưng tính biểu trưng không phải là quy tắc khái quát cho tất cả
các từ mà có tính chất võ đoán của tín hiệu vẫn là chủ yếu”[3, tr.267].
Ở đây Nguyễn Thái Hòa chỉ mới nhận xét rằng giữa các khuôn vần có chung
một nét nghĩa, trong cơ chế đối ứng của nó, ông đã dẫn chứng được những nét nghĩa
khác nhau đó. Và ông cũng khẳng định đây là vấn đề cần nghiên cứu tuy nhiên ông
chưa đi tập hợp chúng lại và chưa đi sâu phân tích với một nhóm khuôn vần như vậy
mang giá trị biểu trưng gì cho tác phẩm.Theo người viết thì đó là một phương diện
rộng, cần đưa chúng vào phạm vi cụ thể.
Đinh Trọng Lạc trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt cũng
đề cập tới vấn đề ý nghĩa biểu trưng của các khuôn vần trong phong cách học ngữ âm
như sau: “Nhiệm vụ của phong cách học ngữ âm là nghiên cứu những giá trị biểu
trưng của các khuôn vần trong từ láy (cùng với các yếu tố ngữ âm khác) để nêu lên
những cách sử dụng chúng trong sinh hoạt lời nói, nhất là trong lời nói nghệ thuật,
ngôn ngữ nói chung là “phải chỉ rõ cái chung như thế nào? Trên cơ sơ nào? Và được
hình thành trong điều kiện nào? Trên cơ sở nào?” của những từ có một nghĩa chung
ấy. Đó chính là việc đi tìm các từ có cùng một khuôn tiếng. Ông cũng nhận định rằng:
“các khuôn vần này có một giá trị rất quan trọng cho việc cấu tạo nghĩa”. Vì vậy ông
cố gắng đi tìm các khuôn vần ở dạng chung khái quát trên cơ sở thực tế và một số câu
thơ. Tuy nhiên, ông chưa đi tìm giá trị biểu trưng trên một số tác phẩm cụ thể để chứng
minh cho điều này mà ông chỉ thống kê chúng dưới dạng những từ có cấu tạo cùng
khuôn mang những ý nghĩa biểu trưng chung.
Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học tiếng Việt, khi đi khảo sát cách cấu
tạo từ của tiếng Việt về mối quan hệ giữa cơ cấu ngữ âm và nội dung ngữ nghĩa có nói
rằng: “Có một hiện tượng rất lí thú là nhiều đơn vị từ ngữ của tiếng Việt dường như
được cấu tạo theo những khuôn ngữ âm, ngữ nghĩa nhất định. Mỗi khuôn ngữ âm, ngữ
nghĩa gồm có một hoặc hai thành tố này mang tính gợi hình, biểu cảm được rút ra từ
hàng loạt đơn vị từ ngữ cùng cấu tạo theo khuôn này”[17, tr.236]. Và ông đã thống kê
được khá nhiều khuôn vần gợi hình ảnh như: khuôn vần “op” mang một nghĩa chung
là “giảm thể tích” hoặc “thu lại”: óp lại, móp, hóp, tọp, tóp… Nhiều khuôn vần “ê-a”
biểu thị “quá trình kéo dài từ chỗ này qua chỗ khác, từ lúc này qua lúc khác”.
Cù Đình Tú đã đi sâu vào và phân tích những nhóm khuôn vần có chung những
giá trị biểu trưng. Thông qua những đặc điểm chung đó giúp chúng ta có thêm cơ sở để
đi tìm hiểu những biểu trưng của khuôn vần trong thơ. Đặc biệt là những khuôn vần
mà ông đã tập hợp chúng trong những nhóm từ cùng khuôn biểu thị một nét nghĩa
tương đương mà ông đã tìm thấy.
Trong quá trình phân tích tìm hiểu thơ Hồ Xuân Hương, chúng tôi nhận thấy có
không ít nhà nghiên cứu tìm thấy ở thơ Hồ Xuân Hương có những giá trị nghệ thuật
trong cách sử dụng từ ngữ, mà đặc biệt là những từ liên quan đến âm tiết và khuôn vần
trong cấu tạo từ. Nó đã góp phần làm nên cái hay, nét độc đáo trong nghệ thuật và nội
dung thơ Hồ Xuân Hương.
Xuân Diệu trong cuốn Hồ Xuân Hương tác phẩm và dư luận với bài viết “Hồ
Xuân Hương – bà chúa thơ Nôm” đã nhận xét rằng: “Thơ Hồ Xuân Hương là đời của
Xuân Hương, là người của Xuân Hương trong đó. Thơ Xuân Hương là hồn, là xác, là
nhân vật qua các khuôn vần độc đáo là thành công của nhà thơ.
Đỗ Đức Hiểu trong Hồ Xuân Hương tác phẩm và dư luận với bài viết “Thế
giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương” ông đã nhận xét rằng: “Hồ Xuân Hương là nhà thơ sử
dụng ngôn ngữ để sáng tạo nhạc, là nghệ sĩ tạo hình”. Khi nhận xét thành công thơ
Xuân Hương ông đã viết: “Bằng những từ bất bình thường, những vần gai góc dùng
để chuyển đạt những ẩn dụ bản năng sự sống với vần “eo” hay “om” đã nói lên được
điều đó:
“Ba chạc cây xanh hình uốn éo”
Hay:
“Con thuyền vô trạo cúi khom khom”[21, tr.311]
Và ông còn nhận xét thêm cách tạo vần trong thơ của Xuân Hương qua bài
Quán Khánh: “Bài thơ Quán Khánh điệp trùng 14 âm “eo” là một sự sáng tạo kì lạ:
“Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo
Đường đi thiên thẹo quán cheo leo…”
Các âm đó da diết, vang dội như những lớp sóng”[21, tr.314].
