Rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông - Pdf 10

1

Rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện
hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở
lớp 11 trung học phổ thông
Wrought perceptual skills and language teaching reproduced image in lyrical poetry in
grade 11 high school
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 109 tr. +

Trần Thị Hồng Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn);
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Viết Chữ
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho những nghiên cứu
về việc rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng. Khảo sát thực tiễn dạy học và
những biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng cho học sinh trong dạy
học thơ trữ tình ở lớp 11trung học phổ thông (THPT). Đề xuất một số biện pháp rèn kỹ
năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 THPT.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

Keywords: Ngữ văn; Phương pháp dạy học; Thơ trữ tình; Hình tượng văn học; Kỹ năng
tri giác.

Content
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay đòi hỏi con người phải có năng lực,

môn và có những năng lực văn học nhất định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy khi giảng dạy, giáo viên
chưa chú ý tới việc tri giác ngôn ngữ của học sinh, không giúp học sinh rèn luyện trí tưởng tượng tái
hiện để khai thác chiều sâu tư tưởng, giá trị nghệ thuật của bài thơ.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài : Rèn kỹ năng tri giác ngôn
ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông. Với đề tài
này, chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp, cách thức rèn luyện kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái
hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình để góp phần đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở
cấp trung học phổ thông.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi lưu tâm đến những ý kiến thuộc hướng nghiên cứu về
năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình.
Trong chuyên đề Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường phổ
thông, tác giả Nguyễn Viết Chữ đã khẳng định: “phát triển năng lực tiếp nhận của học sinh là hạt
nhân của quá trình dạy học văn hiện đại”. Trong Hiểu văn, dạy văn, tác giả Nguyễn Thanh Hùng
cũng cho rằng muốn cắt nghĩa văn bản “…phải nghiên cứu và xác định mối quan hệ bên trong
mỗi tác phẩm trữ tình thông qua tác động và chức năng của hình tượng âm thanh, của cấu trúc câu
thơ, của khổ thơ, của tính hình ảnh”. Như vậy, để cắt nghĩa văn bản đòi hỏi người dạy và người
học phải nhận diện được hình thức nghệ thuật, các mối quan hệ bên trong của tác phẩm trữ tình.
Ngoài ra, còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu có giá trị như: Tác phẩm trữ tình và
phương pháp giảng dạy của Nguyễn Thanh Hùng, Về sự phân tích tác phẩm ngôn ngữ trong nhà
3

trường (Tạp chí ngôn ngữ số 2/1975) của Đinh Trọng Lạc, Suy nghĩ về một phương pháp phân
tích văn bản thơ của Trần Ngọc Thêm đăng trên Tạp chí văn học số 5/1981, Phương pháp giảng
dạy văn, Văn chương bạn đọc sáng tạo, Con đường nâng cao hiệu quả dạy văn… của Phan Trọng
Luận, Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương của Nguyễn Trọng Hoàn
Bên cạnh đó còn có một số luận văn, khóa luận nghiên cứu về phương pháp dạy học thơ trữ
tình trong nhà trường phổ thông như: Lê Thị Thúy Huân với đề tài: Giảng dạy Thơ mới (1930-1945)
trong trường Trung học phổ thông, Phương pháp giảng dạy thơ mới từ góc độ thi pháp của Nguyễn
Thị Lượm, Nguyễn Thị Na với Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác

5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5.4. Phương pháp thống kê
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
6.1. Về lý luận
- Góp phần hệ thống hoá lý luận về dạy học văn THPT nói chung và và dạy học thơ trữ tình
trong chương trình Ngữ văn 11 nói riêng.
- Góp thêm cơ sở khoa học cho việc đổi mới phương pháp dạy và học văn THPT.
6.2. Về thực tiễn
- Đề xuất các cách thức rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học
thơ trữ tình lớp 11cho học sinh THPT. Luận văn đưa ra một số thiết kế cụ thể cho một số văn bản
được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 11, giúp giáo viên tham khảo và vận dụng trong
giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn
được trình bày trong 03 chương:
Chương 1: Những tiền đề lý luận về rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng
trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông.
Chương 2: Thực tiễn dạy học và những biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ, tái hiện
hình tượng cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

