Tính hệ thống của từ ngữ thể hiện hình tượng trong thơ nguyễn đình thi - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

Lời cảm ơn
Lời nói đầu tiên cho phép em được gửi tới các thầy cô giáo trong Ban
giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ
văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 và đặc biệt là cô giáo hướng dẫn: TS
GVC Phạm Thị Hoà lòng biết ơn chân thành và trân trọng nhất. Nhờ có sự
chỉ bảo của các thầy cô giáo và đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của cô giáo
hướng dẫn em đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp Đại học này.
Do khả năng có hạn, chắc chắn khoá luận này còn nhiều thiếu sót, em rất
mong được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 2007
Sinh viên
Hà Thị Thu Thuỷ

Trường ĐHSP Hà Nội 2

1

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***


1

Lời cảm ơn
Lời cam đoan

2

Mục lục

3

Phần mở đầu

4

1. Lý do chọn đề tài

4

2. Lịch sử vấn đề

5

3. Mục đích nghiên cứu

6

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

6


11

3.2. Quan hệ ngang và quan hệ dọc

12

Chương 2: Hệ thống của từ ngữ thể hiện hình tượng đất nước

15

đau thương mà anh dũng

1. Hình tượng đất nước đau thương

15

2. Hình tượng đất nước đau thương mà anh dũng

21

Chương 3: Hệ thống các từ ngữ thể hiện hình tượng đất nước

28

thanh bình

1. Hình tượng thiên nhiên đất nước thanh bình

28

phần Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật thường được sử dụng có hệ
thống. Tính hệ thống có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc biểu đạt nội dung
tư tưởng, tình cảm của tác phẩm.
Việc nghiên cứu tính hệ thống của từ ngữ không chỉ có ý nghĩa với người
tiếp nhận và thưởng thức văn chương nghệ thuật nói chung mà nó còn là việc
làm vô cùng cần thiết với người giáo viên Ngữ văn. Trong quá trình phân tích
thơ ca, việc phân tích từ ngữ theo các chủ đề tư tưởng là một điều vô cùng có ý
nghĩa. Chúng giúp ta hiểu giá trị và hiệu quả của từng từ ngữ là các yếu tố
nghệ thuật mà tác giả đã chọn lọc và sử dụng, đồng thời thấy được giá trị
chung của các yếu tố đó khi chúng phối hợp liên kết lại với nhau một cách có
hiệu quả.
1.2. Giới thiệu về tác giả
Nguyễn đình Thi (1924 - 2003) là một nghệ sĩ đa tài hiếm hoi trong đội
ngũ văn nghệ sĩ khá đông của Việt Nam. Ông soạn nhạc, viết văn, làm thơ,
viết kịch, viết phê bình tiểu luậnở mỗi lĩnh vực ông đều có những thành tựu
riêng để lại ấn tượng riêng trong những tìm tòi sáng tạo góp phần vào sự phát
triển của từng thể loại văn học. Nhưng đến nay có thể thấy rằng trong địa hạt
văn học, cái lưu lại ấn tượng mạnh nhất sâu rộng nhất trong lòng người đọc
chính là thơ. Nguyễn Đình Thi quan niệm: Thơ là cái thiết tha nhất của tôi,
cái tìm tôi khổ nhất của tôi. Vào những năm đầu cuộc kháng chiến chống
Pháp, Nguyễn Đình Thi đem đến cho thơ một tiếng nói mới khác với những
phong cách của các nhà thơ trước đang chuyển mình. Ông là nhà thơ của Cách
Mạng tháng 8. Thơ ông tuy không nhiều nhưng nó mang đậm sức sống của
một thời đại mới, mang đậm những nét suy nghĩ hồn nhiên chân thật của tâm
hồn. Chất thơ không cần tô điểm nhiều nó là sự sống bình dị và gợi cảm. Tác