Có thể nói với cách tạo vần ấn tượng phù hợp với nội dung mà tác giả muốn gửi
gắm đã làm tăng sức biểu cảm cho thơ bà. Theo ông, những tử vận chính là những vần
tạo nghĩa cho bài thơ. Bằng sự kết hợp của nhịp điệu và âm vần độc đáo đã góp phần
tạo cho thơ Xuân Hương giàu âm hưởng, giàu giá trị nội dung và nghệ thuật.
Giáo sư Lê Trí Viễn khi “Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương” trong Hồ Xuân Hương
tác phẩm và dư luận ông đã khẳng định: “Đặc biệt nhất ở sự thành công của thơ Hồ
Xuân Hương là những điệp từ, từ lấp láy. Có loại thông thường: cheo leo, lún phún,
xanh rì, đỏ loét, lắt léo, đầm đìa…, có loại lạ lùng: mõm mòm, hõm hòm hom, toen
hoẻn, dở dom… Từ lấp láy là một đặc điểm của tiếng Việt, Xuân Hương đã khai thác
nó thành đặc điểm riêng của mình làm cho thơ có dáng dấp tài tình, tinh nghịch và
độc đáo” [21, tr.292].
-8-
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
đa dạng của từ láy trong tiếng Việt mà đặc biệt là tính biểu trưng của khuôn vần trong
từ láy. Đồng thời, nghiên cứu đề tài còn giúp người viết bổ sung thêm vốn kiến thức ít
ỏi của mình về ngữ âm.
Đối với Hồ Xuân Hương – một người đầy bản lĩnh với những vần thơ vô cùng
độc đáo. Thơ Xuân Hương “là thứ thơ không chịu ở trong cái khuôn khổ thông
thường, một thứ thơ muốn lặn thật sâu vào sự thật, vào những đáy rất kín thẳm của
tâm tư”[8; tr.109]. Chính vì vậy, nghiên cứu về Xuân Hương không chỉ để hiểu về sự
độc đáo trong nghệ thuật ngôn từ, tiêu biểu là cách chọn vần trong thơ bà mà còn giúp
người viết hiểu hơn về phong cách thơ Xuân Hương.
Tuy nhiên, thơ Hồ Xuân Hương vẫn còn nhiều ý kiến boăn khoăn. Vì vậy, việc
đi tìm hiểu tác phẩm ở nhiều cấp độ, đặc biệt là ở cấp độ giá trị biểu trưng của khuôn
vần trong thơ người viết hi vọng sẽ góp phần nhỏ cho việc hiểu rõ hơn về giá trị nội
dung và nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân Hương.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt mục đích và yêu cầu đặt ra ở trên, trước hết người viết sẽ tiến
hành thu thập thông tin, những tư liệu nghiên cứu về vấn đề có liên quan tới khuôn
vần, các bài bình luận, phê bình về Hồ Xuân Hương từ xưa đến nay, đặc biệt là các
công trình nghiên cứu về nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong thơ bà.
Các tư liệu về âm tiết và vần tiếng Việt giúp người viết nắm vững kiến thức,
thông tin quan trọng về tính biểu trưng của khuôn vần tạo cơ sở tìm hiểu tính biểu
trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương. Những công trình nghiên cứu về Hồ
-9-
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
Xuân Hương và tác phẩm thơ của bà sẽ là những tiền đề rất quý báu giúp người viết
nắm được phong cách nghệ thuật của Hồ Xuân Hương, trong đó có nghệ thuật thể hiện
tính biểu trưng của khuôn vần. Trên cơ sở đó, người viết sẽ tiến hành thống kê, phân
sát một số vấn đề chung về âm tiết và vần trong tiếng Việt. Bởi vì, trên cơ sở đó chúng
ta sẽ thấy được những giá trị sử dụng của chúng.
1.1 Khái niệm âm tiết
Có nhiều ý kiến khác nhau về cách định nghĩa âm tiết
1.1.1 Theo Mai Ngọc Chừ
“Chuỗi lời nói mà con người phát ra gồm nhiều khúc đoạn dài ngắn khác nhau. Đơn
vị phát âm ngắn nhất là âm tiết. Tiếng tức âm tiết”.
Ví dụ: “Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào” có cả thảy 8 âm tiết [2; tr76].
Và ông dựa vào cách kết thúc âm tiết để chia âm tiết ra thành bốn loại sau:
Những âm tiết có kết thúc bằng phụ âm vang được gọi là âm tiết nửa khép.
Những âm tiết có kết thúc bằng bán âm nguyên được gọi là những âm tiết nửa mở.
Những âm tiết có kết thúc bằng phụ âm không vang được gọi là âm tiết khép.
Những âm tiết có kết thúc bằng cách giữ nguyên âm sắc của nguyên âm ở đỉnh âm tiết
được gọi là các âm tiết mở.
1.1.2 Theo Nguyễn Thiện Giáp
“Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất. Âm tiết là những đơn vị mang những sự
kiện ngôn điệu như thanh âm, trong âm và do đó con người đã gọi là điệu vị
(prosodeme). Mỗi âm tiết phát ra tương ứng với một luân phiên tăng lên rồi trùng
xuống của cơ thịt trong bộ máy phát âm. Mỗi âm tiết gồm có ba phần: khởi đầu, đỉnh
đầu và kết thúc” [5; tr125].