CHƢƠNG 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RÈN KỸ NĂNG TRI GIÁC
NGÔN NGỮ, TÁI HIỆN HÌNH TƢỢNG TRONG DẠY HỌC
THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Khái niệm về kỹ năng
Theo từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức trong một lĩnh
vực nào đó vào thực tế.
Có nhiều quan điểm về vấn đề này, chúng tôi chấp nhận cho rằng kỹ năng như là phương
thức, cách thức hành động được con người nắm vững, là khả năng con người thực hiện hành động

tín hiệu ngôn ngữ hình tượng. Không tri giác được ngôn ngữ nghệ thuật, lớp vỏ vật chất của tác
phẩm thì không thể đi vào thế giới sống động, phập phồng hơi thở bên dưới các con chữ - các kí
hiệu câm lặng của tác phẩm.
Biểu hiện tiếp theo của năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật là khả năng giải mã các
thông tin nghệ thuật vừa tri giác được, nếu không giải mã được các thông tin nghệ thuật thì sẽ
không hiểu được tác phẩm.
Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của học sinh còn được biểu hiện ở khả năng biết tri
giác “điểm sáng thẩm mĩ” có định hướng.
1.3.2. Năng lực tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
Tái hiện hình tượng nghệ thuật là làm cho nhân vật “đi đứng, nói năng, khóc cười, cuộc
sống đang vận động, đang chuyển trước mắt người đọc”. Nói như Stanilapxki là phải làm cho
người đọc “nhìn bên trong” tác phẩm. Muốn được như vậy, học sinh cần có khả năng tưởng tượng
để dựng lại hiện thực cuộc sống mà nhà văn đã xây dựng.
6

Năng lực tái hiện hình tượng của học sinh được biểu hiện ở chỗ các em biết bám sát bài
thơ, trung thành với văn bản, tái hiện chính xác các chi tiết nghệ thuật do tác giả xây dựng nên. Có
như vậy công việc tái hiện hình tượng mới không rơi vào trạng thái qua loa, hời hợt, “diễn nôm”.
Bên cạnh đó, người có năng lực tái hiện hình tượng sẽ biết hướng sự tái hiện vào việc làm nổi bật
tư tưởng, chủ đề của bài thơ, biết lấy ý nghĩa của các hình tượng thơ làm đích cho sự tái hiện của
mình.
Muốn tái hiện hình tượng tốt cần phải biết tưởng tượng. Vấn đề năng lực tưởng tượng lệ
thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện vốn sống, vốn văn hóa, thói quen văn học, năng lực đọc và hiểu
biết về ngôn ngữ nghệ thuật…
1.3.3. Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình
của học sinh lớp 11 THPT
Học sinh lớp 11 THPT, ở lứa tuổi này tuy các em chưa trưởng thành như những học sinh
khối lớp 12 nhưng các em cũng không còn non nớt , bỡ ngỡ như học sinh lớp 10. Vì vậy, hoạt
động tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng của học sinh lớp 11 có bước phát triển hơn so với học
sinh lớp dưới. Hơn nữa, lứa tuổi này dễ xúc động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng. Sự phát triển