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Bác (Tố Hữu), Truyện Kiều (Nguyễn Du). Một tác giả khác Bùi Minh Toán
trong Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt đã phân tích những từ ngữ được
dùng một cách có hệ thống trong bài Bếp lửa (Bằng Việt) và một số đoạn
trong Viếng lăng Bác (Viễn Phương) Đất nước (Nguyễn Đình Thi) nhằm làm
sáng tỏ hiệu quả biểu đạt của từ ngữ trong hai mối quan hệ đó là: quan hệ
ngang và quan hệ dọc trong hoạt động giao tiếp.
Nghiên cứu và xem xét tính hệ thống của từ ngữ trong nhiều tác phẩm
của một tác giả đã có các khoá luận tốt nghiệp của một số sinh viên trường
Đại học sư phạm Hà Nội 2 ví dụ sinh viên Nguyễn Thị Ngọc Lan, lớp K27H

Trường ĐHSP Hà Nội 2

5

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

với đề tài: Tính hệ thống của từ ngữ trong Người lái đò sông Đà và Chữ
người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân; sinh viên Nguyễn Thị Thoa lớp
K28G với đề tài: Tìm hiểu một số trường từ ngữ trong các tác phẩm viết về
người nông dân của Nam Cao vv
Khác với nhều công trình trước, khoá luận của chúng tôi đi vào nghiên
cứu tính hệ thống của từ ngữ thể hiện hình tượng trong thơ Nguyễn Đình Thi.
3. Mục đích nghiên cứu

***

Hà Thị Thu Thuỷ

Tính hệ thống của từ ngữ nghệ thuật thể hiện ở cả hai mỗi quan hệ: quan
hệ ngang và quan hệ dọc nhưng chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu và xem xét
các từ ngữ biểu đạt hình tượng là chủ yếu cho nên đề tài chỉ giới hạn việc xem
xét tính hệ thống theo quan hệ dọc. Việc phân tích hệ thống từ ngữ theo chiều
ngang cũng được lưu ý nhưng chỉ với nhiệm vụ bổ trợ.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp phân loại.
- phương pháp phân tích nghĩa vị.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

7

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý thuyết


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện từng nét cụ thể, cá biệt
không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ bản chất của mỗi loại
người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của người nghệ sĩ. Hình
tượng nghệ thuật không phải phản ánh các khách thể thực tự nó mà thể hiện
toàn bộ quan điểm cảm thụ sống động của chủ thể đối với thực tại. Người đọc
không chỉ thưởng thức bức tranh hiện thực mà còn thưởng thức cả nét vẽ,
màu sắc, cả nụ cười, sự suy tư ẩn phía sau bức tranh ấy. Hình tượng nghệ
thuật thể hiện tập trung giá trị thẩm mĩ của nghệ thuật.
Cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự thống nhất cao độ
giữa các mặt độc lập: chủ quan và khách quan, lí trí và tình cảm, cá biệt và
khái quát hiện thực lí tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và vô hình.
Hình tượng là một quan hệ xã hội thẩm mĩ. Đó là quan hệ giữa các yếu tố
chính của bức tranh đời sống thể hiện qua hình tượng. Tiếp theo đó là quan hệ
giữa thế giới nghệ thuật với thế giới thực tại mà nó phản ánh. Hình tượng
không chỉ tái hiện đời sống mà còn cải biến nó để tạo ra một thế giới mới chưa
từng có trong hiện thực đó là quan hệ giữa tác giả với hiện tượng với cuộc
sống của tác phẩm. Một mặt hình tượng là hình hình thức, là kí hiệu của một tư
tưởng, tình cảm, một nội dung nhất định, là sản phẩm sáng tạo của người nghệ
sĩ. Mặt khác hình tượng là một khách thể tinh thần có cuộc sống riêng.
Và cuối cùng hình tượng nghệ thuật chính là hình tượng ngôn từ.
(3, Tr147)
2. Hệ thống
a. Khái niệm

chúng ta hiểu vì sao phẩm chất của hệ thống không giống với phẩm chất của
các yếu tố tạo thành.
d. Hệ thống ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống vì nó bao gồm các yếu tố và quan hệ giữa các
yếu tố đó. Các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ chính là các đơn vị ngôn ngữ.
Tính hệ thống của ngôn ngữ thể hiện qua các cấp độ sau.
- Cấp độ âm vị: Âm vị là đơn vị nhỏ nhất người ta có thể phân biệt được
trong chuỗi lời nói. Ví dụ âm vị b , t , v là nhhững âm vị không thể chia
nhỏ hơn.
- Cấp độ hình vị: Hình vị là một hoặc một chuỗi kết hợp vài âm vị biểu
thị một khái niệm. Nó là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa.
Ví dụ từ xe đạp bao gồm hình vị xe và hình vị đạp.
- Cấp độ từ: Từ là chuỗi kết hợp một hoặc một số hình vị mang chức
năng gọi tên, chức năng ngữ nghĩa và chức năng cấu tạo câu.
Ví dụ: từ xinh đẹp, hạnh phúc, hát, bơi, đọc, thơ, cười vv