1.1.3 Theo Trần Trí Giỏi
“Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất”. Và ông giải thích: Chẳng hạn, khi muốn
phát âm ra một âm tiết [b], nhất thiết chúng ta phải tạo ra một âm tiết [bơ]. Điều này
có nghĩa là, trong thực tế không ai phát âm ra một âm tố mà phải tối thiểu là một âm
tiết. Vì thế với người nói Tiếng Việt, người ta nhận ra câu: “Năm qua thắng lợi vẻ
vang” sẽ là một chuỗi phát âm có 6 âm tiết [4; tr56].
Ví dụ: “Tiến lên chiến thắng nhất định về ta”. Có 8 âm tiết [16; tr17].
1.1.8 Theo Cù Đình Tú
“Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên mà bất cứ người nào cũng có thể nhận ra.
Ví dụ: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” có 8 âm tiết”. Ông giải thích âm tiết
là một đoạn của lời nói (chuỗi âm thanh) mà khi phát âm mỗi bộ máy phát âm căng
thẳng rồi trùng xuống. Như vậy mỗi khi phát âm, mỗi âm tiết gồm có ba giai đoạn: giai
đoạn tăng độ căng, giai đoạn đỉnh của độ căng, giai đoạn giảm độ căng và kết thúc [18;
tr18].
Nhận xét
Mặc dù cách dùng từ để định nghĩa về âm tiết có khác nhau nhưng nhìn chung
các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều thống nhất với nhau ở: âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ
nhất trong lời nói, trong âm tiết Tiếng Việt âm tiết phát ra gồm ba bộ phận: phụ âm
đầu, phần vần và thanh điệu. Và chúng tôi đồng tình với cách hiểu này khi đi phân tích
âm tiết tiếng Việt.
1.2 Cấu tạo âm tiết tiếng Việt
Khi mô tả âm tiết tiếng Việt các nhà ngôn ngữ thừa nhận những đặc điểm sau:
Trong tiếng Việt, âm tiết có tính độc lập rất cao. Đặc điểm này được thể hiện
trong các lời nói, âm tiết bao giờ cũng được thể hiện một cách rõ ràng tách ra từng
khúc đoạn riêng biệt. Đồng thời, âm tiết tiếng Việt cũng có khả năng biểu hiện ý
nghĩa. Đây là điều mà các ngôn ngữ khác không có được. Chính vì vậy mà có những
âm tiết tự thân nó đã có nghĩa mà ta gọi là từ đơn. Bên cạnh đó, ta thấy một đặc điểm
rất quan trọng của tiếng Việt nữa là cấu trúc chặt chẽ, riêng biệt của mình.
Hiện nay các nhà nghiên cứu về Tiếng Việt xem mô hình cấu trúc của tiếng
Việt như sau:
Mô hình 1:
Thanh điệu (5)
Âm đầu (1)
Vần
1.2.2.1 Âm đệm (số 2)
Âm đệm có chức năng làm thay đổi âm sắc âm tiết sau lúc mở đầu. Thành phần
này do bán nguyên âm /w/ đảm nhiệm. Chính nhờ nó mà ta phân biệt được các âm tiết
như: tán với toán, tấn với tuấn. Âm tiết tán và tấn không có âm đệm, người ta còn gọi
là âm đệm zero.
1.2.2.2 Âm chính (số 3)
Âm chính hay còn gọi là hạt nhân của âm tiết. Thành phần này là quy định âm
sắc chủ yếu của âm tiết và nó bao giờ cũng do một nguyên âm đảm nhiệm, khác với
các thành phần khác của âm tiết tiếng Việt. Âm chính luôn luôn có mặt trong mọi
trường hợp của âm tiết tiếng Việt.
1.2.2.3 Âm cuối (số 4)
Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết, nó do phụ âm và các bán nguyên âm
đảm nhiệm. Ví dụ: tán, cao, tay… Thành phần này có thể vắng mặt trong các âm tiết
tiếng Việt ở một số trường hợp như: tá, ca, ta… Trong những trường hợp này ta gọi là
âm cuối zero.
1.2.3 Thanh điệu (số 5)
Mỗi một âm tiết tiếng Việt đều có một thanh điệu, thanh điệu có chức năng
phân biệt các âm tiết. Trong tiếng Việt hiện nay có 6 thanh là: thanh ngang (thanh
không dấu), thanh huyền, thanh hỏi, thanh sắc, thanh nặng, thanh ngã.
* Đặc điểm của các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt
Theo các nhà nghiên cứu thì năm thành phần trên của âm tiết tiếng Việt không
phải bình đẳng như nhau về mức độ độc lập và khả năng kết hợp.
Năm thành phần cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt ở dạng đầy đủ luôn có tính chất
cố định không thể thay thế, đổi chỗ cho nhau được.
Kết quả nghiên cứu cho thấy phần phụ âm đầu và thanh điệu kết hợp lõng lẽo
với phần vần hơn so với bản thân sự kết hợp các vần của phần vần. Chính vì vậy, nên
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
Dựa trên cơ sở của mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt như đã nói ở trên. Phần
vần được mỗi nhà ngôn ngữ quan niệm như sau:
1.3.1 Vần theo Nguyễn Quang Hồng
Ông đưa ra hai khái niệm về “vần” và “vần cái”. Dưa trên sơ đồ về hai bậc của
âm tiết như trên, phần vần thường được đề cặp tới phần thứ hai của âm tiết sau phần
âm đầu. Theo ông “vần” sẽ không tính phần âm đệm và thanh điệu của âm tiết – đó là
vần cái (vận mẫu). Nói cách khác, vần cái là đơn vị ngữ âm nằm trong cấu trúc “đoạn
tính” của âm tiết, bắt đầu từ đỉnh âm tiết đến cuối âm tiết. Vần cái cũng có thể gọi là
khuôn vần [7, tr.247]. Cách phân chia này của ông tách hai khái niệm vần và vần cái
bởi yếu tố âm đệm. Phần vần cái mà ông đưa ra được gọi là khuôn vần cũng trùng với
nhiều nhà ngôn ngữ khác cho đó là vần hay khuôn vần.