1.5.2. Đặc điểm thơ trữ tình
1.5.2.1. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật thơ trữ tình
Ngôn ngữ thơ trữ tình vừa mang đặc điểm chung của ngôn ngữ tác phẩm văn học là tính
hình tượng và tính hàm súc nhưng cũng có những đặc điểm riêng.
Trước hết, ngôn ngữ thơ trữ tình cô đọng, gợi cảm, bão hòa cảm xúc. Ngôn ngữ thơ trữ
tình không khách quan như ngôn ngữ tự sự; lời thơ trữ tình thường là lời đánh giá trực tiếp, thể
hiện một quan hệ của chủ thể với cuộc đời. Hơn nữa, lời thơ trữ tình phải khác thường.
Một trong những đặc điểm nổi bật nữa của ngôn ngữ thơ trữ tình là ngôn ngữ thơ giàu
nhạc tính.
1.5.2.2. Đặc điểm hình tượng thơ trữ tình
Hình tượng thơ trữ tình là hình tượng con người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm
trạng trong tác phẩm. Để tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng thơ trữ tình, chúng ta
cần phân biệt nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình.
Thơ trữ tình luôn mang lại quan niệm về một cá nhân con người cụ thể, sống động, một cái
“tôi” có nỗi niềm riêng.
Trong thơ trữ tình, nhà thơ có thể hóa thân trong một nhân vật khác, tạo thành nhân vật trữ
tình nhập vai.
Rèn kĩ năng tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng ngôn từ là giúp học sinh
nhân ra nhân vật trữ tình, nhân vật trong tác phẩm thơ trữ tình và nhân vật trữ tình nhập vai. Phải
phát hiện ra mạch vận động cảm xúc của chủ thể trữ tình để từ đó làm sống dậy hình tượng cảm
xúc của bài thơ.
1.6. Yêu cầu luyện tập kỹ năng cho học sinh
Theo quan điểm của dạy học hiện đại là dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, các đối
tượng học sinh đều được suy nghĩ, tìm tòi, khám phá,…Để có thể nhận diện và giải mã các “điểm
sáng thẩm mĩ”, tái hiện chuẩn xác hình tượng để dựng lại bức tranh đời sống mà nhà văn phản ánh
trong tác phẩm. Từ đó, lần ra “điều mới mẻ” mà nhà văn gửi gắm tới bạn đọc.
Việc rèn luyện cho học sinh các kỹ năng trên trong dạy học thơ trữ tình cần thiết hơn cả và
cũng thuận lợi, khó khăn hơn cả. Cần thiết là do thơ trữ tình mở ra cảm xúc điển hình tiêu biểu
cho con người. Thuận lợi là bởi ngôn ngữ nghệ thuật thơ trữ tình hàm súc và giàu nhạc tính. Hình
8

- Dự giờ, quan sát hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học của sinh lớp 11.
- Thống kê, nghiên cứu định hướng nội dung, phương pháp dạy học các tác phẩm thơ trữ
tình trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.
2.1.4. Nội dung khảo sát
- Đặc điểm, định hướng rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình qua
hệ thống câu hỏi tìm hiểu trong sách giáo khoa Ngữ văn 11.
- Phương pháp tổ chức học sinh tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ
trữ tình.
- Khảo sát năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình của học sinh qua
giờ học văn.
2.1.5. Thời gian, địa điểm khảo sát
9

Trong quá trình nghiên cứu, tiến hành làm đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát trong thời
gian tháng 1 và tháng 2 năm 2012. Địa điểm cụ thể là ba trường THPT: Khối 11- Trường THPT
Kinh Môn II, khối 11 - Trường THPT Phúc Thành và khối 11- Trường THPT Kinh Môn.
2.1.6. Kết quả khảo sát
2.1.6.1.Khảo sát việc rèn năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình đặt ra
trong sách giáo khoa.
Bảng 2.1. Thống kê số câu hỏi tri giác ngôn ngữ và tái hiện
hình tượng thơ trữ tình của các bài thơ trữ tình hiện đại lớp 11
STT
Tên bài thơ
Tổng số
câu hỏi
phần
hƣớng
dẫn học
bài
Câu hỏi

tái hiện hình
tƣợng
Tỉ lệ
%
Chƣa chú trọng
rèn năng lực tri
giác ngôn ngữ,
tái hiện hình
tƣợng
Tỉ lệ
%

Bảng 2.3. Thống kê kết quả phiếu khảo sát giáo viên
Nội dung khảo sát
Số giáo viên lựa chọn
Tỉ lệ %

2.1.6.3. Khảo sát năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình của học sinh qua
giờ học văn
10

Chúng tôi đo năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng thơ trữ tình của
học sinh bằng điều tra qua phiếu bài tập để học sinh làm bài (thời gian 15 phút). Mỗi phiếu được
khảo nghiệm trên học sinh khối 11 ở 3 trường: THPT Phúc Thành, THPT Kinh Môn và THPT
Kinh Môn II.
Bảng 2.4. Thống kê kết quả khảo sát năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật
Bài
Trƣờng
Lớp
Tổng

