TÌM HIỂU LỊCH sử NGHIÊN cứu CẢNH QUAN TRÊN THẾ GIỚI và VIỆT NAM, đi sâu vào tìm HIỂU NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN cứu CẢNH QUAN ỨNG DỤNG TRONG LĨNH vực tài NGUYÊN và môi TRƯỜNG ở VIỆT NAM h - Pdf 31

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ

ĐỀ TÀI :TÌM HIỂU LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM, ĐI SÂU VÀO TÌM HIỂU NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU
CẢNH QUAN ỨNG DỤNG TRONG LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI
TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
(Bài tiểu luận kết thúc học phần)

Học phần: Phân vùng cảnh quan và cảnh quan ứng
dụng
Giảng viên phụ trách: Th.S Trương Đình Trọng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hồng Quyên
Lớp: 12CDM
Đà Nẵng, tháng 11 năm 2015



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………………………….2
CHƯƠNG I : LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở
VIỆT NAM
1.1 Các trường phái nghiên cứu cảnh quan trên thế giới.
1.1.1 Trường phái nghiên cứu cảnh quan của các nhà địa lý Liên Xô.
1.1.2 Trường phái nghiên cứu cảnh quan của các nhà địa lý Tây Âu và Mỹ.
1.2 Trường phái nghiên cứu cảnh quan của các nhà địa lý Việt Nam.
1.2.1 Giai đoạn từ 1954 – 1980
1.2.2 Giai đoạn sau 1980 đến nay.
CHƯƠNG 2 : NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN ỨNG DỤNG

đích thống kê các hướng nghiên cứu của các tác giả về phương pháp, nội dung cũng như
cách tiến hành nghiên cứu và kết quả đạt được về giải quyết những vấn đề bất cập trong
khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường hiện nay và một số định hướng phát
triển, phục vụ mục tiêu lâu dài là phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, rút ra các ưu điểm,
nhược điểm chung và đưa ra một số giải pháp, định hướng khắc phục.
Trong quá trình tiến hành đề tài, tất nhiên không tránh khỏi những sai sót, mong
thầy đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn.


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở
VIỆT NAM
1.1 Các trường phái nghiên cứu cảnh quan trên thế giới.
Hướng nghiên cứu địa lí tự nhiên tổng hợp trên thế giới có từ rất sớm,cùng với sự phát
triển của khoa học địa lí. Giai đoạn từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20 được coi là giai đoạn
đặt nền móng cho sự hình thành khái niệm cảnh quan, với nhiều công trình nghiên cứu về
cảnh quan của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau từ trường phái Nga (Liên Xô
cũ) và các nước Đông Âu đến trường phái nghiên cứu cảnh quan của Tây Âu và Bắc Mĩ.
Mỗi trường phái đều có những đặc trưng nghiên cứu riêng, với nhiều công trình khoa học
có giá trị cao, là kim chỉ nam cho các thế hệ nhà khoa học kế tiếp.
Xem xét lịch sử phát triển ngành cảnh quan học trên thế giới đã thấy rõ đây là một quá
trình phát triển tiến bộ không ngừng, minh chứng bởi nhiều công trình khoa học có giá trị
cả về lý luận và thực tiễn cao.
1.1 .1 Trường phái nghiên cứu cảnh quan của các nhà địa lý Liên Xô.

a. V.V Docursaev : đề xướng học thuyết về cảnh quan vào cuối thế kỷ 19 (1882-1898).
Từ những nghiên cứu thổ nhưỡng, ông đã đi tới những quan niệm về tổng hợp thể
địa lý:“ Nghiên cứu toàn bộ thiên nhiên thống nhất toàn vẹn không chia cắt, không
tách rời chúng ra thành từng phần”
V.V Docursaev cũng là người đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợp nghiên cứu

