tìm hiểu lịch sử vấn đề, đánh giá yếu tố tục và dâm trong thơ hồ xuân hương - Pdf 24

Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
Nói về bản chất và ý nghĩa của cái tục
cũng khó như nói về Thượng Đế.
-Henry Miller-
Vấn đề dâm tục trong thơ Hồ Xuân
Hương, như Trái Đất, không là mới.
Nhưng có lẽ, cũng như Trái Đất, nó
không bao giờ cũ, nhất là khi tìm ra vị
trí quan sát mới.
- Đỗ Lai Thuý-
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài.
Thiên tài, kỳ nữ, ca nữ, thi hào dân tộc, Bà chúa thơ Nôm, hay nói giản dị
hơn: Nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Tên tuổi kỳ diệu và kỳ lạ Êy đã gây không Ýt
những cuộc tranh luận, có người còn hoài nghi: có Hồ Xuân Hương thật không?
1
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
…Dù thế nào mặc lòng chúng ta đã có Hồ Xuân Hương trong đời. Vượt qua
những lời bàn nghiêm khắc, Hồ Xuân Hương vẫn tự mình sừng sững như một
ngọn núi Hồng, một dòng sông Lam, như trận gió Lào xứ Nghệ. Hồ Xuân
Hương đã tự khẳng định và chiếm giữ một vị trí đặc biệt trong làng thơ Việt
Nam với một di sản tinh thần không nhiều: khoảng năm chục bài thơ Nôm trong
đó có bài ở dạng “ tồn nghi " với một tập thơ “ Lưu Hương Ký” – từ khi phát
hiện tới nay, không ai phủ nhận nó nhưng các nhà nghiên cứu vẫn sử dụng một
cách dè dặt.
Chính sự phức tạp về tiểu sử, về văn bản cùng với những vần thơ lạ lẫm ,
độc đáo đã là nguồn đề tài hấp dẫn đối với những người nghiên cứu cũng như
những ai quan tâm đến văn học. Các nhà phê bình văn học mỗi khi đặt bút viết
về Bà đều chau mày, kết luận: không rõ năm sinh, năm mất, không rõ thân phụ
Hồ Xuân Hương là ai. Chỉ biết rằng nàng ở Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An.
Hồ Xuân Hương đã để lại cho nền văn học dân tộc một số lượng thơ văn


2.Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu.
Vì đề tài mang tính chất tổng hợp nên đối tượng nghiên cứu của khóa luận
là tổng thuật các công trình nghiên cứu. Thơ Hồ Xuân Hương đã được xem xét
với phạm vi đa dạng từ nhiều phương diện khác nhau về thời đại Hồ Xuân
Hương, cuộc đời, thân phụ, mối quan hệ họ hàng, tình sử, tình hình văn bản,
những vấn đề nội dung và nghệ thuật. Đặc biệt là lý giải yếu tố tục và dâm trong
thơ Bà.
3
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
Hướng nghiên cứu của khoá luận là tìm hiểu lịch sử vÊn đề và đánh giá
các ý kiến bàn về yếu tố tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương nên tư liệu cho
phần này khá phong phó. Trong khoá luận chúng tôi sử dụng để tham khảo và
trích dẫn các công trình nghiên cứu khoa học lớn, các chuyên luận và giáo trình
lịch sử văn học, các tiểu luận và bình giảng, các bài tham luận đánh giá của
người nước ngoài, luận văn tốt nghiệp, sách giáo khoa, ở quy mô nhỏ hơn là các
tiểu luận nghiên cứu khoa học đăng tải trên các tạp trí Văn học, Văn nghệ, Văn
Sử Địa, Văn hoá dân gian, nghiên cứu tôn giáo và những lời giới thiệu qua các
lần xuất bản thơ Hồ Xuân Hương.
Do điều kiện thời gian làm khoá luận có hạn nên chúng tôi không thể bao
quát hết những công trình nghiên cứu ở phía Nam hoặc một số sách cũ xuất bản
từ rất lâu hiện không tìm thấy ở thư viện song chúng tôi đã cố gắng trích dẫn
theo các công trình nghiên cứu gần đây và không bỏ sót các công trình, các ý
kiến quan trọng.
