A. phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
I.1. Về khoa học cơ bản
Thơ ca có một sức hấp dẫn kì lạ đối với con ngời. Thơ ca có thể nói hộ những
điều mà có khi trong giao tiếp hàng ngày con ngời ta không dám bộc bạch. Thơ ca lại
còn có thể giúp chúng ta đi từ chân trời của một ngời đến chân trời của tất cả mọi ng-
ời.
Thơ ca mỗi nớc có một hành trình phát triển dài lâu với những biến đổi, những
cách tân không ngừng cả về hình thức và nghệ thuật. ở Việt Nam, thơ ca không ngừng
vơn mình phát triển, và đặc biệt, những ngời yêu thơ và nghiên cứu thơ đợc chứng kiến
sự đổi thay mạnh mẽ nhất của thơ ca bắt đầu từ cuối thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX cho
đến 1930-1945. Đánh một dấu mốc quan trọng trong công cuộc đổi mới thơ ca ấy là
sự phát triển của thơ trữ tình điệu nói.
Bên cạnh những thành tựu về mặt nội dung, ngời ta nhận thấy thơ ca còn có sự
cách tân về hình thức biểu hiện, mà quan trọng nhất là chuyển đổi hình thức thơ từ thơ
trữ tình điệu ngâm (cổ - trung đại) sang thơ trữ tình điệu nói (cận - hiện đại). Sự thay
đổi về hình thức câu thơ đó có nguyên nhân chính từ sự biến đổi trong nguyên tắc
phản ánh thực tại của các nhà thơ. Đó cũng chính là sự hiện đại hoá t duy thơ (bao
gồm quan niệm nghệ thuật và thi pháp sáng tác - trong đó có sự nảy nở của cái tôi cá
nhân).
Nghiên cứu thơ trữ tình điệu nói cũng là nghiên cứu sâu thêm một quy luật vận
động của ngôn ngữ văn học Việt Nam: từ công thức ớc lệ dần dần hớng về sự giản dị,
dân dã, tạo nên cái hiện thực hàng ngày trong thơ.
Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng là những tác giả lớn của văn học
trung đại Việt Nam. Đó là những tác giả có đóng góp mang ý nghĩa cách tân, một
trong những biểu hiện là thơ trữ tình điệu nói. Qua thơ trữ tình điệu nói của ba tác giả,
ngời đọc thấy đợc vai trò tiếp nối của ba tác giả từ trung đại đến hiện đại.
I.2. Về thực tiễn s phạm
Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng là ba tác giả có tác phẩm đợc đa
vào sách giáo khoa. Do vậy, tìm hiểu thơ trữ tình điệu nói của ba nhà thơ, chúng ta sẽ
có thêm nhiều hiểu biết có giá trị thực tiễn trong giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời
Nguyễn Khuyến cũng liên quan đến hình thức thơ trữ tình điệu nói. Chúng tôi chỉ xin
điểm qua một số nghiên cứu về tác gia Nguyễn Khuyến có liên quan đến đề tài:
2
Trần Ngọc Vơng trong Thơ Nôm đến Nguyễn Khuyến đã tìm hiểu về con ngời
Nguyễn Khuyến và đa ra nhận xét: Nguyễn Khuyến có một tấm lòng đồng cảm rộng rãi
() Ông vui vẻ tặng thơ cho ông lão hàng thịt nhân dịp ông lão thọ bảy mơi, chia sẻ với
nhà nông những lo toan khốn khó, và cũng cùng họ ớc mơ một cách giản dị. Đọc thơ
Nguyễn Khuyến, bỗng dng ta phải chợt nghĩ: có thật đây là lời một ông quan đại thần,
danh tiếng văn chơng sinh thời đã lừng lẫy: Năm nay cày cấy vẫn chân thua / Chiêm
mất đằng chiêm mùa mất mùa Nhận định này về con ngời Nguyễn Khuyến của Trần
Ngọc Vơng đợc gắn liền với đặc điểm về lời, về giọng điệu thơ trữ tình điệu nói của
Nguyễn Khuyến mà chính nhà nghiên cứu đã chỉ ra ngay sau đó: Nguyễn Khuyến là