và địa mạo”
Năm 1991 trong cuốn sách “ Cảnh quan và phân vùng địa lý tự nhiên” quan điểm
về cảnh quan đã được ông làm sáng tỏ hơn. Ông coi cảnh quan là một địa hệ, là một tổng
thể lãnh thổ tự nhiên của cấp lãnh thổ địa phương.
e. D.L Armand (1975)
Đại diện cho quan điểm coi cảnh quan là một danh từ chung cho tất cả tổng thể
lãnh thổ tự nhiên từ nhỏ đến lớn(cả cỡ hành tinh là lớp vỏ cảnh quan). Định nghĩa cảnh
quan cũng là định nghĩa của tổng thể tự nhiên.
Năm 1975 ông viết:“Tổng thể lãnh thổ tự nhiên (hay cảnh quan – địa tổng thể) là
phần lãnh thổ hay khu vực được phân chia một cách ước lệ bằng các ranh giới thẳng đứng
theo nguyên tắc đồng nhất tương đối và ranh giới nằm ngang theo nguyên tắc mất dần ảnh
hưởng của nhân tố mà theo đó tổng thể trên được định ra”.
Như vậy, cảnh quan là từ đồng nghĩa với tổng thể lãnh thổ (hoặc khu vực) tự nhiên.
Từ “cảnh lãnh thổ (hoặc khu vực) tự nhiên, không những có thể dùng cho bất kỳ một đơn
vị phân loại nào, ví dụ nói: cảnh quan khoảng trống giữa rừng, cảnh quan bán đảo Cà
Mau, cảnh quan núi lửa, mà còn dùng theo ý nghĩa chung, giống như khái niệm “đất đai”,
“khí hậu” v.v.,
1.1.2 . Trường phái nghiên cứu cảnh quan của các nhà địa lý Tây Âu và Mỹ.
a. G. Bertrand
Năm 1968 G. Bertrand định nghĩa: cảnh quan là sự phối hợp cơ động, bất ổn định
của các yếu tố địa lý khác nhau: vật lý, sinh học, nhân tác. Chúng tác động lên nhau một
cách biện chứng và làm cho cảnh quan trở thành một “thể tổng hợp địa lý”.
G. Bertrand phân ra ba bậc kế tiếp nhau:
- Môi trường tự nhiên,
- Các hệ sinh thái,


- Tác động con người, đồng thời phân 3 cấp cảnh quan
Geotope: là đơn vị cơ sở, rộng vài mét vuông, có vi khí hậu, có khi là một vũng
bùn trên cao nguyên, một hốc lõm trên vách đá, một hố karst, nó chứa một quần xã sinh

(Anthropic Landscape), cảnh quan văn hóa (Cultural Landscape) đồng nghĩa với quan
niệm cảnh quan chung.
c. Z.Passarge ( 1867 – 1958).
Năm 1913 ông xuất bản một công trình về địa lý cảnh quan, trong đó ông xác định
cảnh quan như là một miền, có tất cả các hợp phần tự nhiên kết hợp tương ứng với nhau
trong phạm vi đó ở “mọi điểm tồn tại”.


Giai đoạn phát triển hiện nay của cảnh quan học được bắt đầu vào khoảng giữa
những năm 60 của thế kỷ XX, khi mà cảnh quan học đã có bước ngoặc trong việc nghiên
cứu cấu trúc, chức năng và động lực, đi sâu vào nghiên cứu tính hoàn chỉnh, tính thứ bậc,
tính tổ chức, cấu trúc – chức năng, trạng thái, tính bền vững… của cảnh quan, theo hướng
này có thể tìm thấy trong công trình nghiên cứu của VB. Xootrava (1978).
Để đáp ứng được nội dung nghiên cứu cấu trúc – động lực của các thể tổng hợp
lãnh thổ đòi hỏi phải có những phương pháp nghiên cứu định lượng. Các phương pháp địa
hóa cảnh quan đã có những gias trị nhờ vào các công trình của M.A. Glazovxkaia. Ngành
vật lý cảnh quan do D.L.Armand đề xuất, dùng các phương pháp vật lý hiện đại để nghiên
cứu mối tác động qua lại của các hợp phần thành tạo cảnh quan. Việc thu thập được nhiều
dữ kiện, số liệu được quan trắc tại các trạm nghiên cứu định vị đã giúp cho việc ứng dụng
phương pháp toán học, nhằm xây dựng mô hình biểu đồ và toán học của các địa hệ. Sự
bùng nổ của công nghệ tin học trong những năm gần đây đã giúp cho địa lý nói chung,
cảnh quan nói riêng có được các công cụ nghiên cứu hữu hiệu là công nghệ viễn thám, hệ
thống thông tin địa lý (GIS).
Một nét nổi bật nữa của giai đoạn hiện nay là việc mở rộng ứng dụng các kết quả
nghiên cứu cảnh quan cho phát triển nông nghiệp, cũng như là cho các lĩnh vực khác như
du lịch giải trí, nghỉ ngơi, an dưỡng, đánh giá công trình xây dựng, đường xá… Các
nghiên cứu cảnh quan đã tạo cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa môi trường thiên nhiên,
tiến tới thiết kế cảnh quan.
Trong các công trình nghiên cứu cảnh quan, các tác giả đều đưa ra các hệ thống
phân loại, nhưng nhìn chung các hệ thống phân loại này đều được xây dựng cho những