3.Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
Trước hết, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng thuật để thống kê các tài
liệu nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương. Từ đó chúng tôi đọc và phân loại theo từng
nhóm vấn đề lớn: Về tác giả, văn bản, nội dung. Trong phần nội dung lại phân
loại theo hướng: nội dung lành mạnh, nội dung không lành mạnh hoặc những ý

5.1 Những thuận lợi.
5
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
Hồ Xuân Hương là một nhà thơ độc đáo trong nền văn học Việt Nam, thơ
Bà đã được nhiều người thuộc, nhiều người nhớ, đặc biệt dễ gây hứng thú hấp
dẫn người đọc. Cũng đã có không Ýt công trình khảo cứu về Hồ Xuân Hương
mà ở mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường lại có một bước phát triển về chất. Do đó
chúng tôi có điều kiện để tham khảo, học tập.
5.2 Những khó khăn.
Khi làm khóa luận chúng tôi gặp phải một số khó khăn: Thứ nhất là về
mặt thời gian, từ khi nhận đề tài cho đến khi hoàn thành khóa luận chỉ vẻn vẹn
trong vòng khoảng hai tháng. Đây có thể nói là một thời gian eo hẹp đối với một
đề tài có tính tổng hợp và đối với một người mới tập dượt làm công việc nghiên
cứu. Thứ hai là cuộc đời nhà thơ chưa xác định rõ ràng, mặt khác số lượng thơ
Hồ Xuân Hương không nhiều nhưng lại không minh định về tác giả mà có thể có
cả thơ “nặc danh”. Do đó, không thể đánh giá đúng tư tưởng thơ văn của Hồ
Xuân Hương khi chưa nắm rõ về thân thế, cuộc đời của Bà. Hơn nữa, các công
trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương lại ngổn ngang, phức tạp, mâu thuẫn, vấn
đề mà các nhà nghiên cứu nêu ra chưa giải quyết triệt để.
Với mét số khó khăn cơ bản như vậy, chúng tôi vẫn mạnh dạn thực hiện
đề tài dù khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi hi vọng được các
thầy, cô giáo, bạn bè và bạn đọc chỉ giáo cho bước rèn luyện đầu tiên trong công
việc nghiên cứu của mình. Chương 1
CHƯƠNG 1
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU HỒ XUÂN HƯƠNG.
6
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43

truyền nên không tránh khỏi sự cực đoan hoặc đề cao hoặc phê phán một chiều.
Giai đoạn hai từ sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tình hình xã
hội có thuận lợi hơn nên việc nghiên cứu Hồ Xuân Hương bước vào một giai
đoạn khác về chất so với trước đó. Nổi bật và đáng chú ý hơn cả là bài “Bàn góp
về nguồn gốc giai cấp của Hồ Xuân Hương” của Hồ Tuấn Niêm [37] và cuốn
“Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ văn học và giáo dục” của Văn Tân [18].
Cùng với ông Hồ Tuấn Niêm, ông Văn Tân là một trong những người đầu tiên
vận dụng quan điểm duy vật lịch sử trong việc nghiên cứu một tác gia văn học,
đặt Hồ Xuân Hương trong tương quan với các mối quan hệ xã hội, trong bối
cảnh lịch sử. Trong cuốn sách của mình, ông Văn Tân đã phân tích khá rõ ràng
chi tiết các vấn đề: Tiểu sử, giai cấp tính, ông xem xét xã hội Việt Nam trong
thời đại Hồ Xuân Hương, xem xét cá tính Hồ Xuân Hương hay là những nhân tố
tạo nên ý thức tư tưởng Hồ Xuân Hương… đồng thời ông đánh giá những mặt
đóng góp tích cực của Bà vào lịch sử văn học dân tộc. Đặc biệt trong công trình
của mình, ông đã cố gắng cụ thể hóa mối quan hệ giữa Hồ Xuân Hương với vị
anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ. Tuy nhiên, những hạn chế là điều không thể
tránh khỏi nhưng công trình nghiên cứu của Văn Tân vẫn đáng được xem như
cột mốc quan trọng trên chặng đường nghiên cứu về Hồ Xuân Hương theo một
phương pháp luận mới.