tái
hiện
%

2.1.7. Kết luận về năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng nghệ thuật trong dạy học thơ
trữ tình ở lớp 11 THPT
Các văn bản thơ trữ tình ở chương trình lớp 11 bao gồm thơ trữ tình trung đại và thơ trữ tình
hiện đại. Số lượng các tác phẩm thơ trữ tình so với số lượng văn bản chiểm tỉ lệ khá lớn.
Khảo sát hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài trong tất cả các bài thơ hiện đại ở lớp 11, tác giả luận
văn cũng nhận thấy có 39,5% là câu hỏi tri giác ngôn ngữ nghệ thuật; 11,6% câu hỏi yêu cầu học
sinh tái hiện hình tượng nghệ thuật. Số liệu trên chứng tỏ sách giáo khoa đã có chú ý tới việc rèn
năng lực tri giác ngôn ngữ cho học sinh, nhưng việc rèn luyện năng lực tái hiện hình tượng nghệ
thuật lại chưa được chú trọng.
Qua dự giờ, xem xét giáo án các tiết dạy thơ trữ tình hiện đại; dựa vào kết quả khảo sát giáo
viên, tác giả luận văn thấy nhìn chung các thầy cô đã chú ý khai thác tác phẩm thơ trữ tình trong
mối quan hệ hữu cơ giữa hình thức và nội dung.
Điều đáng lưu tâm hơn cả ở các tiết đọc hiểu văn bản thơ là có ít hoặc thiếu hệ thống bài tập
rèn luyện. Các thầy cô chỉ cố truyền tải cho xong kiến thức. Hầu hết bài giảng không khai thác sâu
hình thức biểu hiện, có bài tập thì cũng chỉ là các bài tập đánh giá, cảm thụ, nhưng số lượng bài
tập dạng này cũng rất ít. Bài tập rèn cho học sinh năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng
thơ hầu như bỏ trống.
11

Căn cứ vào kết quả khảo sát, có đến 23,3% học sinh tri giác ngôn ngữ nghệ thuật sai và
43,7% số học sinh ngôn ngữ nghệ thuật chưa tốt. Như vậy,
năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của học sinh rất yếu
Khảo sát về năng lực tái hiện hình tượng: 75,6 % số học sinh được khảo sát bỏ trống hoặc
tái hiện hình tượng không tốt. Điều này cho thấy năng lực tái hiện hình tượng của học sinh còn
yếu hơn cả năng lực tri giác ngôn ngữ.
Tuy nhiên, có 24,4% học sinh khảo sát được hình tượng tốt. Các em đã làm sống dạy hình


khoa; vừa là cơ sở khoa học tiên quyết để giải mã ngôn ngữ thơ; tạo cho học sinh tư duy chính
xác, nắm vững giá trị đặc sắc ngôn từ; từ đó rèn trí tưởng tượng không sáo mòn, gượng ép; năng
lực tái hiện hình tượng được phát huy.
Khi dạy học thơ trữ tình, ngoài việc bám sát đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trưng thể
loại, giáo viên cần chú ý vận dụng đúng hướng và linh hoạt quan điểm tích hợp.
2.2.2.2. Bằng biện pháp đọc thơ để phát huy năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng nghệ
thuật
Xuất phát từ đặc thù của môn học, đọc là một hoạt động không thể thiếu. Trong dạy học
thơ trữ tình, đọc càng có vai trò quan trọng vì nó gắn liền với tiếp nhận, là biểu hiện của tiếp nhận,
mang đậm dấu ấn cá nhân của người đọc trong từng cảm nhận của mình về tác phẩm. Đọc văn
không chỉ là việc phát âm thông thường mà là quá trình tri giác ngôn ngữ nghệ thuật; đồng thời
với việc huy động vốn sống, kinh nghiệm của bản thân người đọc để lựa chọn nét nghĩa thích hợp
cho văn bản.
Để hoạt động đọc góp phần vào tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng thơ cần phải
chú ý cách đọc cho tốt.
Muốn đọc tốt phải đi từ việc đọc đúng. Đọc đúng là đọc hoàn trả trung thành thông tin về
nội dung bài thơ. Phải khắc phục tối đa những lỗi về phát âm, chính tả, ngữ pháp khi đọc.
Từ khi đọc đúng đến đọc hay. Đọc hay là khả năng biết phối hợp tốt nhất chất giọng của người
đọc để làm sáng tỏ thêm nội dung, ý nghĩa của bài thơ.
Từ đọc đúng, đọc hay tới đọc diễn cảm. Đọc diễn cảm là khả năng đọc làm sáng rõ tính chất
hình tượng, cảm xúc trong thơ trữ tình, để làm sáng hết hình ảnh và vang ngân nhạc tính của thơ
như Giáo sư Trần Thanh Đạm nói: “Đọc cho vang nhạc sáng hình’
Bên cạnh đó, đọc thầm cũng là biện pháp quan trọng giúp học sinh tri giác ngôn ngữ nghệ
thuật và tái hiện hình tượng thơ.
Ngoài ra, đọc chậm bài thơ cũng hỗ trợ cho tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình
tượng cảm xúc.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh lưu ý tìm đọc và huy động những tri thức mang tính tạo
đà, đóng vai trò làm ngữ cảnh rộng cho một bài thơ trữ tình nhằm khởi động, định hướng học sinh
tìm hiểu, cắt nghĩa ý nghĩa hàm ẩn trong thơ. Đó là những tri thức về bối cảnh xã hội, văn hóa;