Trường ĐHSP Hà Nội 2

10

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

- Cấp độ câu: Câu là chuỗi kết hợp một hay nhiều từ, chức năng của nó

11

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

Từ xẻ không chỉ diễn tả được hành động chia cắt tách đôi hai nửa vầng
trăng mà nó còn diễn tả tâm trạng của hai nhân vật trong cuộc chia tay lưu,
luyến bịn rịn của Thúc Sinh và Thuý Kiều. Đặc biệt hơn đó là nỗi cay đắng
tủi hờn, nỗi cô đơn cùng cực của nàng Kiều, tâm trạng hẫng hụt, lẻ loi được
khắc hoạ rõ nét nhất. Khi đọc câu thơ ta tưởng chừng như câu thơ cũng bị gập
gẫy thành hai nửa.
Như vậy cơ sở lí thuyết về quan hệ đồng nhất và quan hệ đối lập sẽ giúp
người viết khoá luận có căn cứ để tập hợp các từ có cùng một nét nghĩa biểu
đạt một hình tượng nào đó, đồng thời đối lập các từ này để phân tích phát hiện
hiệu quả sử dụng của từng từ. Hay nói cách khác, đối lập để thấy giá trị của
mỗi yêu tố trong mối quan hệ với các yếu tố khác trong hệ thống.
3.2. Quan hệ ngang và quan hệ dọc
Khi ngôn ngữ được hiện thực hoá thì những yếu tố của nó hiện ra lần lượt
cái này tiếp cái kia làm thành một chuỗi. Khi biểu hiện bằng chữ viết người ta
thay thế sự kế tiếp thời gian của các yếu tố ngôn ngữ bằng không gian của các
chữ. Đặc điểm này của ngôn ngữ được gọi là hình tuyến của các biểu hiện và
mối quan hệ giữa các yếu tố.
Vận dụng những hiểu biết về quan hệ ngang khi phân tích từ ngữ biểu đạt
hình tượng trong tác phẩm, chúng tôi cố gắng khôi phục những kết hợp gần

trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của tác phẩm.
Ví dụ: khi miêu tả về hình tượng đất nước thanh bình tươi đẹp, Nguyễn
Đình Thi đã sử dụng một hệ thống các từ ngữ miêu tả thiên nhiên như: biển
lúa, cánh cò, dòng sông, phù sa, những ngả đường, mây vvđể ca ngợi, niềm
tự hào về quê hương Việt Nam giàu đẹp, xinh xắn như một bài thơ trữ tình.
Bên cạnh hệ thống trên tác giả đã sử dụng phối hợp các hệ thống từ ngữ chỉ
cảm giác, cảm nhận của con người trước khung cảnh quê hương đổi mới như:
thơm mát, xao xác, vui nghe, trong biếc (nói cười)càng tạo nên vẻ đẹp chân
phương giản dị mà sâu sắc của quê hương Việt Nam.
Như vậy là việc khảo sát xem tác giả đã sử dụng các hệ thống danh từ,
động từ, tính từcùng với quan hệ ngang và quan hệ dọc để thấy hiệu quả của
việc sử dụng từ ngữ có tính hệ thống là một việc làm vô cùng cần thiết.
Mỗi tác phẩm là một hệ thống trong đó các tư tưởng tình cảm, cảm xúc,
hình tượng hình ảnh và ngôn ngữ có quan hệ với nhau. Tính hệ thống của từ
ngữ trong tác phẩm văn chương được xem xét trên ba phương diện sau:
1. Tính hệ thống của từ ngữ trong việc biểu đạt tư tưởng, chủ đề của tác
phẩm.
2. Tính hệ thống của từ ngữ trong việc biểu đạt tư tưởng, chủ đề trong
nhiều tác phẩm của một tác giả.
3.Tính hệ thống của từ ngữ trong việc biểu đạt tư tưởng, chủ đề trong
nhiều tác phẩm của nhiều tác giả.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