con ngời nói cái giọng rất nhà quê bởi có cái xúc cảm cũng rất nhà quê (52, 311),
Nguyễn Khuyến có biệt tài dùng những chữ nghĩa bông lơn để diễn đạt những cơn sóng
lòng dữ dội: Lúc hứng đánh thêm dăm chén rợu / Khi buồn ngâm láo một câu thơ / Tấm
thân xiêm áo sao mà nhẹ / Cái giá khoa danh ấy mới hời (52, 313)
Đặng Khánh Hiền trong luận văn thạc sỹ: Thơ tự trào của Nguyễn Khuyến và Tú
Xơng từ góc nhìn so sánh cũng đã đề cập đến đặc điểm con ngời Nguyễn Khuyến từ
việc phân tích những đặc sắc về ngôn ngữ đời sống trong thơ trữ tình của ông. Ngôn
ngữ đời sống là một đặc trng của thơ trữ tình điệu nói mà tác giả luận văn đã chú trọng
nghiên cứu và đa ra đánh giá khái quát: Thơ ông (Nguyễn Khuyến) mang màu sắc âm
điệu mộc mạc, chân chất nh chính tâm hồn của ngời dân quê. Trong các bài thơ tự trào,
ngôn ngữ đời sống mang đậm nét trữ tình chứa đựng tâm trạng nhà thơ. Tác giả luận
văn đã phân tích hiệu quả của nghệ thuật sử dụng đại từ nhân xng ngôi thứ nhất: ông ở
hai câu thơ: Bây giờ đến bậc ăn dng nhỉ / Có rợu thời ông chống gậy ra trong việc thể
hiện chân dung tâm hồn Nguyễn Khuyến: ông cảm thấy mình nh một ngời thừa, một kẻ
vô tích sự, không còn giá trị cho cuộc sống mà vẫn phải tồn tại, tồn tại nh một bậc ăn d-
ng (13, 84). Con ngời với ý thức khẳng định bản thân, sống trên đời phải có ích cho
đời cũng đợc tác giả luận văn khám phá qua cách sử dụng đại từ ta: Ông trời có lẽ cho
ta nhỉ / Có ý sinh ta phải có ta (Về nhà nghỉ); Trời đã sinh ta ắt có ta (Vịnh lụt).
Nguyễn Tuân với Giọng cời trong tiếng nói Tú Xơng đã tổng kết cuộc đời, con ng-
ời Tú Xơng qua giọng thơ mang điệu nói: giọng mỉa mai: Tóm lại, trong cuộc đời 37
năm của mình, Tú Xơng đã đi thi liền 8 khoa, nh Tú Xơng đã tự mỉa rằng: Tám khoa cha
khỏi phạm trờng quy (42, 320)
Nghiên cứu con ngời cá nhân Tú Xơng trong thơ Nôm, Phan Thị Sen - tác giả
luận văn thạc sĩ Phơng thức thể hiện con ngời cá nhân trong sáng tác của Tú Xơng đã
4
chỉ ra những từ mang sắc thái khẩu ngữ nh nhạt nhèo, rầy chuyện, giở tuồng, ngủ
quách đợc nhà thơ sử dụng rất tinh tế, giúp ngời đọc hiểu đợc con ngời cá nhân nhà
thơ với những nỗi buồn, nỗi dằn vặt, nỗi lo đời và ý thức trách nhiệm trớc cuộc đời:
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông / Khăn khăn, áo áo thêm rầy chuyện / Bút bút
nghiên nghiên khéo giở tuồng / Ngủ quách sự đời thây kẻ thức / Chùa đâu chú trọc đã
hồi chuông (Đêm hè) (45, 31)
Tựu chung lại, những nghiên cứu về ba tác giả: Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến,
Trần Tế Xơng có liên quan đến thơ điệu nói là những t liệu quý giúp chúng tôi thực
hiện đề tài luận văn của mình.
2. Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật thơ
2.1. Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật thơ nói chung
2.1.1. Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hơng có liên quan
đến đề tài
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Hồ Xuân Hơng đã đợc đánh giá rất cao. Các nhà
nghiên cứu đều khẳng định cái tài của Hồ Xuân Hơng trong việc sử dụng ngôn ngữ,
đặc biệt là tài sử dụng ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ bình dân, mang điệu nói.
