Tư tưởng nhân văn trong thơ Hồ Xuân Hương - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o
ĐỖ THỊ HẠNH

TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN TRONG THƠ
HỒ XUÂN HƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐỖ THỊ HOÀ HỚI

3
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tinh thần nhân văn đã trở thành nét truyền thống quý báu của dân tộc
Việt Nam. Ngay từ xưa, trong ca dao dân ca của người Việt đã có những câu
thể hiện rõ nét tinh thần nhân văn ấy như: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn”, hay “Thương người như thể thương
thân”… Dòng chảy tinh thần nhân văn ấy tiềm tàng nhưng mãnh liệt xuyên
suốt tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam, nhưng phải đến tận
cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX nó mới thực sự phát triển mạnh và trở
thành một trào lưu tư tưởng mang tính bộc phát.
Chúng ta đều biết, cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX là thời kỳ đánh
dấu sự mục ruỗng và suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam. Song trong
chính bối cảnh xã hội rối ren, con người bị đè nén đến cùng cực như vậy thì
những tiếng nói phản kháng chống lại sự hà khắc của chế độ phong kiến, đòi
hỏi quyền sống, bảo vệ những giá trị của con người càng được đề cao. Những
nguyên tắc, lễ nghi phong kiến xơ cứng không còn đủ sức để trói buộc con
người, mà ngược lại người ta luôn mong ước được giải phóng ra khỏi những
nghi lễ ràng buộc ấy, ước mơ được tự do, được hưởng những hạnh phúc trần
tục đời thường mà vì những lý do khuôn mẫu giáo điều người ta vẫn khinh rẻ
và chối bỏ chúng. Các nhà Nho tiêu biểu như Lê Hữu Trác, Nguyễn Du,
Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…
chính là các nhà tư tưởng tiêu biểu của thời đại đã nói lên tiếng nói chung,

khởi phát của tư tưởng nhân văn ở Việt Nam với hàng loạt các nhà tư tưỏng
tiêu biểu như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Gia Thiều, Cao Bá
Quát…và đặc biệt là Hồ Xuân Hương.
Nhiều công trình nghiên cứu xác lập nhiều cứ liệu chân thực đã
khẳng định Hồ Xuân Hương là một nhân vật lịch sử và là một nhà thơ lớn có
những tư tưởng vô cùng đặc sắc, cho nên về con người, thơ văn và tư tưởng
của bà đã được rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trên nhiều bình diện
khác nhau, điều này đã thể hiện tập trung, thống nhất qua thư mục hơn một

5
trăm công trình nghiên cứu mà chúng tôi sắp xếp trong thư mục tài liệu tham
khảo.
Trước hết là về vấn đề lịch sử nghiên cứu tiểu sử, tác phẩm Hồ Xuân
Hương: như đã khẳng định ở trên, sự xuất hiện của Hồ Xuân Hương là một
hiện tượng độc đáo văn chương, văn hoá và nhất là trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam, vì vậy nghiên cứu về Hồ Xuân Hương là một đề tài thu hút sụ chú ý của
rất nhiều các nhà nghiên cứu từ trước cho đến nay. Theo thời gian, có thể chia
lịch sử nghiên cứu Hồ Xuân Hương làm hai giai đoạn lớn là trước và sau năm
1975.
* Trước 1975: Việc nghiên cứu Hồ Xuân Hương đã phát triển khá
rầm rộ và đã thu được những kết quả nhất định. Trong số các công trình sớm
nhất trước cách mạng nghiên cứu về Hồ Xuân Hương phải kể đến Quốc văn
trích diễm (Dương Quảng Hàm, 1925), Nam thi hợp tuyển (Nguyễn Văn
Ngọc, 1927), Nữ lưu văn học sử ( Lê Dư, 1927) Qua các công trình nghiên
cứu trên, chúng tôi tiếp nhận được rằng phần lớn các tác giả đã phác hoạ
những nét khái quát nhất về tiểu sử và văn bản, nội dung các tác phẩm chính
yếu của Hồ Xuân Hương. Tiếp sau đó là các nhà nghiên cứu đã chú ý hơn tới
con người và đặc điểm thơ Hồ Xuân Hương, Tản Đà nhận xét về Hồ Xuân
Hương và thơ của bà là: “Trong thơ có ma. Song mà nhận ra thời tục”, hay
Nguyễn Văn Hanh trong tác phẩm “Hồ Xuân Hương – thân thế - tác phẩm –