trình của các tác giả trong nước. Đầu tiên là “Địa lý tự nhiên Việt Nam” của Nguyễn Đức
Chính – Vũ Tự Lập, trong đó các tác giả đã phân vùng với hệ thống phân vị gồm 6 cấp :
đới -> xứ => miền => khu => vùng => cảnh..
Trong giai đoạn này, có một công trình rất đáng chú ý về mặt lý luận và là giáo
trình cơ bản cho sinh viên chuyên ngành cảnh quan, đó là tác phẩm “Cảnh quan địa lý
miền Bắc Việt Nam” của Vũ Tự Lập (1976), đã định nghĩa cảnh địa lý (cảnh quan) như
sau: “ Cảnh địa lý là một địa tổng thể, được phân hóa ra trong phạm vi một phân đới
ngang ở đồng bằng và một đai cao miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền
địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng, đại tổ
hợp thực vật và bao gồm một tập hợp có qui luật của những dạng địa lý và những đơn vị
cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất”.
Tác giả đã đưa ra một hệ thống phân vị riêng, khá đầy đủ từ cấp lớn nhất đến cấp
nhỏ nhất. Ưu điểm của hệ thống phân vị này là có sự kết hợp nhuần nhuyễn tính địa đới
và phi địa đới.
Với cách xây dựng hệ thống phân vị như đã nói ở trên, tác giả muốn nhấn mạnh
việc nghiên cứu cảnh quan có thể tiến hành theo cách từ trên xuống bằng con đường phân
vùng, hoặc theo cách từ dưới lên (họa đồ cảnh quan), nghĩa là công tác nghiên cứu cảnh
quan không chỉ là sự kế thừa, phân tích có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các
chuyên ngành, mà còn là công việc độc lập của các nhà cảnh quan từ quá trình khảo sát
ngoài thực địa cho đến phân tích các tư liệu, tài liệu đã thu thập được trong các phòng thí
nghiệm
Cũng trong giai đoạn này, một công trình phân vùng khác mà ý nghĩa thực tiễn đối
với việc định hướng sản xuất cho đến nay, mặc dù đã trải qua trên 20 năm nhưng vẫn còn
có những giá trị. Đó là công trình phân vùng địa lý tự nhiên Tây Nguyên của tập thể tác
giả do Trần Quang ngãi, Hoàng Đức Triêm làm chủ biên tiến hành trong giai đoạn 1976 –


1980 và được công bố chính thức vào năm 1984 trong Tuyển tập báo cáo khoa học của
chương trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên 1976 – 1980.
Cơ sở lý luận về khoa học cảnh quan đã được các nhà địa lý Việt Nam tiếp

Phương, 11995, 1997), địa mạo (Phạm Văn Cự, 1996), sử dụng đất (Nguyễn Thị Cẩm
Vân, 2001), quan hệ biến động lớp phủ thực vật và quá trình xói mòn (Vũ Anh Tuấn,
2004) v v... Hướng nghiên cứu tổng hợp nhiều hợp phần cảnh quan cũng được nhiều nhà
khoa học tiến hành trong nghiên cứu đánh giá thích nghi cây trồng (Phạm Thanh Hải,
Phạm Văn Cự, Phạm Quang Sơn, 1997). Một số công trình nghiên cứu tuy không trực
tiếp đề cập đến việc sử dụng viễn thám và GIS trong nghiên cứu cảnh quan nhưng cũng


đưa ra nhiều phương pháp cho nghiên cứu các hợp phần của cảnh quan như địa hình, lớp
phủ mặt đất… (Nguyễn Ngọc Thạch 1997, 2011). Việc ứng dụng các phương pháp này
cho một nghiên cứu địa lý tổng hợp cần phải có sự nghiên cứu và vận dụng linh hoạt, phù
hợp với điều kiên từng vùng.
Nói tóm lại, khoa học cảnh quan ở Việt Nam phát triển trong sự tiếp thu những
kiên thức lý thuyết của nước ngoài (chủ yếu là trường phái Liên Xô cũ) và sự vận dụng cụ
thể trên các quy mô vùng lãnh thổ và tỉ lệ nghiên cứ khác nhau.