Ở cuối thập kỷ 50, với “Hồ Xuân Hương- Bà chúa thơ Nôm’’, Xuân Diệu
đã góp một tiếng nói đáng trân trọng vào việc nghiên cứu Hồ Xuân Hương. Với
8
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
sự cảm thụ tinh tế, tài hoa của một nhà thơ, với vốn hiểu biết sâu sắc về xã hội,
văn hoá, lịch sử thời đại, với một nhãn quan tiến bộ, một thái độ nghiêm túc của
nhà phê bình, Xuân Diệu đã khám phá ra tầm tư tưởng cũng như tính độc đáo và
bản lĩnh của một trong “ba thi hào dân tộc’’. Từ đây bạn đọc đến với thơ Hồ
Xuân Hương với một thiện tình phóng khoáng hơn, cởi mở hơn.
Bước sang thập kỷ 60, các nhà nghiên cứu bắt đầu đi sâu vào văn bản để
thẩm định lại về thân thế Hồ Xuân Hương và cũng là để công bố những tài liệu

thể nói, cùng với những phát hiện mới mẻ của các nhà nghiên cứu, bài viết của
Nguyễn Đức Bính và cuộc tranh luận của Vũ Đức Phúc “Thơ Hồ Xuân Hương :
Ông Nguyễn Đức Bính và thơ Hồ Xuân Hương”[39] đã làm cho vấn đề Hồ Xuân
Hương nổi bật lên như một trong những tác giả được bàn luận sôi nổi nhất trong
giới nghiên cứu văn học nước ta khi Êy.
Bước sang thập kỷ 70, vấn đề Hồ Xuân Hương tiếp tục được bàn đến
trong việc trao đổi về tiểu sử của Bà, cụ thể là mối quan hệ giữa Hồ Xuân Hương
với Nguyễn Huệ trên Tạp chí văn học và Tạp chí lịch sử. Trong cuộc trao đổi
này, nhà nghiên cứu Hồ Tuấn Niêm đã dày công tìm hiểu sâu hơn mối quan hệ
họ hàng giữa Hồ Xuân Hương và Nguyễn Huệ – mối quan hệ mà ông Văn Tân
chứng minh từ năm 1955 trong “Hồ Xuân Hương với các giới phụ nữ văn học và
giáo dục”[18].
Về mặt tư liệu, đáng chú ý hơn cả ở thập kỷ này là việc phát hiện bài tản
văn “Xuân đường đàm thoại” và dị bản “Xuân đình đàm thoại”. Từ khi hai văn
bản này được công bố đã không Ýt người băn khoăn về thời đại sống của Hồ
10
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
Xuân Hương cũng như năm và nơi mất của Bà. Dựa vào văn bản này, có người
còn chứng minh thêm rằng: ông Phủ Vĩnh Tường trong thơ Hồ Xuân Hương
chính là ông Phạm Viết Đại (1802 – 1862). Đến năm 1999 trong cuốn “Hồ Xuân
Hương , tiểu sử văn bản tiến trình huyền thoại dân gian hoá”[23] Đào Thái Tôn
lại muốn chứng minh và khẳng định : Tuy không phải là tài liệu xác thực về tiểu
sử Hồ Xuân Hương nhưng Xuân đường đàm thoại vẫn có một ý nghĩa đáng kể
trong việc nghiên cứu. “Nó chính là một bằng chứng sinh động, là một nhịp nối
trên bước đường huyền thoại và dân gian hoá về tiểu sử và thơ ca của Bà”. [23;
22].
Tiếp tục cuộc hành trình nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, thập kỷ 80 đã
ghi nhận công trình khảo cứu “Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long” của giáo sư
Hoàng Xuân Hãn như một sự đánh dấu về sự chuyển biến trong việc nghiên cứu
tiểu sử Hồ Xuân Hương. Ông cung cấp thêm chi tiết Hồ Xuân Hương đã từng

Nhóm các nhà nghiên cứu cho rằng cha Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Diễn. Nhóm
thứ hai lại khẳng định Hồ Sĩ Danh mới là cha Hồ Xuân Hương.