1.3.2 Vần của âm tiết tiếng Việt theo Mai Thị Kiều Phương
Theo Mai Thị Kiều Phương trong cuốn Tiếng Việt đại cương – ngữ âm, cho
rằng: “Vần là một thành tố cấu tạo thuộc cấp đọ bậc 1. Tuy phụ âm đầu cũng là yếu tố
cấu tạo bậc 1, nhưng phụ âm đầu có thể khuyết trong một số trường hợp, còn vần là
yếu tố quan trong không thể vắng mặt để tạo nên âm tiết. Vần là thành phần chủ yếu
tạo nên âm tiết”[14, tr.217].
Theo Mai Thị Kiều Phương vần của âm tiết tiếng Việt có cấu tạo gồm 3 yếu tố
thuộc cấu trúc âm đoạn: âm đệm, âm chính và âm cuối và một yếu tố thuộc cấu trúc
âm đoạn: thanh điệu.
Cấu tạo tối thiểu của vần là gồm hai âm vị (một âm vị đoạn tính là ngữ âm và âm vị
siêu đoạn tính là thanh điệu). Thanh điệu là yêu tố chẳng bao giờ vắng mặt trong thành
phần của vần, nó bao trùm lên toàn bộ phần vần.
Cấu tạo tối đa của vần là 4 âm vị: 3 yếu tố thuộc cấu trúc âm đoạn: âm đệm, âm
chính và âm cuối; 1 yếu tố thuộc cấu trúc siêu âm đoạn: thanh điệu.
Về chức năng, theo bà vần là yếu tố âm tiết tính, là hạt nhân chủ yếu của âm tiết
ở vị trí âm chính. Âm chính có cấu tạo bằng nguyên âm chân chính (nó chính là yếu tố
âm tiết tính, là hạt nhân của âm tiết).
Âm chính có chức năng tạo đỉnh cho âm tiết. Và tạo âm sắc cho âm tiết. Ví dụ:
âm tiết “loan” có /a/ tạo âm sắc chính, nhưng vì trước nó có âm đệm nên trầm hóa âm
tiết hơn âm tiết “lan” và /a/ cũng là nguyên âm tạo âm sắc nhưng vì trước nó có âm
đệm nên trầm hóa âm tiết hơn âm tiết “lan” và /a/ cũng là nguyên âm tạo âm sắc
nhưng vì trước nó có âm đệm nên nó tạo âm sắc rõ hơn. Đồng thời, nó còn có chức
năng khu biệt nghĩa và nhận diện từ nhờ sự khác biệt giữa âm tiết này với âm tiết khác.
Âm chính luôn có mặt trong mọi trường hợp.
Về số lượng âm chính theo Mai Thị Kiều Phương có 14 nguyên âm, trong đó là
9 âm vị dài, 2 nguyên âm đơn ngắn và 3 nguyên âm đôi.
Âm cuối
Vị trí số 4, là vị trí cuối vần và cũng là vị trí cuối âm tiết.
Cấu tạo bằng phụ âm và nó mang đầy đủ đặc trưng của phụ âm.
Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết.
Âm cuối có thể khuyết trong một số trường hợp của âm tiết tiếng Việt.
Thanh điệu
Thanh điệu trong tiếng Việt gồm có 6 thanh là: thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã,
thanh huyền, thanh ngang, thanh nặng. Một âm tiết có cấu tạo luôn có thanh điệu và
thanh điệu luôn đi kèm theo phần vần.
Cách phân chia phần vần của Mai Thị Kiều Phương khác với cách phân chia
của Bùi Thị Tâm và Huỳnh Công Tín ở chỗ là phần vần là phần có sự bao trùm bởi
yếu tố thanh điệu. Phần phụ âm đầu không được bao trùm bởi yếu tố thanh điệu.
1.3.3 Vần của âm tiết tiếng Việt theo Bùi Thị Tâm
Âm tiết tiếng Việt có 5 vị trí đó là phần phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm
cuối và thanh điệu. Có âm tiết có đủ 5 vị trí, có âm tiết có vị trí vắng, nhưng nguyên
chính âm luôn luôn có mặt.
“Âm tiết tiếng Việt được chia làm ba phần: phần đầu; phần vần và thanh điệu, thanh
điệu luôn nằm trên toàn bộ âm tiết” [14, tr.19].
khuya, mượn, tiên, mua, bia, người, yêu…
Âm chính có chức năng: tạo âm sắc cho âm tiết. Đồng thời là đỉnh của âm tiết.
Âm cuối
Gồm có 8 nguyên âm được thể hiện trên chính tả là các con chữ: t, m, n, nh, ch,
ng, p, o, u, a, ô, ơ, e, ê.
Âm cuối được chia làm 3 nhóm như sau:
Nhóm phụ âm ồn: /p, t, k/ (Ví dụ: họp, chất, cách, cất…)
Nhóm phụ âm vang: -m, -n, -nh, -ng (Ví dụ: tủm tỉm, tin, mênh mang, lênh đênh…).
Nhóm bán nguyên âm cuối: -i, -y, -o, -u (Ví dụ: Mai sau dù có bao giờ - Truyện Kiều)
Âm cuối có chức năng kết thúc âm tiết.