Đỗ Lai Thuý khi viết về Hồ Xuân Hơng hoài niệm phồn thực đã chỉ ra những ảnh
hởng của văn hoá phồn thực trong dân gian Việt Nam đến cấu trúc ngôn ngữ và các
lớp ý nghĩa tầng bậc trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng. Đồng thời tác giả cũng cắt nghĩa,
lí giải nguyên do của kiểu ngôn ngữ đặc biệt này.
Trong công trình nghiên cứu Con đờng giải mã văn học trung đại Việt Nam,
PGS Nguyễn Đăng Na cũng đã phân tích cấu trúc ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hơng,
làm nổi bật tính dân tộc và gần gũi của hệ thống ngôn ngữ này.
Trong Thi hào Nguyễn Khuyến, đời và thơ, trang 36-39, Nguyễn Huệ Chi với bài
Sự đa dạng và thống nhất trên quá trình chuyển động của một phong cách và dấu hiệu
chuyển mình của t duy thơ dân tộc đã khẳng định: Nguyễn Khuyến lại đa ngôn ngữ
thông tục vào thơ với tất cả vẻ đẹp thanh tao, trang nhã, với những cảm xúc không căng
mà dịu, nhng dịu mà thấm vào ngời đọc rất sâu.
Trịnh Bá Đĩnh trong bài Phong cách dân gian trong thơ Yên Đổ có viết: Một
phơng diện khác nữa tạo nên phong cách dân gian cho thơ Nguyễn Khuyến là nhà thơ
đa trực tiếp vào thơ mình vốn tục ngữ ca dao của nhân dân (52, 300)
6
Nguyễn Phơng Chi trong bài viết: Ngòi bút tả thực đột xuất khẳng định: ông
(Nguyễn Khuyến) có ý thức đa lời ăn tiếng nói hàng ngày, đa ca dao, tục ngữ vào thơ,
làm cho một số bài thơ trở nên gần gũi, có một sức sống mới (52, 328)
Nguyễn Hữu Sơn trong Sự kết hợp phức điệu trào phúng với trữ tình nhận xét:
() nhà thơ khai thác kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ, cải tạo chúng lại trong cơ
cấu của thơ Đờng luật, đồng thời làm cho câu thơ Đờng luật mất cái vẻ đờng bệ, trang
trọng của mình (52, 345)
Đào Thản trong Tài chơi chữ phát hiện: Trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, có khi
có một khía cạnh chơi chữ rất nhỏ len vào trong cách diễn đạt nh một thao tác của ngôn
ngữ nghệ thuật hết sức tinh tế, nhng lại có thể là điểm trọng tâm để lý giải toàn bộ ngữ
nghĩa của bài (52, 364)
Lê Trí Viễn với bài viết Nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng khẳng định: Ngôn ngữ của
ông có tính chất dân tộc và đại chúng rõ rệt () tiếng Việt ông dùng đều thuộc ngôn
ngữ phổ thông, lắm khi là những danh từ, cách nói, những thành ngữ, tục ngữ thờng
dùng trong nông thôn: xôi bánh trâu heo, anh em làng xóm, thửa mạ, làn ao, ổ lợn ()
Cũng nh Nguyễn Du, ông rất có tài khai thác khả năng diễn tả của các tiếng ghép: thấp
le te, đóm lập lòe, bà quan tênh nghếch (21, 195)
2.1.3. Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật thơ Trần Tế Xơng có liên quan đến
đề tài
Những đặc điểm về ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói của thơ Nôm Trần Tế Xơng đã
đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
dan chinh/ Những cảm nhận về ca dao dân ca Việt Nam)
Trần Văn Toàn và Nguyễn Xuân Diên trong bài nghiên cứu ảnh hởng của thơ Đ-
ờng đối với thơ Mới (vietvan.vn) nhận xét: Đúng là trong thơ Mới, tính chất hớng ngoại
và câu thơ điệu nói của lời thơ là rất đậm nét.
Một nhận xét khá tổng quát về câu thơ điệu nói tiếp tục đợc đa ra: Thơ Mới chỉ b-
ớc đầu làm cuộc vợt mình khỏi điệu ngâm, mà cha thoát đợc bao nhiêu () Nhng chỉ
bắt đầu từ kháng chiến chống Pháp trở đi, thơ hiện đại mới dứt khoát cự tuyệt với sự
vấn vít của điệu ca ngâm () Câu thơ hiện đại bấy giờ mới trút bỏ hẳn lốt y phục tha
thớt của điệu ngâm một cách cơng quyết và tự chủ để trở thành điệu nói thực thụ (Bài
thơ Đồng chí của Chính Hữu nhìn từ cấu trúc và ngôn ngữ, nvbchannel.net).