Như trên đã nêu, “ Giai nhân di mặc” của Nguyễn Hữu Tiến là cuốn sách
đầu tiên viết về Hồ Xuân Hương ở dạng nghiên cứu “ sự tích và thơ từ Hồ Xuân
Hương”. Nguyễn Hữu Tiến đã gán cho mỗi bài thơ một câu chuyện rồi xâu chuỗi
lại thành một cuốn “tiểu thuyết” về cuộc đời Bà. Cuốn sách này có tám đoạn như
12
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
kiểu “tiểu thuyết chương hồi” và ngay từ đầu cuộc đời Hồ Xuân Hương đã được
phủ lên một tấm màn huyền bí cổ tích :
“ Khi Êy ở phường Khán Xuân có nhà họ Hồ, vợ là Hà thị, nguyên tổ tích
từ Nghệ An ra ở đấy, nhà trông xuống Hồ Tây. Hồ thị hai vợ chồng hiếm hoi,
vẫn thường ra cầu đảo ở chùa Trấn Võ. Một đêm kia Hà thị nằm mơ mơ màng
màng thấy có một người cao lớn dị thường mắt sáng như gương da đen tựa sắt
bước vào đưa cho một cái gương có bóng ngọc thỏ, lóe sáng rực lên. Hà thị giật
mình tỉnh dậy, từ bấy giờ cảm động có thai, mãn kỳ sinh được một đứa con gái.
Khi đứa bé Êy mới sinh trong bàn tay hãy còn có vết tròn tròn như vành gương
soi trong lúc mộng, cha mẹ lấy làm kinh dị, nhân theo tên làng [?] và nhớ điềm
lúc mộng [?] mới đặt tên là Hồ Xuân Hương [?]”. Trong sách của Nguyễn Hữu
Tiến, Hồ Xuân Hương được sinh ra như thế, nghĩa là khác với lẽ bình thường.
“Khi Êy”lµ khi nào, bao giờ, dưới thời đại nào không rõ, “khi Êy” là thời gian
phiếm định, chỉ thường thấy trong truyền thuyết, thần thoại, cổ tích. “Nhà họ
Hồ” nhưng cũng không biết tên họ cụ thể là gì? Hơn nữa theo Nguyễn Hữu Tiến
viết thì Xuân Hương là đứa con cầu tự, như một sự đầu thai mà có như Thạch
Sanh , Sọ Dừa, tên làng mà cũng không thấy tên đâu. Mọi chuyện đều rất mê mê,
ảo ảo như truyền thuyết vậy.
Cha Hồ Xuân Hương là Hồ Phi Diễn hay Hồ Sĩ Danh? Người ta đã tranh luận rất
nhiều thậm chí còn khá gay gắt. Có thuyết cho rằng Hồ Xuân Hương sinh
khoảng năm 1770 nàng là con của Hồ Phi Diễn (1703-1786) quê ở làng Quỳnh
Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Cuốn sách đầu tiên khẳng định điều này

14
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
Phi Diễn anh em con chó con bác lại rất xa, kể ngược lên đến đời thứ 10 mới
cùng một ông tổ”.
Mặc dù Trần Thanh Mại đưa ra ý kiến kèm những lập luận chặt chẽ như
vậy nhưng ông Hồ Tuấn Niêm trong bài “Bàn lại một đôi điểm về tiểu sử Hồ
Xuân Hương” trên Tạp chí văn học số 1/ 1972 lại bác bỏ ý kiến của ông Trần
Thanh Mại , ông chủ trương Hồ Xuân Hương không phải là con Hồ Sĩ Danh .