1.3.4 Vần của âm tiết tiếng Việt theo Huỳnh Công Tín
Theo ông âm tiết tiếng Việt được chia làm ba phần. Phần phụ âm đầu hay thủy
âm, phần vần: gồm tiền chính âm, chính âm, chung âm và phần thanh điệu.
Tiền chính âm (âm đệm) –wTiền chính âm được thể hiện ở các trường hợp khác nhau. Biểu hiện lên chữ
viết bởi chữ “o” trong toán, hoàn…và chữ “u” trong: quân, huân…
Tiền chính âm có mặt trong âm tiết tiếng Việt có chức năng tạo âm sắc cho âm tiết. Là
cơ sở để phân biệt âm tiết như trong các âm tiết.
Âm chính
Có 9 nguyên âm đơn là /i/, /u/, /ư/, /e/, /ê/, /a/, /o/, /ơ/, /ô/ và 3 nguyên âm đôi
được thể hiện trên chữ viết là: /iê/, /ua/, /uô/, /ưa/, /ue/
Ngoài thanh điệu ra, chính âm là thành tố duy nhất của âm tiết không bao giờ
có thể thay thế được bằng /zero/. Nó là yếu tố chính của phần vần (vận mẫu) cung cấp
cho toàn bộ âm tiết cái âm sắc chủ đạo của nó: âm sắc này bao quát toàn bộ âm tiết, kể
cả âm đoạn phụ âm tuyến tính.
Chung âm (âm cuối)
Chung âm là phần kết thúc âm tiết. Nó thường được biểu hiện bằng một âm tiết
khép vào trong âm tiết kín. Có hai bán nguyên âm cùng làm nhiệm vụ kết thúc âm tiết.
Trong các âm tiết hở, chung âm có dạng zero. Trong các âm tiết kín tiếng Việt chỉ có 8
chung âm là: /-p/, /-m/, /-n/, /-k/ và 2 chung âm bán nguyên âm /-w/, /-j/.
Âm đệm
Âm đệm là âm vị có tính chất đặc biệt với hai cách ghi: u và o.
Đặc điểm:
Nếu âm giữa đã là một nguyên âm tròn môi như u, ô, o, uô (ua) thì trước nó
không thể có âm đệm; nếu âm đầu là phụ âm môi như: ph, b, v, m thì sau nó trong vần
cũng không thể có âm đệm (những trường hợp như: phuy, buýt, moa, voan… đều là
những từ gốc nước ngoài phiên âm).
Âm đệm ghi u hay o là tùy theo hoàn cảnh có âm giữa và âm đầu nào.
Nếu trước âm đệm không có âm đầu mà âm giữa là i, ê, yê, â thì vần được ghi
là ủy, uể, uyên, uất; trong trường hợp này khi âm giữa là a, ă, e thì ghi oa, oắt, oe.
Nếu trước âm đệm có âm đầu mà âm đầu này không phải là “q” thì âm đệm
cũng được ghi như trên: duy, huê, thuyền, khuya, xuân… nhưng lại ghi là hoa, hoạt,
xoen, khoe…; nếu trước âm đệm có âm đầu mà âm đầu là “q” thì các vần: oa, oă,
oe… cũng ghi thành: ua, ue… ví dụ: quà, quăng, quét...
Như vậy nhìn chung về cách phân loại phần vần của âm tiết tiếng Việt của các
nhà nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu đều chia vần của âm tiết gồm có ba phần là âm đệm,
âm chính và âm cuối. Chính 3 phần này làm nên cốt lõi của phần vần có tác dụng rất
quan trọng trong âm tiết cũng như cách tạo nghĩa của từ (âm tiết).
Như trên đã nói, âm tiết tiếng Việt chia làm hai bậc. Phần vần được chia làm
các phần: âm đệm, âm chính và âm cuối. Vần là cơ sở của khuôn vần trong thơ, phần
vần có sự kết hợp chặt chẽ hơn so với âm đầu và thanh điệu.
1.4 Tính biểu trưng của vần trong âm tiết tiếng Việt
1.4.1 Khái niệm tính biểu trưng
Biểu trưng là một từ được dịch từ tiếng Anh (symbol) hay trong tiếng Pháp là
(symbole) là một khái niệm được sử dụng trong nhiều ngành học. Nó có nguồn gốc từ
tiếng La tinh (symbolus) nghĩa là dấu hiệu. Ở Việt Nam, từ ngữ này được dịch là biểu
trưng hay biểu tượng. Biểu trưng tồn tại rộng khắp các nền văn học và đời sống tinh
thần của một cộng đồng.
Trong văn học gần đây xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau về biểu trưng. Cho đến
nghệ thuật là nghĩa thuộc văn bản được hình thành trong văn bản, do những mối quan
hệ nhất định trong hệ thống văn bản quy định, đó là những ý nghĩa hàm ẩn mang tính
liên hội”[19; tr.21]. Ở đây ta thấy bà đã không đi vào giải thích định nghĩa biểu trưng
mà đi vào giải thích cơ chế hình thành và ý nghĩa của các biểu trưng.
Theo Nguyễn Văn Nở, “Biểu trưng là một hiện tượng mang tính phổ quát
trong các ngôn ngữ và trong nghệ thuật ngôn từ. Đây là hình thức dùng một sự vật,
hiện tượng nào đó để biểu hiện một cách trừu tượng, ước lệ về một cái gì đó mang tính
chất khái quát, trừu tượng”[13; tr.53]. Cách giải thích này của Nguyễn Văn Nở cho
thấy sự cảm nhận của các hình ảnh ở các ngôn từ đưa lại thiên về sự vật, hiện tượng.