13

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp


14

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

Chương 2
Hệ thống của từ ngữ thể hiện hình tượng
đất nước đau thương mà anh dũng
Đất nước ta trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh đặc biệt là hai cuộc chiến
tranh chống Pháp và chống Mĩ. Văn học gắn liền với cuộc sống. Nhà thơ
Nguyễn Đình Thi đã viết về cuộc sống của con người Việt nam trong chiến
tranh với rất nhiều cảm hứng: đau xót trước cảnh quê hương bị dày xéo, tự hào
về ý chí quật cường của những con người Việt Nam kiên trung, bất khuất.
1. Hình tượng đất nước đau thương
Bài thơ Đất nước, nhà thơ Nguyễn Đình Thi viết:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều.
(Đất nước)
Bằng việc sử dụng các hình ảnh về quê hương những cánh đồng quê
những cánh đồng ấy chảy máu, hình ảnh dây thép gai tác giả đã khắc hoạ
một cách khái quát về hình tượng quê hương đau thương. Hình ảnh cánh
đồng quê ở đây không phải là cánh đồng bát ngát xanh, mênh mông thẳng
cánh cò bay mà đó là cánh đồng quê chảy máu cánh đồng đớn đau. Chảy

thống từ ngữ khác nhau chẳng hạn hệ thống các từ chỉ hành động của con
người: đè, còng, cùm, đày, đổ, rơi kết hợp với hệ thống các danh từ chỉ vũ khí
của giặc: gông xích, roi và một loạt từ ngữ chỉ trạng thái con người: quằn quại,
thịt đổ máu rơi để khắc hoạ hiện thực chiến tranh tàn khốc. Bằng việc sử dụng
phối hợp hệ thống các từ ngữ trên nhà thơ đã khắc họa nỗi thống khổ quằn
quại của nhân dân ta trước sự tàn phá của chiến tranh. Cụm từ roi quằn thịt
đổ máu rơi thể hiện rõ nhất sự đàn áp bóc lột dã man của giặc Pháp. Điệp từ
thuế được lặp lại ba lần gợi cảm giác sự vây bủa đến tận cùng đang phong
toả người dân Vàm Cỏ.
Quê hương ngập đầy bóng giặc, con người bị áp bức bóc lột đến tận
xương tuỷ và nỗi đau ấy đã được Nguyễn Đình Thi khái quát qua những câu
thơ nghẹn ngào đau xót:
Bát cơm chan đầy nước mắt
Bay còn giằng khỏi miệng ta
Thằng giặc tây thằng chúa đất
Đứa đè cổ đứa lột da.
( Đất nước)

Trường ĐHSP Hà Nội 2

16

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ


17

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

cỏ lan, chân rừng đầu núi để khắc họa cái chết thầm lặng không để lại dấu
vết, lan toả tan loãng vào cỏ cây đất nước. Hình ảnh nghìn lối cỏ lan gợi cho
ta thấy không gian hoang vắng tĩnh lặng hoang vu, ít người qua lại và chính
điều đó càng gợi lên cho ta những suy nghĩ xót xa. Người chiến sĩ khi sống
lặng lẽ cống hiến còn khi chết thì lặng lẽ hi sinh.
Cái chết của người chiến sĩ là cái chết không tên đó là sự dâng hiến
thầm lặng để cho nước nhà sống mãi cho hoà bình độc lập của toàn dân tộc.
Linh hồn của người chiến sĩ đối lập với thân thể tiều tụy trong lúc sắp vĩnh
biệt cuộc đờita bỗng thấy liên tưởng tới những anh hùng vô danh đông đảo
đã hi sinh thầm lặng làm nên lịch sử:
Các anh chết không tên
Cho nước nhà sống mãi
Tiếng hát anh còn mãi
Trong trời thu nắng nhảy xôn xao.
(Ai biết tên các anh)
Nhà thơ sử dụng các từ ngữ chỉ thời gian vô tận như: sống mãi, còn mãi
kết hợp với các hình ảnh ẩn dụ tiếng hát, trời thu, nắng đồng thời sử
dụng các từ ngữ chỉ thời gian vô tận như: sống mãi, còn mãi kết hợp với