Để chứng minh điều này, Hồ Tuấn Niêm viện dẫn Quỳnh Đôi hương biên,
Quỳnh Đôi hồ tộc khoa danh trương biên, Gia phả chi Hồ Sĩ Danh. Theo Hồ
Tuấn Niêm thì Hồ Sĩ Danh đây đúng là Hồ Sĩ Danh mà ông Trần Thanh Mại đã
nói tới nhưng lại không phải là cha Hồ Xuân Hương . Gia phả chi Hồ Sĩ Danh
ghi rõ : Hồ Sĩ Danh chỉ có năm người con , đều là con trai : Hồ Sĩ Dược, Hồ Sĩ
Đống , Hồ Sĩ Thích , Hồ Sĩ Thu , Hồ Sĩ Hữu . Hơn nữa chính trong Quỳnh Đôi
hương biên ( được biên soạn vào những năm 40 của thế kỷ trước ) có ghi chép
khá đầy đủ về gia đình Hồ Sĩ Danh mà vẫn không có một dòng nào nói là ông có
lấy vợ lẽ và sinh con gái . Ông Hồ Tuấn Niêm cũng bác bỏ chi tiết Trần Thanh
Mại cho rằng “ mẹ Hồ Xuân Hương chỉ là một người hầu thiÕp của Hồ Sĩ
Danh , lúc ông này chết (1783) bà không muốn sống thêm cái kiếp đoạ đầy cực
nhục nên mang Hồ Xuân Hương về Hà Nội sinh sống và cho con ăn học ở đây
trong sự nghèo túng nhưng Êm cúng , thoải mái”. Nếu đặt trong hoàn cảnh xã
hội đương thời thì điều này thật khó tưởng tượng và khó tin . Vậy ý kiến của ông
Trần Thanh mại không hợp lí, Hồ Xuân Hương không phải là con gái của Hồ Sĩ
Danh . Nhưng tại sao Tèn Phong Thị lại nói như vậy? Các nhà nghiên cứu nghi
ngờ tác giả lời tựa Lưu Hương Ký hiểu nhầm chữ “muội” trong câu“Hoàng giáp
Hồ tướng công chi muội” . “ Hoàng giáp Hồ tướng công” đúng là chỉ Hồ Sĩ
Đống như ông Mại nhận định . Nhưng chữ “ muội” nên hiểu theo nghĩa là em gái
15
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
ruột thì không đúng vì Hồ Sĩ Danh không có vợ lẽ và con gái như đã nêu ở trên,

là con Hồ Phi Diễn . Sau này Đào Thái Tôn cũng quả quyết “ tất cả các sách gia
phả họ Hồ có trong Thư viện KHXH hiện nay , không có sách nào chép chi tiết
này, thậm chí ba chữ Hồ Phi Diễn cũng không có. Ở làng Quỳnh Đôi hiện nay,
một số gia phả có chép về Hồ Phi Diễn nhưng tiếc rằng đó là sách chép gần
đây”[22;270] .
Nếu ông Đào Thái Tôn không đồng ý khi cho rằng cha Hồ Xuân Hương là
Hồ Phi Diễn thì ông Hồ Tuấn Niêm lại nghiêng về thuyết này. Trong “ Thiên
tình sử Hồ Xuân Hương” giáo sư Hoàng Xuân Hãn có viết :
“ Tuấn Niêm cho hay có ghi Hồ Phi Diễn trong các sách sau :
Hồ tôn thế phổ.
Hồ tộc thế phổ.
Hồ tộc hiền lục.
Hồ đại tộc tiên tổ thuỵ hiệu.
Hồ téc khoa danh trường biên.
Hồ tộc tông thứ phổ ký.
để trả lời cho câu hỏi “ Có thực Hồ Xuân Hương là con Hồ Phi Diễn không” ,
cả ông Hồ Tuấn Niêm vào năm 1971 và giáo sư Hoàng Xuân Hãn năm 1983 đều
tin rằng đó là sự thực bởi có ba tài liệu ( bút chứng) là :
-Phổ 1 ( tức Hồ tôn thế phả).
-Phổ 6 ( Hồ tộc tôn thứ phổ ký).
- Thư đề ngày 27/9/1971 của ông Hồ Mậu Đờn.
17
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
Khi xem xét , người ta thấy những chữ “ Phi Diễn sinh nữ Xuân Hương ư
Khán Xuân phường” thực ra đã được ghi thêm vào sau năm 1957 nên không có
giá trị “ bút chứng”. Còn bút chứng thứ hai thì ông Hồ Tuấn Niêm lại nói là có
được đọc ( không còn sách). Tài liệu thứ ba là lá thư của ông Hồ Mậu Đờn gửi
cho ông Hồ Tuấn Niêm từ Nghệ An đề ngày 27/ 9/ 1971, “ là mang ý nghĩa bút
chứng nhưng xét ra chẳng có giá trị là bao”[23;47].
Như vậy việc xác định thân phụ Hồ Xuân Hương vẫn chưa có sự thống

Nguyễn , khoảng nửa đầu thế kỷ XIX” [15;27].
Gần hai thế kỷ, hàng trăm người nghiên cứu và viết về Hồ Xuân Hương đều
chau mày hạ bút một cách chung chung: “ Bà sống khoảng cuối Lê đầu
Nguyễn”… Thực ra, đây là một khoảng thời gian hết sức co giãn, khó xác định.
