Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12 - Pdf 10

Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong
dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12 Đinh Thị Thanh Thủy Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Trọng Hoàn
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn của hoạt động liên tưởng,
tưởng tượng nghệ thuật của HS trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình. Đề xuất một
số biện pháp để rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS thông qua
các tác phẩm thơ trữ tình lớp 12, chương trình chuẩn. Tiến hành thực nghiệm sư
phạm theo hướng phát huy năng lực liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS để
khẳng định tính khả thi và hiệu quả của đề tài.

Keywords. Phương pháp dạy; Ngữ văn; Kỹ năng liên tưởng; Kỹ năng tưởng
tượng Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Trong thế kỷ XXI, nhiệm vụ hiện đại hoá giáo dục được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt
chú trọng, trong đó yêu cầu phải đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy
là vấn đề then chốt. Gần đây nhất, trong lần thay sách giáo khoa Ngữ văn 2006 bậc THPT

Tác giả Nguyễn Duy Bình đặt liên tưởng, tưởng tượng như một điều kiện tiên quyết
đối với quá trình tiếp nhận của bạn đọc nói chung và bạn đọc - HS trong giờ dạy học
TPVH nói riêng. Đồng thời, tác giả cũng đánh giá tầm quan trọng của yếu tố chủ quan của
liên tưởng và tưởng tượng.
Tác giả Lâm Vinh nhận định: Liên tưởng và tưởng tượng vừa mang tính chất cảm tính
vừa mang tính chất lý tính. Đặc điểm này cũng hàm chứa hạn chế của tính chất chủ quan
trong TNVH nói riêng và tiếp nhận nghệ thuật nói chung.
* Liên tưởng, tưởng tượng là một trong những đặc trưng xác nhận quá trình nhận thức cá
nhân, có thể kể đến như: Xã hội - Văn học - Nhà trường của tác giả Phan Trọng Luận,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (1996); Văn học tầm nhìn biến đổi của tác giả Nguyễn
Thanh Hùng, NXB Văn học (1994); Văn học và nhân cách của tác giả Nguyễn Thanh
Hùng, NXB Văn học (1996); Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp dạy học
văn PTTH”(1995)…
Giáo sư Phan Trọng Luận đặc biệt nhấn mạnh: liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật
trong dạy học văn được xem là những phương thức tư duy tự khám phá, tự tiếp cận và tự
chiếm lĩnh kiến thức để phát triển và hoàn thiện tâm hồn, trí tuệ cũng như nhân cách HS.
Còn giáo sư Nguyễn Thanh Hùng đã chỉ ra sự phân biệt cấp độ và yêu cầu của từng
giai đoạn trong quá trình TNVH ở HS.
Tác giả Trương Dĩnh xuất phát từ những "cuộc giao tiếp im lặng" giữa bạn đọc và
nhà văn để khẳng định trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng có vai trò “chìa khóa” mở ra
thế giới nghệ thuật phong phú mà nhà văn tạo dựng.
* Liên tưởng, tưởng tượng trong mối quan hệ với hoạt động tích cực của bạn đọc- HS.
Trong cuốn Phương pháp dạy học văn do Z. Ia. Rez chủ biên, NXB Giáo dục (1983) đã
dưa ra điểm coi HS là một thành viên chính thức trực tiếp tham gia xây dựng nội dung kiến
thức trong quá trình phân tích tác phẩm văn học.
Trong báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học đổi mới Phương Pháp dạy học văn theo
hướng “HS là trung tâm” giáo sư Phan Trọng Luận kết luận: khả năng tư duy sáng tạo thể
hiện bằng con đường liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật được xem như những hoạt động
hướng nội, hoạt động bên trong của chủ thể HS.
* Vai trò của liên tưởng, tưởng tượng trong cấu trúc hoạt động TNVH của HS.

đồng sáng tạo, tổ chức quá trình giao tiếp thẩm mỹ giữa nhà văn và bạn đọc - HS. Từ đó
giúp GV có thêm một con đường để tổ chức cho HS cảm thụ, khám phá và chiếm lĩnh tác
phẩm thơ trữ tình lớp 12, chương trình chuẩn. Đồng thời, giúp HS hình thành kĩ năng
liên tưởng, tưởng tượng khi tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình nói riêng và TPVH nói
chung.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn của hoạt động liên tưởng, tưởng tượng
nghệ thuật của HS trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình.
- Đề xuất một số biện pháp để rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS
thông qua các tác phẩm thơ trữ tình lớp 12, chương trình chuẩn.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo hướng phát huy năng lực liên tưởng, tưởng
tượng nghệ thuật của HS để khẳng định tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
5. Giả thuyết khoa học
Trong bối cảnh dạy học tác phẩm văn chương còn mang tính thụ động, nếu hình thành
được kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật cho học sinh khi tiếp nhận tác phẩm thơ
trữ tình sẽ phát huy được năng lực tự học, tư duy sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học tác phẩm thơ trữ tình.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7. Cấu trúc luận văn
Luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học
tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