CHƯƠNG 2 : NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN ỨNG DỤNG
TRONG LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thống kê các đề tài nghiên cứu ứng dụng cảnh quan trong lĩnh vực tài nguyên và
môi trường ở Việt Nam hiện nay.
STT

Tên đề tài

Người
nghiên cứu

Thời
gian

Hưng, tỉnh Nam Định
Nghiên cứu cảnh quan sinh thái các huyện ven biển tỉnh Nguyễn Văn
Quảng Trị phục vụ cho sử dụng hợp lý lãnh thổ
Mạnh
Phân tích cấu trúc và chức năng cảnh quan phục vụ định Hứa Thanh
hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất và nước khu vực
Hoa
phía tây thị xã Sơn Tây, Hà Nội
Nghiên cứu cấu trúc cảnh quan phục vụ tổ chúc không
Nguyễn Thị
gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Thúy Hằng
tỉnh Ninh Bình với sự trợ giúp của công nghệ viễn thám
và hệ thống thông tin địa lý.
Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài
Trương Thị
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng

Bình
Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng
Dương Thị
hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng
Nguyên Hà
Ngãi
Xác lập cơ sở
Dương, Thị
địa lý cho định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo Thúy Hường
vệ môi trường thành phố Đà Lạt
Xác lập cơ sở địa lý cho định hướng sử dụng hợp lý tài
Nguyễn Thị

12

13
14

2006

2007

2007

2011
2012

2012

2012

2013

2014

2014

2014
2014.


15


Đề tài 1 : Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và
bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi
Luận Án Tiến Sĩ Địa Lý, Dương Thị Nguyên Hà
1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
1.1.1 Các quan điểm nghiên cứu
Quá trình thực hiện luận án, NCS dựa trên các quan điểm: Quan điểm hệ thống tổng hợp; Quan điểm lãnh thổ; Quan điểm lịch sử; Quan điểm PTBV. Trong đó, quan
điểm hệ thống – tổng hợp là quan điểm chủ đạo.
1.1.2. Hệ phương pháp nghiên cứu
NCS sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại của Địa lí học, cả
phương pháp định tính và bán định lượng: Phương pháp tổng hợp, phân tích hệ thống;
khảo sát thực địa; Phương pháp bản đồ, phân tích không gian bằng công cụ GIS; Phương
pháp chuyên gia và đánh giá nhanh nông thôn; Phương pháp ĐGCQ.
1.1.3 Phương pháp luận nghiên cứu cảnh quan.


Quá trình NCCQ cần phải xác định mục đích, đối tượng, nguyên tắc vận dụng;
xây dựng hệ thống phân loại, xây dựng bản đồ CQ và nội dung nghiên cứu cho lãnh thổ
đã lựa chọn.


Đặc điểm các nhân tố thành tạo CQ
Quảng Ngãi

Đa dạng CQ
Quảng Ngãi

- Bản đồ các hợp phần thành tạo CQ
- Bản đồ CQ Quảng Ngãi
- Bản đồ CQ Bình Sơn



Tổng hợp,
phân tích hệ thống
Chương 1

Phương pháp
Nội dung
Kết quả


Hình 1: Sơ đồ cấu trúc, nội dung chi tiết, phương pháp thực hiện và kết quả luận án
Bảng 1. Nội dung nghiên cứu và kết quả từng chương của luận án
Vấn đề tồn tại
Chư
(cần
nghiên Mục tiêu
ơng
cứu)
1

Tài
liệu

Câu hỏi cần giải
phương
pháp Kết quả và thảo luận
quyết (giả thuyết)
nghiên cứu

- Địa phương Để hiểu về lí luận Vận dụng NCCQ, - Các tài liệu - Các giai đoạn, xu hướng

tồn tại cho
tỉnh, là hướng
nghiên
cứu
rất cần thiết
cho
Quảng
Ngãi.

- CQ tự nhiên lãnh
thổ phân hóa theo
quy luật địa lí nào?
- Những nhân tố nào
hình thành và tác
động đến sự phân
hóa CQ Quảng
Ngãi?
- Đặc điểm CQ
Quảng Ngãi thể hiện
như thế nào?

- Cơ sở dữ liệu
(bản đồ số), bản
đồ giấy.
- Tổng hợp, phân
tích hệ thống,
thực địa, bản đồ,
GIS.