Câu hỏi tái hiện hình tượng giúp người đọc xác nhận sự hình dung của
mình dưới tác động của hình tượng văn học. Muốn vậy, dạng câu hỏi này, nghiêng về khơi gợi trí
tưởng tượng của học sinh, khiến cho văn bản là thế giới những kí hiệu được sống dậy như một
sinh mệnh nghệ thuật đích thực. Ví dụ: Khi dạy Tràng giang của Huy Cận, giáo viên có thể đặt
câu hỏi cho học sinh như sau: Em hãy tưởng tượng và miêu tả bức tranh ở khổ cuối bài thơ Tràng
giang?
Loại câu hỏi tái hiện hình tượng chiếm tỉ lệ không lớn trong hệ thống câu hỏi của một giờ
dạy văn nhưng nó lại rất quan trọng; bởi nếu không có bước tiến tái hiện hình tượng sẽ không có
sự thâm nhập vào tác phẩm. 2.2.2.4. Sử dụng hệ thống bài tập rèn năng lực tri giác ngôn ngữ
nghệ thuật và tái hiện hình tượng thơ
a. Mục đích, nguyên tắc thiết lập bài tập.
b. Nội dung và hình thức bài tập rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng
nghệ thuật.
* Bài tập tri giác ngôn ngữ nghệ thuật thơ trữ tình
14

- Mục tiêu: Củng cố mức độ nhận thức, khả năng nhạy bén, tinh tế trước vẻ đẹp “điểm sáng
thẩm mĩ” trong văn bản.
- Hình thức: Là những bài tập trắc nghiệm rèn kỹ năng đọc, nghe để nhận biết biểu hiện của
ngôn ngữ nghệ thuật.
- Vận dụng: Sử dụng cho việc dẫn vào bài hay luyện tập để kiểm tra, nắm bắt tinh thần tự
đọc, đánh giá khả năng nhận biết ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm của học sinh.
- Yêu cầu đạt:
+ Thuộc lòng bài thơ, nắm vững kiến thức tác phẩm đã học trước và kiến thức liên môn có
liên quan để giải mã ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm.
+ Nhận biết được các yếu tố ngôn ngữ đặc sắc, các phép chuyển nghĩa… trong mạch cảm
xúc trữ tình và tư tưởng nghệ thuật ấy.
- Nội dung bài tập: Nhận biết khái quát giá trị tác phẩm, nghĩa ngôn từ, nghĩa văn cảnh,
mạch cảm xúc thơ; phát hiện hình ảnh đặc sắc, giọng điệu
tác phẩm….