và giáo dục” của nhà nghiên cứu Văn Tân, năm 1957, đã có những nhận xét
xác đáng về giá trị thơ Hồ Xuân Hương đối với thời đại của bà, và nhiều tác
phẩm khác…
Như vậy, mặc dù trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh nhưng
trước năm 1975, giới nghiên cứu đã có những thành quả đáng trân trọng trong
việc nghiên cứu tiểu sử, văn bản thơ của hiện tượng Hồ Xuân Hương. Với
những công trình nghiên cứu công phu, có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa Hồ
Xuân Hương lên một vị trí xứng đáng, ngang tầm với các nhà tư tưởng lớn
của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… Song về chi tiết còn nhiều điều
chưa có được sự thống nhất.

7
* Bước sang giai đoạn sau năm 1975: Việc nghiên cứu Hồ Xuân
Hương có điều kiện tiếp tục được chú ý. Các nhà nghiên cứu chú tâm đến sự
tương quan giữa phần Lưu hương ký mới phát hiện được và phần thơ Nôm
truyền tụng của Hồ Xuân Hương. Về vấn đề này, có nhiều ý kiến khác nhau
chẳng hạn như nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc chủ trương mặc dù cần tính đến
Lưu hương ký song cần lấy thơ Nôm truyền tụng làm căn cứ nghiên cứu.
Ngược lại, nhà nghiên cứu về Hồ Xuân Hương là Đào Thái Tôn lại xác định
cần phải lấy Lưu hương ký làm tiêu chuẩn đánh giá, bình xét từ đó nhận định
chung về hiện tượng Hồ Xuân Hương. Đồng thời với hai hướng nghiên cứu
trên còn có hàng trăm bài báo, bài luận, phân tích, bình giảng theo từng chủ
đề hoặc theo từng bài thơ đặc sắc của Hồ Xuân Hương được đăng tải trên các
tạp chí, báo Trong số các nghiên cứu gần đây nhất, có luận văn thạc sỹ văn
học của Bùi Ngọc Minh: “Hồ Xuân Hương - Hiện tượng giao thoa giữa văn
hoá Folklo và văn hoá bác học”, Hà Nội năm 1999. Đặc biệt là có cuốn “Hồ
Xuân Hương – con người – tư tưởng – tác phẩm” của Hoàng Bích Ngọc,
NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội năm 2003. Đây là những công trình nghiên
cứu khá công phu về con người và tác phẩm của Hồ Xuân Hương, đặc biệt
trong cuốn sách này, tác giả đã chú ý kế thừa và phát triển thêm những thành

những nghiên cứu về tiểu sử của Hồ Xuân Hương rất phong phú với rất nhiều
tư liệu khẳng định có sự tồn tại một Hồ Xuân Hương song vẫn chưa có một
kết luận chính xác về năm sinh năm mất và di cảo của bà. Có thể liệt kê
những ước thuyết về con người, cuộc đời của Hồ Xuân Hương, theo các nhà
nghiên cứu như sau:
- Theo Siêu Hải, Hồ Xuân Hương sinh khoảng năm 1735 – 1739
(căn cứ vào mối quan hệ giữa Hồ Xuân Hương và Phạm Đình Hổ, tạp chí Văn
học, số 5- 1991, tr70).
- Phần đông các nhà nghiên cứu như Dương Quảng Hàm, Văn Tân,
Nguyễn Lộc, Trương Tửu, Hồ Tuấn Niêm thì lại cho rằng Hồ Xuân Hương
sinh khoảng năm 1770, là con của Hồ Phi Diễn, quê ở Quỳnh Đôi, Quỳnh