- Mỗi nhân tố có vai trò nhất

phát huy hết những
lợi thế của điều kiện
TN cho phát triển
KT-XH ở Quảng

- Quy hoạch, kế
hoạch, chỉ tiêu
phát triển KT-XH
địa phương
- Tổng hợp, phân

- Bản đồ ĐGCQ phát triển các
ngành kinh tế chiến lược toàn
tỉnh và bản đồ ĐGCQ cho
phát triển cây cao su huyện
Bình Sơn.

Định hướng
đưa ra phù
hợp với tình
hình thực tiễn

Quảng

chưa có nghiên
cứu, đánh giá
tổng hợp theo
NCCQ, ĐGCQ và
từng đơn vị CQ
vận dụng vào nghiên

- Quy luật biến đổi

- Nghiên cứu
từng hợp phần
riêng lẻ.
- Nghiên cứu
tổng hợp ở từng
đơn vị lãnh thổ
nhỏ

- Chưa phát huy
hết lợi thế của
điều kiện TN và
tài nguyên thiên
nhiên.


- Quảng Ngãi có thế mạnh
phát triển nông nghiệp, tiềm
Ngãi?
- Hoạt động KT- CQ và kiến nghị định
tích hệ thống;
- Khả năng mở rộng
năng phát triển lâm nghiệp,
XH để lại nhiều hướng SDHL tài
ĐGCQ; GIS, ý
diện tích cao su là
lợi thế cho phát triển du lịch Ngãi.
tác động tiêu nguyên, BVMT lãnh
kiến chuyên gia;

Bản đồ ĐGCQ phát triển du lịch
Bản đồ ĐGCQ phát triển lâm nghiệp
Bản đồ ĐGCQ phát triển nông nghiệp

Bản đồ ĐGCQ phát triển cao su
Hệ thống phân loại và chỉ tiêu chuẩn đoán các cấp phân vị cảnh quan áp dụng cho lãnh thổ nghiên cứu
Phân tích
yếu tố
thành tạo cảnh quan
Các hợp phần tự nhiên và các quá trình
tự nhiên


Các hoạt động KT-XH
và khai thác tài nguyên
Thành lập bản đồ cảnh quan
BĐCQ tỉnh Quảng Ngãi
BĐCQ huyện
Bình Sơn
Phân tích cảnh quan
Phân tích cấu trúc
Phân tích chức năng
Phân tích động lực
Bản đồ định hướng không gian ưu tiên phát triển các ngành sản xuất tỉnh Quảng Ngãi

Định hướng sử dụng một số
loại tài nguyên theo các
đơn vị cảnh quan và bố trí hợp lí không gian phát triển các ngành sản xuất
Một số định hướng bảo vệ
môi trường

nông nghiệp


Kết quả ĐGCQ cho phát triển cây cao su
Phân tích tổng hợp phát triển các ngành kinh tế
Bản đồ ĐGCQ phát triển du lịch
Bản đồ ĐGCQ phát triển lâm nghiệp
Bản đồ ĐGCQ phát triển nông nghiệp

Bản đồ ĐGCQ phát triển cao su
Hệ thống phân loại và chỉ tiêu chuẩn đoán các cấp phân vị cảnh quan áp dụng cho lãnh thổ nghiên cứu
Phân tích
yếu tố
thành tạo cảnh quan
Các hợp phần tự nhiên và các quá trình
tự nhiên
Các hoạt động KT-XH
và khai thác tài nguyên
Thành lập bản đồ cảnh quan
BĐCQ tỉnh Quảng Ngãi
BĐCQ huyện
Bình Sơn
Phân tích cảnh quan
Phân tích cấu trúc
Phân tích chức năng
Phân tích động lực
Bản đồ định hướng không gian ưu tiên phát triển các ngành sản xuất tỉnh Quảng Ngãi


Định hướng sử dụng một số

Số liệu
khí hậu
Số liệu thuỷ văn
Hiện trạng thảm thực vật
Kiểu địa hình
Loại đất
Tài nguyên nước

Lớp phủ
thực vật
Độ dốc
Độ dày
tầng đất

Bản đồ phân loại cảnh quan

tỉ lệ 1: 50.000

Thành phần cơ giới

Quy trình thành lập bản đồ CQ lãnh thổ nghiên cứu được tiến hành như hình 3:

Hình 3: Sơ đồ quy trình thành lập bản đồ cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu


Trích đoạn Giải pháp khắc phục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status