3.4.1. Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành tổ chức dạy học thực nghiệm ở khối lớp 11, nội dung bài học theo
Sách giáo khoa, theo phân phối chương trình và theo tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng của Bộ Giáo
dục và Đào tạo. Cụ thể:
Tiết 77 + 78: Đọc văn Vội vàng của Xuân Diệu
Tiết 79 + 80: Đọc văn Tràng giang của Huy Cận
3.4.2. Tiến trình thực nghiệm
Sau khi chọn địa bàn, chọn lớp thực nghiệm, chọn giáo viên thực nghiệm, chọn bài thực
nghiệm và soạn giáo án thực nghiệm theo định hướng của đề tài, chuẩn bị bài kiểm tra chu đáo.
Chúng tôi tiến hành dạy học đối chứng và dạy học thực nghiệm, tổ chức kiểm tra, đánh giá một
cách khách quan, công bằng, chính xác. Tiếp đó tiến hành phân tích kết quả dạy đối chứng và dạy
thực nghiệm
3.5. Kết quả thực nghiệm
- Từ phía giáo viên thực nghiệm: Qua các tiết dạy thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy giáo
viên đã chú ý phát huy vai trò tích cực, chủ động của học sinh, khai thác “điểm sáng thẩm mĩ”, tái
hiện hình tượng tác phẩm. Đặc biệt với sự hỗ trợ của các biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ
và tái hiện hình tượng thơ trữ tình đã thực sự giúp học sinh mạnh dạn phát hiện vấn đề và có
những tưởng tượng phong phú độc đáo, tạo được một không khí học tập dân chủ, sôi nổi, khơi gợi
được hứng thú cho học sinh.
- Từ phía học sinh thực nghiệm: Qua quá trình tiếp xúc, quan sát, dự giờ, phiếu học tập,
trao đổi trực tiếp, chúng tôi nhận thấy các em đã có hứng thú với bài học, tích cực, chủ động trong
việc nắm bắt kiến thức. Năng lực tái
hiện hình tượng của các em đã có sự tiến bộ.
- Kết quả từ phiếu kiểm tra:
Bảng kết quả kiểm tra lớp đối chứng và lớp thực nghiệm
Bảng 3.1. Bảng kết quả kiểm tra lớp 11B, 11C
Xếp loại
Lớp
Giỏi (8- 10)
Khá (điểm 7)

19
41,3
3
6,5

Bảng 3.2. Bảng kết quả kiểm tra lớp 11G, 11H
Xếp loại
Lớp
Giỏi (8- 10)
Khá
(điểm 7)
Trung bình
(5-6)
Yếu – Kém
(dƣới 5)
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Lớp ĐC 11H
( 45 HS )
4
8,9
15
33,3
21

SL
%
Lớp ĐC 11E
( 45 HS )
4
8,9
17
37,8
20
44,4
4
8,9
Lớp TN 11D
( 45 HS )
6
13,3
21
46,7
16
35,6
2
4,4
Từ bảng tổng hợp kết quả phiếu thực nghiệm chúng tôi xin rút ra một
số nhận xét: Kết quả thực nghiệm như đã trình bày trong bảng cho thấy tỷ lệ học sinh tri giác ngôn
ngữ, tái hiện hình tượng của các lớp thực nghiệm là cao hơn các lớp đối chứng. Cụ thể, ở bảng 3.1
lớp thực nghiệm có học sinh đạt kết quả loại giỏi 13,1%, loại khá 39,1% cao hơn lớp đối chứng:
loại giỏi 6,5%, loại khá 30,4%. Ngược lại, học sinh bị điểm yếu ở lớp thực nghiệm là 6,5% còn
lớp đối chứng là 10,9%. Ở bảng 3.2 thì tỉ lệ học sinh ở lớp thực nghiệm đạt loại giỏi là 15,6%, loại
khá 37,8% cao hơn so với lớp đối chứng: loại giỏi là 8,9%, loại khá 33,3%. Ngược lại số học sinh
trung bình, yếu của lớp thực nghiệm ít hơn so với lớp đối chứng. Ở bảng 3.3 thì kết quả học sinh