9
Lưu, Nghệ An với bà vợ lẽ họ Hà tại phường Khán Xuân, thuộc huyện Vĩnh
Thuận, Thăng Long. Chúng tôi cũng coi đây là tiểu sử khá hợp lý để là cơ sở
nghiên cứu.
- Các tác giả như Trần Thanh Mại, Đào Thái Tôn khẳng định Hồ
Xuân Hương sinh khoảng năm 1770 nhưng không phải con của Hồ Phi Diễn
mà là con của Hồ Sĩ Danh – anh em họ của Hồ Phi Diễn ở Quỳnh Đôi, Quỳnh
Lưu, Nghệ An.
- Hồ Xuân Hương từng có quan hệ thân thiết với Nguyễn Du (1766
- 1820).
- Hồ Xuân Hương từng làm vợ lẽ Tổng Cóc ở Phú Thọ.
- Hồ Xuân Hương là vợ kế của Phạm Viết Đại (1802 – 1842) - từng
có thời làm tri phủ Vĩnh Tường.
- Theo Xuân đường đàm thoại, Hồ Xuân Hương mất năm Kỷ tỵ, Tự
Đức thứ 22 (1869)… Như vậy, Hồ Xuân Hương sống ở khoảng cuối Lê, đầu
Nguyễn và là một nữ sĩ danh tiếng, song vẫn còn nhiều chi tiết cần phải xác
minh thêm.
Nếu những liệt kê trên cho thấy việc nghiên cứu tiểu sử, cuộc đời

Hồ Xuân Hương là tác giả của những bài thơ chữ Hán trang trọng mẫu mực,
là nguyên mẫu để người ta ghép vào những vần thơ nhảm như Quả mít, Ốc
nhồi…
- Có ý kiến lại thừa nhận Hồ Xuân Hương có cả thơ chữ Nôm và thơ
chữ Hán và họ cũng có đủ những cứ liệu hết sức thuyết phục về sự thống nhất
các đối lập ở con người và các tư tưởng Hồ Xuân Hương. Tuy nhiên, giới
nghiên cứu vẫn không nhất trí với quan điểm này vì họ cho rằng giữa thơ chữ
Nôm và thơ chữ Hán quá khác nhau một đằng thì trang trọng, mẫu mực (thơ
chữ Hán), một đằng thì lại quá “dâm” và “tục”, đó không thể là sáng tác của
cùng một Hồ Xuân Hương.
Từ các phân định trên, chúng tôi thấy rằng cần thừa nhận sự thực: ở
thời đại cuối Lê, đầu Nguyễn có một Hồ Xuân Hương là con của một nhà
Nho họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An với bà vợ thứ họ Hà, ngụ ở

11
phường Khán Xuân, Thăng Long. Nàng có tâm, có tài, có sắc nhưng bất hạnh
trong tình duyên (phải làm lẽ hai lần nhưng cả hai người chồng đều chết),
nàng cũng là tác giả của thơ Nôm truyền tụng và của tập Lưu Hương ký.
Từ khi hình thành lịch sử nghiên cứu về Hồ Xuân Hương cho đến
nay, các nhà nghiên cứu đã vận dụng nhiều phương pháp khác nhau để tiếp
cận đối tượng. Có thể khái lược một vài cách tiếp cận cơ bản như sau:
- Nhà thơ Tản Đà đã đưa ra nhận xét về thần thái thơ Hồ Xuân
Hương như sau:
“Thơ Hồ Xuân Hương thật là linh quái, những câu hay đọc lên đến
ghê người. Người ta thường có câu “Thi trung hữu hoạ”, nghĩa là “trong thơ
có hoạ”, nhưng thơ Xuân Hương thời lại là “Thi trung hữu quỷ” nghĩa là
trong thơ có quỷ. Song mà nhận ra thời tục”. [18]
Đào Thái Tôn thì nhận xét: “với Hồ Xuân Hương không có cảnh
nào chết cứng, đứng yên, bất động, luôn luôn dồi dào sức trẻ” [98;48]… Cách
nhìn nhận trên về con người và đặc điểm thơ của Hồ Xuân Hương được rút ra