Cách giải thích này nhìn chung có phần gần với giải thích về các hình ảnh tượng trưng,
ước lệ trong thơ hay ca dao tục ngữ.
Từ các định nghĩa trên về biểu trưng ta có thể nhận xét chung về biểu trưng của
vần trong thơ ca nói chung: “Nói tới biểu trưng là nói tới mối quan hệ có tính lí do
giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện, mối quan hệ được cảm nhận do sự liên tưởng
tương đồng”. Như vậy với tư cách là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ cũng là biểu
trưng. Chúng ta có thể hiểu biểu trưng của khuôn vần theo cách: “Chất liệu biểu trưng
là cái nằm bên ngoài, cái mà nó biểu trưng lại nằm sâu bên trong nội tâm”[19; tr.348]
để phân tích biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương.
1.4.2 Tính biểu trưng của các khuôn vần trong tiếng Việt
1.4.2.1 Theo Hữu Đạt
Trong cuốn cơ sở tiếng việt khi đi nghiên cứu về tiếng việt Hữu Đạt đã nhận
định là: Tiếng việt giàu âm thanh, nhạc điệu và giàu nguyên âm. Số lượng 16 nguyên
âm (đơn và đôi), 6 thanh điệu (cao - thấp) dẫn tới Tiếng Việt có khả năng tạo ra 1 khối
lượng lớn các vần làm tiền đề trực tiếp cho việc tạo các vần thơ.
Phần vần của âm tiết tiếng Việt không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa, mà trong tất
cả nhiều trường hợp, nó còn có tác dụng gợi hình. Đây chính là phương tiện làm nên
sự phong phú cho thơ ca. Chính vì vậy, theo ông khuôn vần có giá trị tạo hình rất cao.
Và ông tìm thấy những giá trị như sau:
Giá trị gợi hình trong một số khuôn vần tiếng việt
bán cầu”[4; tr.57].
- Vần “oe”: Là vần có giá trị gợi ra hình ảnh về những sự vật có kích thước mở
rộng ra. Ví dụ: loe, xòe, tòe, chòe…
Nguyên nhân: khi đang phát ra âm “oe”, môi đang chụm lại với hình dáng tròn
ở giai đoạn phát âm /o/ bổng bẹt ra. Kết thúc vần, khoang miệng chòe ra, rộng hơn lúc
ban đầu. Do đó, mô phỏng động tác cấu âm này có một số từ được cấu tạo đã có tính
chất gợi hình”[4; tr.57].
- Vần “eo”: Là vần có giá trị gợi ra hình ảnh về các sự vật có kích thước bị thu
hẹp lại hoặc ở tư thế không vững chãi:
Ví dụ: teo, héo, dẹo, cheo leo… hoặc các sự vật có kích thước mãnh và nhỏ. Ví dụ:
khẳng kheo, khò khè…
Nguyên nhân: khi phát ra âm vần “eo” miệng đang bẹt bổng thu lại có dáng
hình tròn. Do đó, một số từ cấu tạo theo âm vần này có hướng ngược với ngữ nghĩa
của một số từ mang vần “oe”.
Chính vì vậy, ông cũng có nhận xét là: “Ngoài ra tiếng Việt còn có một số vần
khác cũng mang nghĩa, song tính chất gợi hình của nó yếu”. Và “thông thường những
từ lấp láy có giá trị gợi hình rất cao” [4; tr.58].
Giá trị gợi hình của các nguyên âm trong tiếng Việt
Nguyên âm i: Là nguyên âm có giá trị gợi ra hình ảnh về các sự vật có kích
thước, âm thanh nhỏ bé.
Ví dụ: bé tí, lí nhí, thủ thi, rù rì, ỉ ôi, nhu mì, cái tí, tí teo, rầm rì, tỉ ti… [4; tr.58]
Nguyên âm e: Là nguyên âm có giá trị gợi ra hình ảnh về các sự vật mảnh và
nhỏ, các âm thanh bé và chói.