Bởi vì, tính thời nhà Hậu Lê bắt đầu từ Lê Duy Ninh, niên hiệu Nguyên Hoà
(1533 – 1548) đến Lê Duy Kỳ, niên hiệu Chiêu Thống (1787 – 1788) tròn 255
năm. Còn nhà Nguyễn tồn tại trong 143 năm, bắt đầu từ Nguyễn Phúc Ánh, niên
hiệu Gia Long (1802 – 1820) đến Nguyễn Vĩnh Thuỵ, niên hiệu Bảo Đại (1926 –
1945). Nói “ cuối Lê đầu Nguyễn”, là nói tới buổi giao thời từ Lê Chiêu Thống
qua Tây Sơn đến Gia Long. Thế nhưng, thời gian của Lê và Nguyễn là hai triều
đại dài, chính vì thế không biết là Hồ Xuân Hương chủ yếu ở phía nhà Lê hay
nhà Nguyễn, sự co giãn cũng phải hàng vài chục năm. Điều này cho phép dung
hoà rất nhiều giả thiết về năm sinh, năm mất của Hồ Xuân Hương nhất là tình
hình tư liệu hiện nay.
19
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
Nhưng không một giả thiết nào về Hồ Xuân Hương còn có thể đứng vững
được cũng như sẽ phải giã từ tất cả những cách hiểu trước đây khi “Xuân đường
đàm thoại” cho biết năm mất của Hồ Xuân Hương là 1869! Vậy hẳn là Hồ Xuân
Hương đã sống, thậm chí đã sinh ra vào đầu đời Nguyễn – sau Tây Sơn, điều này
cũng có nghĩa là phải xếp Xuân Hương vào “ chiếu” các tác gia văn học triều
Nguyễn chứ không phải ở thời Tây Sơn, việc sắp xếp này có ảnh hưởng trực tiếp
tới việc nhận xét và bình giá thơ văn của Hồ Xuân Hương.
Hiện giờ vẫn chưa xét tài liệu nào là đáng tin và tin ở mức độ nào nhưng
để nói một điều về thời đại Hồ Xuân Hương thì đó là một thời đại khủng hoảng,
một nhà nước đang trên con đường suy vi mà sự băng hoại của nó về đạo đức là
điều không thể tránh khỏi. Mỗi cá nhân thuộc về một xã hội nhất định, thơ văn
của họ dù ngụy trang dưới bất cứ một hình thức nào thì đó vẫn là lời phát biểu
trung thành về thời đại mình. Nét độc đáo, sự lạ lẫm trong thơ Xuân Hương một
phần cũng chính là sản phẩm của thời đại Xuân Hương.

(Chớ có đi lên mồ Xuân Hương nhé ,
Ở nơi suối vàng nàng đang có mối hận tơ duyên)
Hay :
“ Trụy phấn tàn chi thổ nhất doanh
Xuân Hương quy khứ thảo thanh thanh”
( Son tàn phấn nhạt chỉ còn một nấm mồ
21
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
Xuân Hương đã mất rồi, cỏ mọc lên xanh mướt).
Vấn đề trở nên phức tạp khi bài tản văn “Xuân đường đàm thoại” được
công bố, trên Tạp chí văn học số 3 / 1974 ở mục sưu tầm cho biết,“ Xuân đường
đàm thoại” là một bài văn của Tam Nguyên Trần Bích San ( 1840 – 1878) biệt
hiệu Mai Nham, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Bài này
được chép trong tập Danh thi tạp lục, do ông Trần Tường phát hiện và công bố,
ông Trần Quát phiên âm, dịch nghĩa.