8
Trên duytan.edu.vn (9/10/2009) có bài Bản chất thể loại trong bài thơ Lau (Di
cảo thơ) của Chế Lan Viên của Th.S Trần Thị ánh Nguyệt, trong đó Th.S khẳng định:
Câu thơ định nghĩa là đặc trng của kiểu câu thơ hiện đại, đó là câu thơ điệu nói, khác
với kiểu câu thơ điệu ngâm của tứ tuyệt Đờng thi.
PGS.TS La Khắc Hoà, Giảng viên khoa Ngữ văn Đại học S phạm Hà Nội trong
bài viết: Nhìn lại các bớc đi, lắng nghe những tiếng nói (dẫn theo hangnga14.violet.vn)
có nhận định: Trớc 1945, phong trào thơ Mới có công chuyển câu thơ điệu ngâm trung
đại thành câu thơ điệu nói hiện đại.
Trần Văn Toàn trong Tản Đà từ góc nhìn thể loại nhận xét: Trong một chừng mực
nào đó, với Tản Đà, câu thơ vốn thiên về điệu ngâm của thể Đờng luật cổ điển đậm đà
những âm vực của câu thơ điệu nói - một thành tựu mà thơ Mới sau này sẽ triệt để khai
thác (my opera.com)
TS Lê Văn Tùng, Khoa Ngữ văn, Đại học Vinh có bài viết: Tính năng động nghệ
thuật của văn học hiện đại Việt Nam và một cách nhìn từ thể loại, tổng kết về cuộc
cách mạng về thơ những năm 1932-1945, về sự thâm nhập của văn xuôi vào thơ và
khẳng định: Cuộc thâm nhập này làm chuyển hoá căn bản kiểu câu thơ điệu ngâm
trung đại sang câu thơ điệu nói hiện đại (dẫn theo vn.360plus.yahoo.com /cao_anh80)
Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều đề cập đến câu thơ điệu nói trên cơ sở đối
sánh với câu thơ điệu ngâm, từ đó làm nổi bật sự đổi mới theo hớng hiện đại của thơ
Xơng, chúng tôi tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Những biểu hiện của hình thức thơ trữ tình điệu nói trong thơ Nôm của ba tác
giả
- So sánh sự giống và khác nhau trong hình thức thơ trữ tình điệu nói của Hồ
Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng, sự phát triển từ Hồ Xuân Hơng đến Trần
Tế Xơng.
- So sánh thơ trữ tình điệu nói của ba nhà thơ trên với thơ hiện đại.
2.2. Về văn bản:
Để triển khai đề tài chúng tôi tiến hành khảo sát các văn bản sau: Thơ văn
Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971; Thơ văn Trần Tế Xơng, NXB Văn học, 1970; Hồ
Xuân Hơng thơ và đời, NXB Văn học, 2004 do Lữ Huy Nguyên tuyển chọn và biên
soạn
IV. Những đóng góp và cấu trúc của luận văn:
1. Những đóng góp của luận văn:
10
1.1. Nghiên cứu thơ trữ tình điệu nói của ba tác giả về các phơng diện:
- Những biểu hiện về hình thức nghệ thuật
- Đặc điểm chung và đặc sắc riêng về hình thức nghệ thuật
- Diễn tiến và phát triển
1.2. So sánh với thơ hiện đại:
- Những đóng góp mang ý nghĩa cách tân của ba tác giả
- Sự tiếp nối giữa trung đại và hiện đại
2. Cấu trúc của luận văn:
Luận văn gồm ba phần: mở đầu, nội dung, kết luận. Nội dung luận văn gồm ba
chơng
Chơng I: Những vấn đề chung về thơ trữ tình điệu nói
Chơng II: Những biểu hiện về hình thức thơ trữ tình điệu nói của Hồ Xuân Hơng,
Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng
Chơng III: Tơng đồng và khác biệt trong hình thức thơ trữ tình điệu nói của Hồ
Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng
cho tới những thành kiến, những t tởng triết học (12, 317)
2. Thơ trữ tình điệu ngâm
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, 2006, ngâm có
nghĩa là:
1/ Đọc và hát với giọng điệu ngâm nga diễn cảm nhng một cách tự do, không phải
theo một khuôn nhịp cố định: ngâm thơ
2/ Ngâm vịnh: Làm thơ, ngâm thơ để thởng thức để miêu tả, ca ngợi hoặc biểu lộ
một tâm trạng nào đó (44, 672)
Khái niệm thơ trữ tình điệu ngâm: Là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc
sống, thể hiện những tâm trạng, cảm xúc của con ngời bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh,
lời lẽ trau chuốt, mợt mà, hàm súc, nhịp điệu ngân nga, giàu ý nhạc. Dấu ấn cá nhân
của chủ thể trữ tình trong thơ mờ nhạt và những quy định chặt chẽ về niêm, luật thơ là
những đặc điểm nổi bật của hình thức sáng tác này.