các từ ngữ trên đã kết hợp với nhau để tạo nên không khí ác liệt của cuộc
chiến.
câu thơ đầu ta thấy một kết hợp là: tiếng đại bác từng hồi văng vẳng. Nói lạ
là vì: ta đã quen nghe tiếng chuông chùa từng hồi văng vẳng, tiếng hát xa đưa
văng vẳng từng hồi. Các kết hợp trên gợi cảm giác về không gian yên bình.
Nhưng giờ đây quan giạc tràn về khắp ngõ phố, đường quê. Chúng mang
nhiều vũ khí để tiêu diệt dân lành. Đâu đâu cũng nghe tiếng súng. Tiếng súng
xa, tiếng súng gần, tiếng đạn đại bác v.v.. khắp nơi từng hồi, từng hồi văng
vẳng. Bao trùm lên không gian ấy là tiếng súng. Điều đó thể hiện rõ hơn khi
tác giả viết: khắp chân trời đầy nặng khói đen. Từ khắp và từ đầy là từ
chỉ không gian rộng, không gian bao trùm. Cụm từ đầy nặng khói đen Gợi
lên sự ngột ngạt khó thở vì mùi khói thuốc súng, đạn .
Pháo chính là vũ khí tối tân của địch để chúng tiến hành công cuộc tàn
sát, phá trụi, phá nát từng cánh đồng mái nhà từng tấc đất của người dân:
Pháo lại gầm lên đất trời quầng đỏ
Đêm mù man rợ tiếng bê năm hai
(Câu chuyện với người bạn cũ)
Cùng miêu tả cuộc chiến đấu giữa ta và giặc nhưng đoạn thơ trên Nguyễn
Đình Thi không miêu tả vũ khí là đại bác nữa mà đó là pháo, bom bê

Trường ĐHSP Hà Nội 2

19

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***


Trường ĐHSP Hà Nội 2

20

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

lặp lại ba lần để nhấn mạnh nỗi đau của con người phải chịu đựng nhiều,
chồng chất.
Như vậy thông qua việc miêu tả, liệt kê các loại vũ khí của thực dân Pháp
và đế quốc Mĩ trong hai thời kì chiến tranh Nguyễn Đình Thi một mặt cho
chúng ta biết vũ khí chúng sử dụng ngày càng hiện đại hơn vì vậy sức công
phá cũng lớn gấp trăm, nghìn lần. Mặt khác tác giả gửi đến độc giả thông điệp
đó là hiện thực của cuộc chiến tranh, hậu quả của các cuộc chiến vô cùng
khốc liệt... Đó là nỗi đau mất mát không gì bù đắp được của người Việt Nam
qua hai cuộc chiến tranh.
2. Hình tượng đất nước đau thương mà anh dũng
Trong chiến tranh khốc liệt con người Việt Nam phải chịu đựng hậu quả
vô cùng to lớn đau thương ngập trời, đau thương chín nẫu. Tuy nhiên
theo qui luật của tự nhiên tức nước vỡ bờ càng bị đàn áp, tàn phá, bóc lột
bao nhiêu người dân càng vùng lên đấu tranh mạnh mẽ bấy nhiêu. Đó chính là
ý chí quật cường, ý chí của con người Việt Nam anh dũng kiên cường.
Khi viết về đất nước, Nguyễn Đình Thi đã tự hào xen lẫn xúc động:

Đã đứng lên thành những anh hùng.
(Đất nước)
Đất nghèo nuôi những anh hùng
Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên
Đạp quân thù xuống đất đen
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.
(Quê hương Việt Nam)
ở hai bài thơ khác nhau, tác giả đã sử dụng phối hợp các hệ thống từ ngữ
đó là hệ thống các từ chỉ trường con người: những người áo vải, những
người anh hùng, và các động từ mạnh chỉ hoạt động trạng thái của con người
như: ôm, vùng dứng lên, đạp, vứt bỏ, hiền. Qua đó chúng ta thấy
rõ sức mạnh, và nghị lực phi thường của con người Việt Nam. Họ quyết tâm
đứng lên chiến đấu ngày đêm với kẻ thù để giành lại quyền lợi chính đáng của
họ. Sau này nhìn lại chặng đường ấy nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã tự rút ra
nhận xét: Những năm tháng ấy đã làm cho tôi tin mãi là con người, khi có
một lẽ phải để sống thì có thể phát huy những tiềm năng hầu như vô tận bên
trong mình, và làm được những việc tưởng chừng như không làm nổi (Trên
sóng thời gian- Báo văn nghệ ngày 19/8/ 1994 ).
Nguyễn Đình Thi không chủ định viết về những cảnh đau thương của dân
tộc Việt Nam một cách bi lụy mà thông qua những năm đau thương ấy tác giả
nhằm ca ngợi ý chí và sức mạnh quật cường của con người. Nói tới đất nước là

Trường ĐHSP Hà Nội 2

22

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

( Đất nước)

Trường ĐHSP Hà Nội 2

23

K29D Ngữ Văn


Khoá luận tốt nghiệp

***

Hà Thị Thu Thuỷ

Sự chuẩn bị cho chiến đấu của người dân được tác giả miêu tả qua các
hình ảnh: khói nhà máy, kèn gọi quân, cuồn cuộn, văng vẳng , Đó là những từ
ngữ gợi hình, gợi thanh góp phần miêu tả sống động không khí lao động hăng
say thường trực, tinh thần sẵn sàng ra trận cúư nước chống giặc ngoại xâm.
Đoạn thơ tiếp theo tác giả đã khái quát lòng căm thù giặc sâu sắc của
quân dân ta qua hệ thống các từ ngữ được đặt móc xích với nhau: (những năm
đau thương ngời lên nét mặt quê hương), (gốc lúa bờ tre bật lên tiếng căm
hờn). Hai động từ ngời lên, bật lên được đặt vào sau từ đã để nhấn
mạnh khắc sâu lòng căm thù giặc và quyết tâm chiến đấu thắng giặc của con
người Việt Nam. Dường như tác giả đang dằn từng tiếng kết tội kẻ thù và đồng
thời chúng ta cũng thấy nét mặt của người dân ngời sáng, vui sướng khi đánh
thắng giặc.
Tiếp đó đoạn thơ cuối bài Đất nước Nguyễn Đình Thi dồn dập kể:
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ

Có lẽ trên mảnh đất trần trụi sỏi đá có nhánh xương rồng gai mang
những đoá hoa nhỏ bé màu lửa.
Có lẽ đêm tối là nơi mọc những vì sao và rừng rậm là nơi người mong
thấy người
(Có lẽ)
Với hai câu thơ dài ta bắt gặp hình ảnh tượng trưng được đặt ở hai vế đối
lập. ở cực này là trần trụi sỏi đá, xương rồng gai, đốm hoa nhỏ bé,
đêm tối, rừng rậm. ở cực kia là màu lửa, là vì sao là niềm ước vọng
người mong thấy người. Nhan đề của bài thơ là Có lẽ nhưng những gì toát
lên từ hai trường nghĩa trên lại là sự khẳng định chắc chắn về niềm tin tươi
sáng, khát vọng đổi thay. Đất nước ta đi từ hoang tàn đổ nát trần trụi sỏi đá
đến rực rõ ánh sáng hạnh phúc. Đốm hoa nhỏ bé màu lửa, nơi mọc những vì
sao là những hình ảnh tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của con người
Việt Nam. Sức sống ấy luôn tồn tại trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Trong bài Buổi chiều Vàm Cỏ Nguyễn Đình Thi đã viết:
Bao nhiêu năm - mỗi chúng ta
Như hạt thóc trong nắm tay cách mạng
Tung lên giữa mùa gió lớn
Những hạt thóc rơi
Trên đất bùn sỏi đá trên than bụi đẫm máu
Trên nước mắt mồ hôi
Chết đi nuôi màu cho đất
Sống thì từng giờ âm ỉ

Trường ĐHSP Hà Nội 2

25

K29D Ngữ Văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status