Sơn”. Những nhận định của các nhà nghiên cứu trên tiếp cận từ góc độ chính
trị - xã hội - lịch sử đã thừa nhận một vấn đề cơ bản là vào thời đại cuối Lê
đầu Nguyễn, Hồ Xuân Hương là một nhà thơ tiêu biểu cho trào lưu nhân đạo
chủ nghĩa nhưng hạn chế ở chỗ các ông đã vận dụng quá mức quan điểm giai
cấp - xã hội vào phê bình thơ Hồ Xuân Hương dẫn đến những kết luận mang
phần khiên cưỡng.
- Ngoài những tiếp cận nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương mà chúng
ta vừa nêu trên, khi nghiên cứu Hồ Xuân Hương các nhà nghiên cứu còn cố
gắng tiếp cận từ phong cách thơ Hồ Xuân Hương. Chẳng hạn như Nguyễn
Lộc đã nhận xét: “Hồ Xuân Hương thuộc dòng phong cách bình dân, nhưng
thơ bà không tan biến trong phong cách chung ấy mà sắc thái cá nhân vẫn
đậm nét” [39; 278]. Nhà thơ Xuân Diệu nói: “Hồ Xuân Hương là nhà thơ
dòng Việt Nam, bà chúa thơ Nôm…thơ Hồ Xuân Hương đã làm cho chữ
“nôm na” không đồng nghĩa với “mách qué” nữa mà nôm na là đồng nghĩa
với thuần tuý, trong trẻo tuyệt vời” [16]. Với phương pháp tiếp cận phong

13
cách học này đã cho thấy những góc độ nhìn nhận mới, những khám phá mới
về thơ Hồ Xuân Hương từ góc độ văn chương.
- Người đầu tiên đặt vấn đề tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương theo
phương pháp Bakhtin là nhà nghiên cứu người Nga N.I.Niculin, ông đã chỉ ra
tính hai chức năng, tính lưỡng trị, sự giao thoa giữa văn hoá bác học với văn
học dân gian ở một điển hình Việt Nam trong thơ Hồ Xuân Hương:
“Tiếng cười của bà gắn với tính chất tự phát của những ngày lễ hội
và những buổi biểu diễn của nhân dân…tiếng cười yêu ghét lẫn lộn trong đó
sự chỉ trích và ca tụng, phủ nhận và xác nhận, tử vong và sinh sản gắn bó chặt
chẽ như hai mặt của một quá trình phục sinh”.
Đối với giới nghiên cứu văn học Việt Nam, áp dụng phương pháp
Bakhtin vào hiện tượng Hồ Xuân Hương, các nghà nghiên cứu như Nguyễn
Lộc, Lê Trí Viễn, Xuân Diệu, Trần Ngọc Vương…đã chỉ ra sự ảnh hưởng của

làm rõ hơn nội dung và ý nghĩa của nó.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu đầy đủ hơn những nội dung và ý
nghĩa tư tưởng nhân văn của Hồ Xuân Hương thông qua việc nghiên cứu cuộc
đời và tác phẩm thơ của Hồ Xuân Hương.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: luận văn cần phải làm sáng tỏ được những
vấn đề sau:
+ Những tiền đề cho sự xuất hiện của hiện tượng Hồ Xuân Hương.
+ Nội dung tư tưởng nhân văn trong thơ Hồ Xuân Hương.
+ Những ý nghĩa của tư tưởng nhân văn trong thơ Hồ Xuân Hương
trong giai đoạn hiện nay.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
triết học Mác – Lênin, những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về việc kế thừa và phát triển những tinh hoa văn hoá dân tộc trong
điều kiện hiện nay.

15
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện dựa trên những
phương pháp nghiên cứu khoa học của bộ môn lịch sử tư tưởng triết học Việt
Nam như: Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, phương
pháp logic - lịch sử, phương pháp liên ngành…
5. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong đề tài luận văn, chúng tôi tập trung tìm hiểu đối tượng là
những nội dung tư tưởng nhân văn của thơ Hồ Xuân Hương bởi vậy giới hạn
phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiểu sử cuộc đời và tác phẩm thơ của Hồ
Xuân Hương đã được thừa nhận ở các công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề này về cơ bản đã được các nhà nghiên cứu nhất trí xác định.
6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn góp phần hệ thống hoá, làm rõ nội dung và giá trị của tư