Đặc điểm của thơ trữ tình điệu ngâm:
- Ngôn ngữ hàm súc, không có từ ngữ đa đẩy, không có từ thừa, không có khẩu
ngữ, quan hệ từ, không có lời tự xng của chủ thể.
- Câu thơ ngắt nhịp theo công thức
- Có yêu cầu về niêm, luật vần đối, về số câu, số chữ
3. Thơ trữ tình điệu nói
- Khái niệm thơ trữ tình điệu nói: Là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc
sống, thể hiện những tâm trạng, cảm xúc của nhà văn bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, từ
ngữ thuộc ngôn ngữ nói và ngữ điệu nói là đặc điểm hình thức nổi bật của hình thức
sáng tác này
13
- Đặc điểm của thơ trữ tình điệu nói:
+ Về từ ngữ: Sử dụng lớp từ thuộc ngôn ngữ nói: Từ đệm, khẩu ngữ, quan hệ từ,
thán từ, phụ từ, hô ngữ Có lời tự xng của chủ thể - chủ thể xuất hiện trực tiếp trong
các từ: tôi, ta nh lời nói thờng ngày
+ Về câu thơ: Câu thơ tự do phù hợp với nội dung biểu đạt. Câu thơ có thể vắt
dòng theo cảm xúc của ngời nói. Sử dụng câu phân theo mục đích nói linh hoạt, đa
những suy t, chiêm nghiệm sâu sắc, nghiêm cẩn về thời thế, thân thế. Thơ không phải
là chỗ để ngời làm thơ tự do bộc lộ cái tôi cá nhân của mình mà cái tôi nhà thơ phải h-
ớng đến cái ta chung. Thơ ca vì thế không có lời nói tự nhiên, thoải mái tự do của chủ
thể, không có sự sáng tạo, bị gò bó trong những quy định ngặt nghèo.
Yêu cầu về hình thức: thơ xa là thứ thơ cô đúc, ý tại ngôn ngoại, lời thơ bóng
bẩy, mĩ lệ, ngời làm thơ sử dụng bút pháp ớc lệ tợng trng, công thức. Do vậy, câu chữ
trong thơ xa vô cùng súc tích, thơ không có những từ không mang nghĩa. Điệu nói vì
thế ít có trong thơ xa.
Vậy thơ trữ tình điệu nói vì sao có thể hình thành đợc trong điều kiện nh thế? Có
thể nói chính những quy định ngặt nghèo của luật thơ thời trung đại lại khiến cho một
số nhà thơ tài năng tìm cách phá cách, không theo lối cũ. Thơ của họ vẫn là thơ trữ
tình, nhng không phải điệu ngâm mà trong thơ xuất hiện điệu nói, cách nói thông tục,
lời nói thông tục. Thơ trữ tình điệu nói hình thành do nhu cầu muốn đa cái hàng ngày
vào thơ ở một số nhà thơ. Nói cách khác, thơ của họ hình thành từ ý thức tạo nên một
thứ thơ trữ tình gần gụi với hiện thực đời sống, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của
mọi ngời, hoặc từ mục đích trào phúng, châm biếm, đả kích. Các tác giả tiêu biểu đã
đa lời ăn tiếng nói của đời sống thông tục vào thơ đó là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Hồ Xuân Hơng.