Ví dụ: các khe, thằng bé, thỏ thẻ, hé mở, le te, be be…
-19-
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
Từ khảo sát trên ông rút ra một lưu ý cho khuôn vần: “Tuy tiếng Việt có nhiều
Khuôn âm: có ý nghĩa liên quan tới “phần bên trong” của sự vật: ngâm, ngấm,
ngầm, ngẫm, nói thầm, tính nhẫm, thấm vào, xâm nhập, trung tâm, xầm xì…
Khuôn au: diễn tả sự “nhăn nhó” hay “đau đớn”: cau mày, đau đớn, cau có,
càu nhàu, dàu dàu, đau đáu, cáu kỉnh…
Khuôn ấp: biểu thị hai nghĩa chung:
Động tác mạnh, đột ngột, vội vã: khẩn cấp, gấp rút, tấp nập, tới tấp, ập vào,
đập, chập lại, rầm rập…
Động tác che kín: lấp kín, gấp lại, vùi dập, nhập lại, nằm sấp, ẩn nấp…
Khuôn iu: mang hai nghĩa chung:
Dính vào nhau: dan díu, mắc víu, tằng tịu, bấu víu, dính líu, chíu chít, nâng niu,
ngọng ngịu…
Mức độ cao: buồn thiu, nhỏ xíu, nặng trĩu, dịu nhỉu…
Khuôn êm: mang hai nghĩa chung:
Trạng thái “êm”, “mềm”: êm ái, êm đềm, ấm êm, mềm mại, êm, ban đêm…
Giữ cho chặt lại: chêm, têm, thêm thắt, nêm, têm trầu…
Khuôn ep: mô tả những sự vật “dài và giẹp” hoặc những động tác làm cho dài
và giẹp: khép nép, lép kẹp, tẹp nhẹp, nép, hẹp, cái nẹp, ép, bẹp…
-20-
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
Khuôn ip và im: cùng mang ý nghĩa “khép lại, dính sát vào nhau”: lim dim, díp,
mủm mỉm, chúm chím, chìm, ghim, đuổi kịp, rộn rịp, nhộn nhịp…
Khuôn oi: có những nghĩa sau:
Mô tả động tác, trạng thái “lòi ra”: doi đất, lẻ loi, thòi lòi, ngòi nổ, cái vòi, khói,
trơ trọi…
Chỉ “động tác cửa miệng”: nói, bói, ói, gọi…
Liên hệ âm thanh: inh ỏi, ỏm tỏi, chói tai, cái còi, la lói…
Khuôn ênh: mô tả các sự vật, động tác, trạng thái có tính “bấp bênh, không
vững vàng”: ghềnh thác, bấp bênh, công kênh, bập bênh, khấp khểnh…
Lê Trung Hoa cũng như nhiều nhà ngôn ngữ khác đã tìm hiểu và nhận thấy
được nhận giá trị biểu trưng của các khuôn vần trong tiếng việt. Chính vì vậy, ông đã
có cơ sở để giúp người đọc và người học hiểu đúng, viết đúng chính tả trong tiếng
Việt.
1.4.2.3 Theo Phi Tuyết Hinh
“Giá trị biểu trưng của khuôn vần được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau.
Trước hết nó là bộ phận cấu tạo từ láy không rõ thành tố gốc, đến bộ phận của từ láy
trong những từ láy có thành tố gốc và cuối cùng là bộ phận cấu tạo của từ đơn”[20;
tr.39]. Do đó, theo ông trong những trường hợp khác nhau, khuôn vần đều mang một
-21-
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
hình ảnh ngữ nghĩa nhất quán vào trong ý nghĩa của những từ mà nó có mặt. Và ông đi
vào khảo sát ấn tượng ngữ nghĩa của những khuôn vần trong từ láy ở các phương diện
từ láy không rõ thành tố gốc; những từ láy có ý nghĩa cụ thể là từ đơn.
Dưới đây là một số khuôn vần trích từ công trình nghiên cứu của ông trong
cuốn Từ láy những vấn đề còn để ngõ:
Biểu trưng của các nhóm khuôn vần “ơ”
Nhóm 1: Gồm các từ: bơ vơ, chơ vơ, lơ thơ, lơ vơ, lơ phơ.
Nói chung là những từ biểu hiện trạng thái lẻ loi, trơ trọi, thưa vắng.
Nhóm 2: Gồm những từ: thờ ơ, bơ thờ, bỡ ngỡ, lơ ngơ, lờ ngờ, lớ quớ.
Nói chung là những từ biểu hiện trạng thái không hòa nhập, không thích ứng.
Nhóm 3: Gồm những từ: lơ xơ, lớ xớ, lớ rớ, xớ rớ, nhờ nhờ, lờ lờ, lơ lớ.
Nói chung, đó là những từ biểu hiện trạng thái không xác định.
Nhóm 4: Gồm những từ: chơ hơ, hơ hớ, sờ sờ, rờ rỡ…
trạng thái sâu đắm, chìm ẩn: chăm, ngắm, nhắm, nhằm, bằm, vằm, găm, xăm, đắm,
giắm, cắm, nắm, bặm (bặm môi), gằm (cúi gằm), thẳm (sâu thẳm, xa thẳm, xanh
thẳm), hăm (hăm dọa), căm (căm hờn)…
Ấn tượng ngữ nghĩa của khuôn vần “âm”
-22-
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
Trong các từ không rõ thành tố gốc đã gợi ấn tượng “thầm lặng, ngầm ẩn”,
khuôn vần âm nằm trong thành tố láy của từ láy có thành tố gốc.
Nhóm 1: lầm râm, lâm thâm, lầm rầm, lẩm bẩm, lầm bầm, lẫm chẫm, ngâm
ngấm, tẩm ngẩm, tâm ngẩm, âm ỉ, xầm xì, nhâm nhi, lầm lũi, lậm lụi, ngậm ngùi, rấm
rứt. Nói chung đó là những từ gợi ấn tượng ngữ nghĩa nhỏ, lặng, thầm kín.
Nhóm 2: lầm lầm, hầm hầm, hâm hực, ậm ực, hậm hụi, hầm hè, hầm hừ, hậm
họe, rậm rật. Nói chung những từ này biểu hiện trạng thái nén giữ để không bộc lộ
thành lời hoặc hành động.
Nhóm 3: ậm ừ, ậm ợ, ấm ứ, dấm dớ, ậm ọe, dấm dẳn, nhấm nhẳn. Nói chung
những từ này biểu hiện trạng thái không rõ ràng, dứt khoát, không công khai bộc lộ ý
tứ (thường là trong cách nói năng).