điều đầu tiên chúng ta phải làm là tìm hiểu thời đại của hiện tượng Hồ Xuân
Hương đó.
Tuy hiện nay chúng ta vẫn chưa biết rõ về cuộc đời của Hồ Xuân
Hương, ngay cả năm sinh và năm mất. Nhưng qua khảo cứu các công trình
nghiên cứu về Hồ Xuân Hương, có một điều chắc chắn là nhân vật Hồ Xuân
Hương đã sống trong những điều kiện lịch sử đặc biệt của những năm nửa
cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX. Vì thế chúng ta sẽ không thể hiểu
được hiện tượng tư tưởng Hồ Xuân Hương nếu chúng ta bỏ qua hay xem nhẹ
những điều kiện lịch sử đó. Nếu bỏ qua những điều kiện lịch sử của xã hội
phong kiến Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX chúng ta sẽ
không thể hiểu tại sao trong lòng chế độ phong kiến hà khắc như vậy lại có
thể có một hiện tượng tư tưởng “phản chính thống” ngang nhiên chế diễu từ
vua chúa cho đến quan lại, nho sĩ và nguyền rủa tất cả những lễ giáo phong
kiến đè nén người phụ nữ như vậy.

17
1.1. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII
- nửa đầu thế kỷ XIX.
Đặc điểm nổi bật của xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu
thế kỷ XIX là sự khủng hoảng nghiêm trọng của chế độ phong kiến trên mọi
mặt từ kinh tế đến chính trị và văn hoá tư tưởng.
Về kinh tế: nền kinh tế của xã hội phong kiến Việt Nam nửa cuối thế
kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX suy sụp một cách toàn diện.
* Về nông nghiệp: Do chiến tranh chia cắt liên miên, khởi nghĩa nông
dân liên tục nên nghành nông nghiệp rơi vào tình trạng bị đình trệ trầm trọng.
Phần lớn ruộng đất là nằm trong tay bọn địa chủ, quan lại và cường hào. Nông
dân không còn một tấc đất cắm dùi, thêm vào đó và tô thuế nặng nề, nạn mất

Thậm chí có khi ruộng đã cày cấy hết mà vẫn khai là hoang phế. Dân lưu
vong muốn trở về cũng không có ruộng cày cấy, mà kiện cáo thì khổ nỗi
không đủ sức”.
Theo thống kê của Ngô Thì Sĩ, nửa cuối thế kỷ XVIII bốn trấn ở đồng
bằng Bắc Bộ ngày nay có 9668 làng xã thì có đến 1076 làng xã bị điêu tàn.
Trấn Thanh Hoá có 1393 làng xã thì có 297 làng xã bị điêu tàn và trấn Nghệ
An có 706 làng xã thì có tới 115 làng xã bị điêu tàn…[34]
* Về công thương nghiệp: Giai đoạn trước đó tuy được khởi sắc song
sang triều Nguyễn cũng không phát triển. Lo sợ sự xâm lược, khởi loạn chính
quyền phong kiến thực hiện chính sách kìm hãm thương nghiệp phát triển, có
chăng chỉ một số nghành công thương nghiệp được đẩy mạnh chỉ nhằm phục
vụ nhu cầu và lợi ích của giai cấp thống trị. Chẳng hạn như nghề khai mỏ giai
đoan này rất được chú trọng là chỉ để lấy đồng đúc tiền, đóng tàu, đúc súng
hay đổi cho các lái buôn phương Tây để lấy vũ khí. Chỉ có một số ít mỏ là
thuộc quyền quản lý của thương nhân người Việt và Hoa Kiều, còn lại phần
lớn mỏ là thuộc quyền quản lý của nhà nước. Nhiều mỏ tư nhân bị nhà nước
bắt lĩnh trưng và nộp thuế quá nặng buộc phải đóng cửa. Người làm công
trong các khu mỏ của nhà nước cũng như của tư nhân được trả tiền công rất ít,
đời sống vô cùng cực khổ.