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam trải qua biến đổi lớn. Thực
dân Pháp xâm lợc dẫn tới biến đổi to lớn về văn hóa, xã hội. Sự xâm nhập của văn hoá
phơng Tây ngày càng sâu sắc đến đời sống văn học, yêu cầu văn học cũng phải đổi
mới. Quan niệm làm thơ thay đổi: phải đa cái hiện thực hàng ngày vào thơ. Thơ trữ
tình điệu nói của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng ra đời.
Đến những năm 1930-1945, tầng lớp trí thức Tây học cùng với luồng gió của văn
học phơng Tây đã đen đến một kiểu tâm lí mới trong văn học. Thanh niên có ý thức
sâu sắc hơn về cái tôi cá nhân. Các nhà thơ cũng ý thức sâu sắc về cái tôi trong thơ.
Công cuộc hiện đại hoá văn học diễn ra mạnh mẽ. Thơ Mới ra đời. Các nhà thơ mới
đấu tranh với thơ cũ. Thơ mới dần thoát ra khỏi những quan điểm thẩm mĩ và hệ thống
thi pháp văn học trung đại để hoà nhập vào quỹ đạo phát triển chung của văn học thế
15
Hình thức kể chuyện trong ca dao xen lẫn với miêu tả tâm trạng làm ca dao mang
tính chất hiện thực, mang hơi thở đời sống.
16
2.2. Trong văn học trung đại
Đến thế kỉ XV, giữa dòng chảy chung của văn học trung đại, Nguyễn Trãi đã tạo
ra một sự phá cách khi đa lời nói thờng ngày vào trong thơ. Hình dáng câu thơ cũng
thay đổi. Câu thơ lục ngôn chen lẫn với câu thơ thất ngôn. Đây là sự cách tân của
Nguyễn Trãi. Ông đã vợt qua khuôn khổ khắt khe của hình thức thơ Đờng, đem lại cho
câu thơ Nôm dáng vẻ Việt Nam với nét riêng không pha trộn:
Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vắng xem hoa bợ cây
Ông sử dụng thi liệu dân gian trong thơ, khiến cho điệu nói trong thơ ông vì
thế mà càng trở nên sắc nét: ở bầu thì dáng ắt nên tròn; Dễ hay ruột bể sâu cạn / Khôn
biết lòng ngời ngắn dài
Những câu thơ đậm chất liệu dân gian bởi nó mang âm hởng từ lời tục ngữ: ở
bầu thì tròn, ở ống thì dài; từ lời ca dao: Bể sâu còn có kẻ dò / Lòng ngời nham hiểm ai
đo cho cùng
Đó cũng chính là lời nói hàng ngày của nhân dân lao động đợc đa vào tục ngữ, ca
dao và vào cả thơ Nguyễn Trãi - một bậc đại nho.
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng sử dụng điệu nói trong thơ:
Vuốt mặt còn chừa qua mũi nọ
Rút dây còn để động rừng chăng?
Hai câu thơ trên mang điệu nói nhờ việc sử dụng sáng tạo tục ngữ: Vuốt mặt phải
nể mũi, rút dây động rừng và sử dụng ngữ điệu hỏi còn chăng khiến cho câu thơ rất
gần với lời nói thờng.
Đại thi hào Nguyễn Du với tác phẩm truyện thơ Đoạn trờng tân thanh cũng góp
một tiếng nói vào sự phát triển của thơ trữ tình điệu nói:
- Thôi đà cớp sống chồng min đi rồi
- Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau
Nguyễn Công Trứ - con ngời hào hoa, phóng túng, ngang tàng cũng không chịu
Chơi cho lịch mới là chơi
Chơi cho đài các, cho ngời biết tay
Tài tình dễ mấy xa nay
(Chơi cho phỉ chí)
18
Ông làm thơ bằng tiếng nói của nhân dân: Đánh ba chén rợu khoanh tay giấc /
Ngâm một câu thơ vỡ bụng cời; Giả giả vay vay lâu cũng hết / Ky ky cóp cóp chắc hơn
ai
Ông sử dụng cả cách kể lể, liệt kê, đếm đong quen thuộc trong ngôn ngữ nói
hàng ngày:
Nào nhục nào vinh nào hiển hối
Mặt ra hề thay đổi mấy mời phen
(Nợ phong lu)
Cao Bá Quát cũng là ngời có những sáng tạo mới mẻ khi đa ngôn ngữ thơ trở về
gần với ngôn ngữ đời sống hàng ngày. Sự thoát sáo, mới mẻ theo hớng gia tăng chât
liệu đời sống, chất văn xuôi đã khiến cho thơ văn Cao Bá Quát trở nên độc đáo, sáng
tạo khác thờng. Về phơng diện này, nhà thơ họ Cao cùng Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-
ơng, Nguyễn Du là những cây cầu nối để văn học trung đại bớc sang thời kì hiện đại
sau này (39, 229)
Thơ hát nói Cao Bá Quát mang đậm ngữ điệu nói:
Làm chi cho mệt một đời
(Thú nhàn)
Cách nói phủ định: Làm chi, cách dùng từ thông tục khiến cho thơ hát nói của
ông phong phú về chất liệu đời sống.