Bài “ Đôi điểm về tài liệu liên quan đến năm mất của nữ thi sĩ Hồ Xuân
Hương”[29] Nguyễn Thị Thảo – Bạch Hào lại phát hiện một dị bản của “ Xuân
đường đàm thoại” có tên là “ Xuân đình đàm thoại” chép trong sách “Hương
tÝch động ký” ( ký hiệu A. 2533, thư viện viện thông tin KHXH, Hà Nội) và
không có tên tác giả. Xét hai văn bản này thấy có sự sai khác về thời điểm ngay
ở câu mở đầu. Bản của Trần Tường chép “ Tự Đức trấp nhị, Kỷ Tỵ đông quý, dĩ
lập xuân hỹ” ( cuối mùa đông năm Kỷ Tỵ, Tự Đức thứ 22 ( 1869), đã đến tiết lập
xuân rồi vậy). Còn bản được phát hiện bởi Nguyễn Thị Thảo – Bạch Hào chép “
Quý Tỵ đông chi quý dĩ lập xuân hỹ” ( cuối mùa đông năm Quý Tỵ, đã đến tiết
lập xuân rồi vậy ). Xuân đường đàm thoại đã mang đến “một tiếng nói khác lạ”
làm nhiều người sửng sốt và những kết luận nghiên cứu trước đó bị lung lay. Tài
liệu này cho người đọc biết mãi đến năm 1869, tức năm Tự Đức thứ 22, tức là
sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta ( 1858 ) Hồ Xuân Hương mới qua đời.
Một người tên là Ngô Ban trong Xuân đường đàm thoại cho biết : “ Tài nữ tỉnh
Nghệ An, hiệu Cổ nguyệt đường, tự Xuân Hương chết rồi ! Tôi và vài người nhà

23
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
Hoàng cho biết “ tên Phủ Vĩnh Tường từ năm 1822 mới có. Phủ Êy giữ tên Tam
Đái suốt đời Gia Long. Đại Nam nhất thống chí quyển Sơn Tây chép rằng: Năm
Minh Mạng thứ hai ( 1821 ) đổi ra Tam Đa ( có lẽ kiêng tên Đái, cho là tục ).
Năm thứ ba ( 1822 ) lại đổi ra Vĩnh Tường. Nếu Hồ Xuân Hương mÊt trước hay
sau vào năm Êy thì không thể làm vợ một ông Phủ Vĩnh Tường”[6]. Vậy bài thơ
Nôm “ Khóc ông phủ Vĩnh Tường” quyết không phải của Hồ Xuân Hương và
Xuân Hương không có chồng là tri phủ Vĩnh Tường. Theo giáo sư Hoàng Xuân
Hãn thì khoảng năm 1818, Hồ Xuân Hương làm vợ bé quan Tham hiệp trấn Yên
Quảng, nghĩa là bà quan lớn đầu hàng văn tại Quảng Yên ngày nay. Lê Xuân
Sơn trong bài “ Hồ Xuân Hương có thực không và nàng lấy ai ?” cũng khẳng
định “ mối tình cuối cùng xác định được và cũng là mối tình duy nhất dẫn đến
hôn nhân được biết đến của Hồ Xuân Hương là với viên hiệp trấn Yên Quảng
( Quảng Ninh ) Trần Phúc Hiển”. Trong Quốc sử di biên ( dẫn theo Hoàng Xuân
Hãn ) cho biết : “ Quan tham hiệp trấn Yên Quảng bị tội tử hình, vì doạ nạt dân
để lấy của. Ruộng tại châu Vạn Ninh bị bỏ hoang nhiều. Quan tham hiệp Ðp dân
phở làm ruộng cày. Nhân đó đòi dân đút tiền, kể đến bạc nghìn. Dân châu này
kiện. Viên án thủ ( trách nhiệm an ninh ) Dung tố cáo làm ông bị giam chặt trong
một năm. Vợ bé ông tên là Xuân Hương, giỏi về văn chương và chính trị, bấy
giờ nổi tiếng là tài nữ. Quan tham hiệp thường sai nàng dự vào việc quan. Viên
án thủ Dung vốn sợ , ghét nàng …”( chép năm Gia Long thứ 18 – Kỷ Mão
1819 ).
Vẫn theo Hoàng Xuân Hãn cung cấp, sách chính sử Đại Nam thực lục
( chính biên đệ nhất kỷ, quyển 57, trang 12a ) có ghi chuyện này nhưng chuyện
lại chép vào tháng 5 năm trước, tức năm Mậu Dần 1818: “ Quan tham hiệp trấn
Yên Quảng là Trần Phúc Hiển, ăn tiền hối lộ của dân đến bảy trăm quan, sù Êy
24
Nguyễn Minh Nga Lớp Văn _K43
lé ra. Vua nói : “ Tham nhũng như thế mà không giết thì lấy gì mà khuyến liêm”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status