19
Về thương nghiệp: dưới thời các chúa Trịnh, chúa Nguyễn, lo sợ cho
quyền lợi của tập đoàn phong kiến thương nghiệp bị bóp nghẹt, việc buôn bán
của thương nhân bị ngăn cấm. Đến năm 1789, vua Quang Trung ra lệnh bỏ
những thuế quá nặng đánh vào thương nghiệp, đề nghị nhà Thanh mở cửa ải,
thông chợ búa, khiến cho hàng hoá không ngưng đọng để làm lợi cho sự tiêu
dùng của dân. Nhưng triều đại Tây Sơn không tồn tại lâu, khi Gia Long lên
ngôi, tình hình trở lại như cũ, việc buôn bán bị hạn chế. Gia Long, Minh
Mệnh sợ dân tụ tập chống đối nên ra lệnh cấm họp chợ. Triều đình thực hiện
chính sách “bế quan toả cảng” từ chối không chịu đặt quan hệ thương mại với

cảnh hỗn loạn trong phủ chúa. Quận mã Đặng Mậu Lân cưỡng dâm một
người đàn bà không được bèn cắt vú người ta. Đại thần Trương Phúc Loan
phơi vàng đầy sân sau một trận lụt. Không những vậy việc thi cử cũng biến
thành việc mua bán, mua bán quan tước là việc thường sự.
Đến thời nhà Nguyễn, nhà Nguyễn không xây nhiều chùa nhưng lại xây
lăng tẩm. Công việc xây lăng Vạn Niên thời Tự Đức được ghi lại trong câu ca
dao:
“Vạn Niên là vạn niên nào
Thành xây xương lính, hào đào máu dân ”
Ngoài ra, các vua nhà Nguyễn thường hay đi tuần du, mỗi lần như vậy
cũng tốn kém cả trăm vạn quan tiền…
Chưa bao giờ chính quyền phong kiến lại vô sỉ như thời này, Phạm
Đình Hổ (1768 - 1839) trong Vũ trung tuỳ bút đã phải thốt lên rằng “đời suy
thói tệ”, những khuôn vàng thước ngọc của chế độ phong kiến bị phá nát tan
tành.Còn đâu lễ giáo quân - thần, phu - phụ khi Nguyễn Cảnh Thước tước
hòm vàng, lột cả áo bào vua Lê Chiêu Thống trong cơn nguy biến, rồi chuyện
Đặng Thị Huệ thề sống thề chết sẽ giữ trọn tình thuỷ chung cùng Chúa mà
đương khi Trịnh Sâm chưa chết đã tư thông với Quận huy Hoàng Đình Bảo.
Cũng chưa bao giờ giai cấp thống trị bộc lộ rõ bộ mặt phản động trắng
trợn như lúc này. Chính từ chuyện tranh giành quyền lực ấy đã dẫn đến hành
động bỉ ổi “cõng rắn cắn gà nhà” của Lê Chiêu Thống. Trong Hoàng Lê nhất

21
thống chí của Ngô gia văn phái có viết về mối quan hệ giữa Lê Chiêu Thống
với Tôn Sĩ Nghị, tướng nhà Thanh như sau:
“Tuy là hoàng thượng được phong vương nhưng giấy má đưa đi các nơi
vẫn viết niên hiệu Càn Long vì Nghị còn ở đấy nên không dám dùng niên
hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày tan buổi chầu, ngài đến dinh Nghị chờ nghe
công việc quốc quân …Nghị cũng ngông nghênh tự đắc, hoàng thượng đến
dinh, có khi Nghị không buồn tiếp, chỉ cho người đứng trên linh các truyền

mất đi sự vĩ đại của nó.
Trong Hoàng Lê nhất thống chí đã nói lên sự thất bại thảm hại, nhục
nhã của tên vua mất nước và bọn ngoại xâm: “Lê Chiêu Thống chạy đến cửa
ải, Nghị cũng ở đó. Vua vào ra mắt Nghị. Các quan lục tục kéo đến, ai nấy
trông nhau, nước mắt chứa chan. Sĩ Nghị cũng phải xấu hổ”. Hoà Khôn,
tướng nhà Thanh, khi tâu với vua Thanh phong vương cho Quang Trung cũng
nói: “Từ xưa đến nay, chưa đời nào đắc chí ở Nam bang. Tống, Nguyên,
Minh đều bị thua nhục cả, gương đó cũng không xa lắm”.
Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn miêu tả
khá sinh động về phong trào nông dân khởi nghĩa trong giai đoạn này:
“Lúc ấy về mặt Hải Dương có bọn Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ ở Ninh
Xá, Vũ Trác Oánh ở Mộ Trạch; về mặt Sơn Nam có Hoàng Công Chất, đảng
lớn phe nhỏ hết chỗ này đến chỗ khác thúc giục nhau phiến động, chỗ nào
cũng tự dấy quân, tự xưng danh hiệu: Nguyễn Tuyển xưng hiệu Minh chủ,
Trác Oánh xưng hiệu Minh công, hội họp nhau ở xã Ninh Xá đều mượn tiếng
“phù Lê”. Dân ở vùng Đông, vùng Nam, người đeo bừa, người vác gậy đi
theo, chỗ nhiều có đến hơn vạn, chỗ nhỏ cũng hàng ngàn hàng trăm, họ quấy
rối cướp bóc làng xóm, vây đánh các ấp, các thành, triều đình không thể nào
ngăn cấm được”. [117, 1690]
Dưới triều Nguyễn, khởi nghĩa nông dân không có phong trào nào có
quy mô lớn như ở giai đoạn trước nhưng cũng liên tiếp xảy ra. Triều đình nhà
Nguyễn dùng mọi cực hình để trị tội những kẻ “phản nghịch” như xẻo thịt cho
đến chết, chém đầu, phanh thây…nhưng không vì thế mà phong trào giảm sút.