Từ ngữ trong thơ hát nói Chu Thần có cái vẻ đời thờng, điệu thơ là điệu nói
ngang tàng: Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy / Cảnh phù du trông thấy cũng nực cời /
Thôi công đâu chuốc lấy sự đời /Tiêu khiển một vài chung lếu láo (Uống rợu tiêu sầu)
Chữ dùng của ông táo bạo, mạnh mẽ, kì thú và rất trần tục: Hãy chơi cho lăn lóc
đá kẻo hoài (Hội ngộ)
Quả là sử dụng thơ trữ tình điệu nói, Cao Bá Quát đã kéo văn chơng gần với đời
Ông có cách nói hết sức đời thờng:
Vờn Bùi chốn cũ
Bốn mơi năm lụ khụ lại về đây
(Trở về vờn cũ)
Nguyễn Khuyến táo bạo trong cách xng hô đợm chất ngôn ngữ nói:
Quyết chí phen này trang trải sạch
Cho đời rõ mặt cái thằng tao
(Than nợ)
20
Ông sử dụng nhiều trợ từ làm gia tăng chất liệu đời sống trong thơ:
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ
(Vịnh tiến sĩ giấy)
Câu thơ của Tú Xơng cũng có nhiều quan hệ từ: thì, mà, là giống nh lời ăn tiếng
nói hàng ngày của nhân dân lao động:
ở phố Hàng Song thật lắm quan
Thành thì đen kịt, đốc thì lang
(Phố Hàng Song)
Điều đáng chú ý là câu thơ điệu nói của Tú Xơng mang đặc trng riêng của điệu
nói đời sống đô thị thời thuộc Pháp. Ông đa vào thơ lời nói hàng ngày của nhân dân
Nam Định mà lời nói ấy có khi chịu ảnh hởng của tiếng bồi Tây:
Hẩu lố khách đà năm bẩy chú
Mét xì Tây cũng bốn năm ông
(Phòng không)
Ông đa vào thơ những ngôn từ ấm nóng hơi thở cuộc sống thờng nhật và đó là
ngôn ngữ thời đại ông: xanh căng, mét xì, hẩu lố
Ông ngắt nhịp không theo công thức đã quy định mà ngắt theo ngữ điệu nói:
Ô hay! Trời chẳng nể ông Tây
(Mồng hai Tết viếng cô Ký)
Ngôn ngữ ớc lệ đã vắng bóng ở thơ Tú Xơng. Ngôn ngữ của ông là thứ ngôn ngữ
đợc xây nên từ ngôn ngữ trong cuộc sống bình thờng, trần trụi.
dấu câu phức tạp: dấu chấm câu, dấu hỏi, dấu gạch ngang biểu thị lời đối thoại hoặc
bổ sung ý giải thích.