Sự phối hợp của khuôn vần “âm” với các thành tố gốc chắc hẳn cũng không
phải là sự phối hợp ngẫu nhiên. Với ấn tượng “thầm lặng”, “ngầm ẩn”, khuôn vần
“âm” đã ghép với các từ láy khác tạo thành các từ láy miêu tả những cách nhìn mang
nghĩa ngầm ẩn, thầm lén: lầm lừ, lấm lét, ngấm nguýt, nhấm nháy; những cử chỉ, động
tác có ý lần tìm, ẩn dấu: mò mẫm, dò dẫm, sờ sẫm, thậm thụt, dấm dúi, dấm dứ…
Những từ đơn không mang khuôn vần “âm” cũng cậy, rất nhiều từ có ý nghĩa
nhỏ, lặng thầm, ngầm ẩn: câm, thầm, nhẩm, ngẫm, ngâm, ngầm, ngấm, ngậm, thấm,
dấm (mưa dầm)…
Như vậy từ khảo sát của một số khuôn vần (ơ, ăm, âm) Phi Tuyết Hinh đã cho
Biểu trưng của khuôn vần trong thơ Hồ Xuân Hương
+ Miêu tả âm thanh nhỏ: lí nhí, hí hí, ti tỉ…
+ Hình dáng, tính chất, trạng thái nhỏ: li ti, chi li, ti tí…
+ Ấn tượng nhỏ bé được liên tưởng tới trạng thái khép kín, bí, ít vận động: lì xì,
bí xí, rì rì…
+ Cách nói năng nhỏ nhẹ: thì thào, tỉ tê, ỉ oi…
+ Động tác, tính cách có liên quan tới cái nhỏ: chi chút, ki cóp, hi hữu…
+ Miêu tả tính động trong sự đối lập không đều nhỏ - to: ì ầm, tí tách, kì cạch…
Khuôn vần u có nguyên âm (âm chính) /u/:
Xét về lượng nguyên âm /u/ có âm lượng nhỏ nhất; về màu sắc: tối nhất trong
các nguyên âm. Do đó, nguyên âm /u/ có khả năng biểu trưng cho trạng thái tối và nhỏ.
Ví dụ:
+ Mô phỏng âm thanh trầm: ù ù, khù khù, vù vù…
+ Biểu hiện trạng thái thiếu ánh sáng: tù mù, âm u, lù mù…
+ Miêu tả hình khối nặng nề, gợi cảm giác bị che chắn làm tối không gian: bù
xù, lù lù, tú hụ…
+ Miêu tả trạng thái chậm chạp, kém trí tuệ: lù dù, cà rù, lù khù…
Khuôn vần a có nguyên âm (âm chính) /a/:
Nguyên âm /a/ có độ mở lớn nên khuôn vần /a/ thường diễn tả trạng thái to
vang, mạnh mẽ, dài rộng.
+ Biểu hiện trạng thái độ to vang của âm thanh (thường là diễn tả tiếng cười):
ha hả, hà hà, khà khà…
+ Cường độ hoạt động: ra rả, (mắng) sa sả, (rơi) lã chã…
+ Trạng thái kéo dài trong thời gian hoặc lan tỏa trong không gian: la cà, tà tà,
lả…
Khuôn vần ơ có nguyên âm (âm chính) /ơ/:
Chiếm vị trí trung gian trong các nguyên âm khác cả về âm lượng lẫn âm sắc.
có hai mặt đối lập.
+ Trạng thái nổi – chìm, cao – thấp: bập bênh, cập kênh, gập gềnh, khập
khiểng, nhấp nhô, tấp tểnh…
+ Trạng thái ẩn hiện: lấp ló, ngấp nghé, thập thò, thấp thoáng…
+ Trạng thái khép – mở, to – nhỏ: hấp hé, phập phồng, xập xòe, phập phùng…
+ Trạng thái tối – sáng, tỏ - mờ: bập bùng, lấp lánh, lập lòe, nhấp nháy, nhấp
nhoáng…
+ Trạng thái tâm lí nửa mừng nửa lo, nửa tin, nửa ngờ, nửa kín, nửa mở: khấp
khởi, thấp thỏm, bấp bênh, lấp lửng, lập lờ…
Khuôn vần có cặp nguyên âm /e-a/
Giá trị biểu trưng của khuôn vần này do sự phối hợp giữa các ấn tượng do các
nguyên âm /e-a/ tạo ra.
Các từ láy khuôn vần “ê – a” thể hiện giá trị biểu trưng trong ý nghĩa kéo dài về
thời gian hoặc mở rộng trong không gian: ê a, ề à, kề cà, khề khà, rề rà, lê la…
1.4.2.5 Theo Cù Đình Tú
Ông Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt thì nói
rằng “biểu trưng ngữ âm cũng chính là biểu tượng ngữ âm”. Vì vậy, khi đi tìm hiểu ý
nghĩa biểu trưng của khuôn vần chính là tìm hiểu về biểu tượng ngữ âm. Và ông cho
rằng: “biểu tượng ngữ âm không phải là nghĩa của từ, câu văn. Sự biểu tượng của ngữ
âm thường là rất chung, không rõ ràng tách bạch như nghĩa của từ ngữ, của câu văn”
[tr.235]. Do đó, theo ông biểu tượng ngữ âm được hình thành do 2 nguyên nhân sau:
Sự liên hội trong đầu óc những từ ngữ có một số nét giống nhau về cơ cấu ngữ
âm- ngữ nghĩa. Và do đó, nghĩa biểu tượng ngữ âm có sẳn trong ngôn ngữ, mang tính
chất ngôn ngữ.
Lựa chọn âm thanh trong khi sử dụng, tạo ra sự phù hợp, sự thống nhất giữa hai
hình thức ngữ âm và nội dung biểu đạt. Nên nghĩa biểu tượng ngữ âm hình thành theo
cách này thường là biểu tượng xuất hiện lâm thời trong lời nói sẽ phụ thuộc vào lời
nói.
Xét ở trường hợp thứ nhất ông đưa ra một số biểu tượng ngữ âm của các khuôn vần