23
Những dữ liệu lịch sử trên đây cho thấy chế độ chuyên chế đã rơi vào
khủng hoảng nghiêm trọng, kéo theo đó là sự khủng hoảng về mặt ý thức hệ.
Đây cũng là giai đoạn xuất hiện những yếu tố của một nền kinh tế đô thị. Thế
kỷ XVIII – XIX ngoài kinh đô Thăng Long ở Đàng ngoài, đã bắt đầu hình
thành một số huyện lị, tỉnh lị lớn. Ngoài chức năng là trung tâm chính trị, các

nữ sĩ Hồ Xuân Hương…nở rộ ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Giai đoạn này, âm nhạc phát triển mạnh ở cả Đàng Trong và Đàng
Ngoài không chỉ là món tiêu khiển của cung đình mà còn trở thành nhu cầu
thưởng thức của nhân dân. Do yêu cầu xây dựng, các nghành như điêu khắc,
kiến trúc cũng phát triển. Một số chùa chiền có cách kiến trúc mỹ lệ và những
công trình điêu khắc tài tình được xây dựng từ thời kỳ này cho đến nay vẫn
còn là niềm tự hào của dân tộc.
Xã hội tuy loạn lạc song trên lĩnh vực học thuật, các ngành văn học, sử
học, y học…đều có những thành tựu to lớn với các đại biểu như Lê Quý Đôn,
Phan Huy Chú, Lê Hữu Trác…Bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan
Huy Chú được mệnh danh là bộ Bách khoa toàn thư của dân tộc Việt, bộ Lãn
Ông y tập của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác gồm một trăm quyển là một
pho sách thuốc vô cùng quý giá. Hay Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ là một
tác phẩm khảo sát và phê bình các bản sử cũ rất có giá trị. Đặc biệt, những
thành tựu văn hoá thời kỳ này ngoài việc tiếp thu những thành tựu của văn
hoá nước ngoài đã thể hiện rõ tính dân tộc, tính nhân văn cũng như tinh thần
khảo chứng duy lý rất cao. Chẳng hạn, khi Phan Huy Chú biên soạn cuốn
Lịch triều hiến chương loại chí có nói rằng:
“Phàm những sự tích chép trong sách này, trên từ đời cổ, dưới đến cuối
Lê, đều nói có sách mách có chứng cả. Hễ thấy những lời nghị luận trong sách
sử có điều gì tỏ sáng thêm thì cũng nhặt lượm vào để cho đầy đủ mà xem xét.
Gián hoặc có kiến giải dị đồng gì thì tác giả lại lấy ý mình mà cân nhắc bàn
bạc, nhưng vẫn nêu một chữ “án” ở dưới đó để tỏ ra là lời bàn của mình. Mục
đích cốt là so sánh mọi việc mọi lẽ, cầu cho rất mực đích đáng, chứ không
phải dám phóng bút khua môi xằng”.

25
Cùng với những thành tựu lớn lao trên lĩnh vực văn hóa thì về mặt tư
tưởng cũng có những kế thừa những thành quả của thời kỳ trước và có những
biến đổi sâu sắc, đặc biệt là sự xuất hiện xu hướng tư tưởng nhân văn mang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status