Đến văn học thời kì 1945 - 1975: Thời chống Pháp, Nguyễn Đình Thi có những
đột phá với thơ không vần. Đó là tiếng nói của trí tuệ, của giác quan gắn với tiếng nói
tự nhiên của con ngời thể hiện. Hồng Nguyên đa văn xuôi vào thơ: Đằng nớ vợ cha /
Đằng nớ? / Tớ còn chờ độc lập (Nhớ - Hồng Nguyên). Giai đoạn chống Mỹ, thơ trữ
tình điệu nói đợc đánh dấu bởi ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân - ngôn ngữ mang sắc thái
Nam Bộ với những câu chữ thật mộc mạc, tự nhiên nh lời nói thờng ngày: Nớc rộng /
Gặp em đi xúc cá / (Chắc lại về nấu canh chua)
Nếu nh thơ 1945-1975 còn đầy ắp tính công dân thì thơ sau 1975 thơ trở về với
đời thờng, thơ đòi hỏi sự thức tỉnh nhu cầu cá thể, khẳng định cá tính, khẳng định cái
tôi, cái tôi trở về với chính nó: Tôi uống bao nhiêu phiền muộn/ Dài đặc sao cuộc kiếm
22
tìm mình (Dơng Kiều Minh). Thơ trữ tình điệu nói tiếp tục phát triển. Thơ tự nhiên nh
lời nói hàng ngày: Viết cho mình một chấm xanh (Phùng Khắc Bắc), Tự bạch (Lê Huy
Quang) Nhiều bài thơ của Phùng Khắc Bắc ngay ở tên bài thơ đã mang ngữ điệu
nói, chẳng hạn bài Ta chết đây. ở Khối vuông ru bích, Thanh Thảo lấy chất liệu thuần
tuý đời thờng để xây dựng trờng ca này. Phùng Quán viết Trờng ca trái cà với cảm
hứng đối thoại. Quá trình dân chủ hoá trong lĩnh vực trữ tình cũng nảy sinh một xu h-
ớng lấy tính giải trí làm cảm hứng, một kiểu giải phóng cá nhân đối với sáng tác thơ ca
(26, 24), gia tăng sử dụng các chất liệu trào lộng, hài hớc ngụ ngôn trong thơ trữ tình,
do vậy bớt dần chất thơ (tiêu biểu: thơ tình Bùi Chí Vinh)
Nh vậy, thơ trữ tình điệu nói đã có một quá trình phát triển lâu dài từ văn học dân
gian đến văn học viết thời trung đại và hiện đại. Sự tồn tại qua thời gian của thơ trữ
tình điệu nói chứng tỏ nó có một giá trị không hề nhỏ đối với sự phát triển của thơ ca
dân tộc, bên cạnh vai trò của thơ trữ tình điệu ngâm.
Tiểu kết ch ơng:
ở chơng I, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu và trình bày khái niệm thơ trữ tình,
thơ trữ tình điệu ngâm, thơ trữ tình điệu nói cùng với những đặc điểm tiêu biểu của
chúng. Nguyên nhân hình thành và sự phát triển theo dòng thời gian của thơ trữ tình
tiếp, đợc phản ánh trong nội dung ý nghĩa của thực từ hay tổ hợp từ tơng ứng (2, 111)
Đại từ nhân xng vốn tha thớt trong văn chơng nhà nho trung đại. Trong thơ cổ
nói chung, các tác giả rất ít khi sử dụng đại từ nhân xng, lời thơ của họ dờng nh không
là lời của ai cả. Do đó, sợi dây kết nối giữa cảm xúc đợc trình bày với bản thân nhà thơ
thờng ẩn kín (28, 95). Đặc biệt là đại từ nhân xng thể hiện thái độ thân tình, suồng sã
thì lại càng hiếm. Thế nhng ở thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến, Trần Tế
Xơng, đại từ nhân xng đợc sử dụng khá nhiều. Đại từ nhân xng có khả năng biểu hiện
sắc thái tình cảm rất rõ, nhất là sắc thái điệu nói. Phát huy đặc tính này của đại từ nhân
xng, ba nhà thơ đều sử dụng hết sức đa dạng và linh hoạt các đại từ nhân xng. Bảng
thống kê sau sẽ cho thấy điều đó:
* Hồ Xuân Hơng:
- Đại từ nhân xng ngôi 1:
Ta Tôi
Xuân H-
ơng
Chị Đây Em Thiếp
1 1 1 2 1 5 4
- Đại từ nhân xng ngôi 2:
Cô mình Anh đồ Ông Cô bay Chàng Chị em Mình
1 3 7 1 6 2 1
- Đại từ nhân xng ngôi 3:
Thằng Kẻ Chị em Cô Nó
1 11 1 1 4
- Một số đại từ nhân xng khác:
Ai Nhau
23 4
* Nguyễn Khuyến:
- Đại từ nhân xng ngôi 1:
Tớ Tôi Ta Mình Ông Em Thầy
9 18 35 3 12 2 8