tục bổ sung và phát triển thêm.
KẾT LUẬN CHUNG
Lý thuyết về phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương theo loại thể đã khẳng định:
Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới hình thức một loại thể nhất định, đòi hỏi một phương pháp,
một cách thức phân tích giảng dạy phù hợp với nó.
Trong chương trình THPT, mỗi tác phẩm thơ trữ tình hiện đại đều là những tác phẩm
được chọn lọc, là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ. Bạn đọc trong nhà trường là học sinh. Đối
tượng tiếp nhận, chiếm lĩnh của học sinh trong giờ dạy học văn là tác phẩm. Tác phẩm văn
chương vốn là một hệ thống văn bản ngôn ngữ hình tượng sinh động và hoàn chỉnh, nhưng chỉ khi
nào được người đọc trực tiếp tiếp nhận và chiếm lĩnh qua kênh nghe và kênh hình, hình dung
tưởng tượng nó mới trở thành đối tượng. Nghĩa là chỉ khi nào người đọc trực tiếp tác động qua
việc tri giác ngôn ngữ, qua sức tái hiện, tái tạo hình tượng thì tác phẩm mới có thể trở thành
những gợi ý và đề án tiếp nhận mới làm xuất hiện nhu cầu, hứng thú tìm hiểu khai thác. Tri giác
ngôn ngữ nghệ thuật, tái hiện hình tượng thơ của học sinh trong giờ văn là
18

hoạt động tâm lí sáng tạo có ý nghĩa then chốt để hiểu, cảm, giao tiếp và
chiếm lĩnh giá trị tác phẩm.
Biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ đã giúp giáo viên hiểu
sâu hơn hướng khám phá tìm tòi tác phẩm thơ trữ tình: Từ bình diện ngôn ngữ (lớp vỏ vật chất)
tới lớp hình rồi mới đến lớp ý. Từ đó, giáo viên dễ dàng hơn trong việc biên soạn các bài tập ứng
dụng để rèn luyện năng lực tiếp nhận văn học cho học sinh trong quá trình giảng dạy.
Nội dung chính của đề tài là đưa ra các biện pháp cụ thể để rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ
và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 THPT. Các biện pháp mà chúng tôi đề
xuất: thứ nhất là tích hợp kiến thức để giải mã ngôn ngữ nghệ thuật thơ trữ tình; thứ hai là bằng
biện pháp đọc thơ để phát huy năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng nghệ thuật; thứ ba là
sử dụng câu hỏi để phát huy năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng nghệ thuật trong thơ
trữ tình; thứ tư là sử dụng hệ thống bài tập rèn năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện
hình tượng thơ. Các biện pháp này đã được thử nghiệm và có hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, khi
vận dụng, giáo viên cần có sự sáng tạo phù hợp với từng bài dạy. Cần phát huy đồng bộ vai trò

gia Hà Nội.
9. Nguyễn Thị Dƣ Khánh (2006), “Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà
trường”, Nxb Giáo dục.
10. Phan Trọng Luận (1977), Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường, Nxb Giáo dục.
11. Phan Trọng Luận (1969), Rèn luyện tư duy giảng dạy văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
12. Phan Trọng Luận (2003), Văn chương bạn đọc sáng tạo, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
13. Phan Trọng Luận (chủ biên) (2006), Thiết kế Ngữ Văn 11, Nxb GD.
14. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên)(2006), Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, Nxb GD, Hà Nội.
15. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên) (2006), Sách giáo viên Ngữ Văn 11, Nxb GD, Hà Nội.
16. Phan Trọng Luận (2008), Phương pháp dạy học văn, Nxb Đại học Sư phạm.
17. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK
Ngữ văn 11 THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.
18. Phƣơng Lựu (chủ biên) (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục
19. Hoài Thanh, Hoài Chân (1988), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học
20. Trần Ngọc Thêm (1981), “Suy nghĩ về một phương pháp phân tích tác phẩm văn bản thơ”,
Tạp chí văn học, Số 5.
21. Đỗ Lai Thúy (2000), “Mắt thơ”, Nxb Văn hóa thông tin.
22. Bùi Minh Toán (1989), “Những mối quan hệ hệ thống của ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm
văn học”, Ngôn ngữ, Số 3.
23. Nguyễn Trí – Nguyễn Trọng Hoàn (tuyển chọn, giới thiệu) (2001), Đổi mới phương pháp
dạy học Văn – Tiếng việt ở trường phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
24. Trần Thanh Xuân (1982), “Vấn đề tái hiện hình tượng văn học trong quá trình giảng văn
trong nhà trường”, Tạp san Giáo dục cấp 3, Số 3.
25. Z.Ia.Rez (chủ biên) (1983), Phương pháp luận dạy văn học (Phan Thiều dịch), Nxb Giáo
dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status