trình cảm giác, quá trình tri giác, đặc biệt là quá trình hình thành biểu tượng trong đó có
giai đoạn huy động trí nhớ và liên tưởng. Liên tưởng vừa là một hiện tượng tâm lý độc lập,
đồng thời cũng có thể xem nó là một "giai đoạn", một "thao tác" trong quá trình tưởng
tượng. Vì vậy, liên tưởng trở thành một điều kiện vận hành của tưởng tượng: nhờ có liên
tưởng, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra được hoàn thiện và phong phú, sinh động; và
ngược lại, nếu khả năng liên tưởng kém, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra sẽ hạn chế
và phiến diện.
1.1.2.2. Hoạt động liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật trong sáng tạo văn học
Liên tưởng và tưởng tượng được xem như những quá trình tâm lý sáng tạo đặc thù
trong sáng tác văn học.
* Hoạt động liên tưởng
Có thể phân loại theo các hình thức biểu hiện sau: Liên tưởng gần giống thể hiện mối
quan hệ tất yếu, tiềm tàng giữa tín hiệu vật chất hiện tại và kinh nghiệm, dựa trên những
nét gần nhau về bộ phận; Liên tưởng giống nhau thể hiện mối quan hệ bản chất, tương
đồng giữa vật liên tưởng và vật được liên tưởng; Liên tưởng đối lập thể hiện mối quan hệ
giữa hiện thực và mặt khác biệt của nó trong cùng một hệ thống tồn tại; Liên tưởng theo
quan hệ thời gian gần với liên tưởng hồi ức là liên tuởng xuất hiện do sức gợi của các yếu
tố sự vật trong hiện thực về phía kỷ niệm; Liên tưởng theo quan hệ không gian là liên
tưởng được mở ra đa chiều do sức gợi của các yếu tố hiện thực có quan hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp.
Việc sử dụng mỗi loại liên tưởng, mức độ sử dụng mỗi loại liên tưởng còn tùy thuộc
ở năng lực và sở trường của từng nhà văn, thậm chí còn phải phù hợp với đặc trưng riêng
của từng thể loại văn học. Đôi khi nó được sử dụng trong mối quan hệ đan xen, phối hợp
nhằm tạo ra sức biểu hiện cao nhất, hiệu quả diễn đạt ấn tượng nhất.
* Hoạt động tưởng tượng
Có hai loại tưởng tượng trong sáng tác văn học: Tưởng tượng tái hiện trên cơ sở quy
nạp các ấn tượng của trí nhớ; Tưởng tượng sáng tạo trên cơ sở những vận động tự do
không lệ thuộc ấn tượng có trước.
Quá trình vận hành của cả hai loại tưởng tượng trên đều dựa trên sự cung cấp dữ liệu
của trí nhớ. Do đó, một hình tượng sáng tạo nhất vẫn ít nhiều dựa trên các dữ liệu nào đó

tượng, ngữ điệu, phép tu từ, ngôn từ…
1.1.3.3. Đặc điểm đối tượng tiếp nhận
- Sự phát triển của cảm giác, tri giác, năng lực quan sát.
- Sự phát triển của trí nhớ
- Sự phát triển tư duy trừu tượng
- Sự phát triển của tưởng tượng
- Sự phát triển năng lực ngôn ngữ
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1. Thực trạng hoạt động rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng của giáo viên trong giờ
dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở nhà trường THPT hiện nay
1.2.1.1. Khảo sát thực trạng hoạt động rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng của giáo viên
trong giờ dạy tác phẩm thơ trữ tình ở nhà trường THPT hiện nay
Để nắm bắt cụ thể hơn tình hình thực tiễn rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng của GV
trong giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12 ở nhà trường phổ thông, chúng tôi đã tiến
hành khảo sát tại tổ văn ở 2 trường THPT Trần Hưng Đạo, quận Hà Đông, Hà Nội (4 GV)
và trường THPT Hàm Long, thành phố Bắc Ninh (4 GV): lựa chọn mỗi GV 2 giáo án và
dự giờ chính những GV có giáo án đã được khảo sát; Ngoài ra, chúng
tôi còn sử dụng phiếu điều tra bằng cách soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho GV trả lời.
1.2.1.2. Đánh giá kết quả khảo sát
Qua khảo sát giáo án, dự giờ và phiếu điều tra chúng tôi nhận thấy thực trạng tổ chức
dạy học tác phẩm thơ trữ tình nói chung và việc rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho
HS trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình nói riêng hiện nay có một thực tế: GV ít có điều
kiện quan tâm đến diễn biến hoạt động tiếp nhận của HS, khiến cho việc quan tâm đến việc
tổ chức hoạt động liên tưởng và tưởng tượng cho HS trong hệ thống việc làm tích cực của
HS không được đảm bảo; một bộ phận GV thường chỉ thiên về việc phân tích ngôn từ, các
thủ pháp nghệ thuật ; việc tổ chức hoạt động liên tưởng và tưởng tượng của HS, GV áp
dụng chỉ mang tính ngẫu nhiên, thiếu ý thức chủ động.
1.2.1.3. Đề xuất của tác giả luận văn
GV cần bám sát những câu hỏi yêu cầu HS liên tưởng, tưởng tượng ở phần hướng dẫn
học bài trong SGK (sách giáo khoa) Ngữ văn lớp 12; đồng thời định hướng cho HS chuẩn

CHƢƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LIÊN TƢỞNG, TƢỞNG TƢỢNG TRONG
DẠY HỌC TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12
2.1. Cơ sở của việc đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng liên tƣởng, tƣởng tƣợng
trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
2.1.1. Đối tượng của hoạt động liên tưởng, tưởng tượng trong giờ đọc văn
Giờ dạy TPVH trong nhà trường là phương thức tiếp nhận lấy tác phẩm nghệ thuật
ngôn từ làm đối tượng. Vì thế, đối tượng của liên tưởng, tưởng tượng trong bài học TPVH
là hình tượng đời sống kết tinh trong nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ trong một hệ thống cấu
trúc hình tượng chặt chẽ thể hiện tính sinh động nghệ thuật, tính cá biệt không lặp lại.
2.1.2. Mục đích liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ đọc văn
Mục đích của liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học TPVH cũng không chỉ làm
"chuyển dời" các lớp nghĩa mà còn liên kết các nét nghĩa, mở rộng trường nghĩa cho hình
tượng được hiện lên lung linh sống động; giúp cho việc tiếp nhận tác phẩm được trọn vẹn,
sâu sắc. Liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật có khả năng tựu nghĩa và tạo nghĩa, vừa
khái quát vừa khám phá những "đường viền" nghệ thuật mới mẻ. Mỗi người đọc trên cơ sở
cảm xúc, khả năng liên tưởng và huy động vốn biểu tượng sẽ bổ sung những yếu tố, đường
nét thành "tác phẩm" mang dấu ấn của riêng mình.
2.1.3. Phương thức liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ đọc văn
Phương thức liên tưởng và tưởng tượng trong TNVH của HS được bắt đầu từ thao tác
đọc với những nhân tố đặc trưng: các nhân vật tham gia giao tiếp là HS và nhà văn. Đọc sách
cũng chính là quá trình liên tưởng, là hồi ức, là tưởng tượng.
Song song với thao tác đọc, cần xác định những dấu hiệu nghệ thuật trong TPVH để
liên tưởng, tưởng tượng. Các dấu hiệu nghệ thuật cơ bản trong TPVH gồm: ngôn ngữ; thể
loại; không gian nghệ thuật; thời gian nghệ thuật; thái độ và phong cách tác
giả; yếu tố thời đại.
2.1.4. Cơ chế liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ đọc văn
Liên tưởng và tưởng tượng là quá trình chuyển ngôn ngữ bên ngoài vào ngôn ngữ bên
trong. Cơ chế chuyển mã của nó: từ mã ngôn ngữ nghệ thuật của văn bản tác phẩm sang
mã hình tượng thẩm mỹ trong hình dung của bạn đọc - HS. Với việc học tác phẩm nghệ

HS.
2.2.1.3. Chuẩn bị điều kiện học tập của học sinh
Trong mỗi giờ học TPVH, GV cần xây dựng chi tiết hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc
văn. Với giờ học tác phẩm thơ trữ tình, đòi hỏi GV phải có sự chuẩn bị riêng: xác định
giọng đọc, hệ thống câu hỏi để hướng dẫn và tổ chức HS đọc hiểu tác phẩm.
2.2.2. Chuẩn bị của học sinh
2.2.2.1. Ôn tập bài cũ, chuẩn bị bài mới
Việc ôn tập bài cũ cần có sự liên kết với kiến thức của nhiều bài học trước đó trong
cùng một vấn đề. Ôn tập bài cũ là nền tảng cơ sở của việc tiếp nhận bài mới. Quá trình
chuẩn bị bài mới không chỉ đơn thuần là HS đọc trước tác phẩm, soạn thảo đề cương các
câu trả lời cho câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài của SGK, mà HS cần tìm lại các phần
kiến thức đã học có liên quan đến bài mới.
2.2.2.2. Chuẩn bị thái độ, tâm thế
Khi được GV định hướng, HS cần có thái độ thực sự nghiêm túc và đúng đắn khi
chuẩn bị tìm hiểu bài mới ở nhà cũng như khi tiếp nhận bài mới trên lớp. Có
thể nói tâm thế chủ động khám phá và chiếm lĩnh tác phẩm, tìm được hứng thú học tập là
điều kiện nảy sinh những nhu cầu khát vọng thẩm mỹ, làm cho quá trình liên tưởng và
tưởng tượng đi vào quỹ đạo của sự vận động, làm sống lại những dấu vết của hưng phấn
thần kinh cung cấp chất liệu cho liên tưởng và tưởng tượng.
2.3. Một số biện pháp rèn kĩ năng liên tƣởng, tƣởng tƣợng trong dạy học tác phẩm
thơ trữ tình
2.3.1. Khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh
* Đọc
Để khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh, có thể yêu cầu học sinh
đọc theo các mức độ: đọc lướt, đọc tập trung vào "điểm sáng thẩm mỹ", đọc hồi cố, đọc
nhấn mạnh âm hưởng chủ đạo và giọng điệu của nhà văn, đọc diễn cảm. Các mức độ đọc
trên có thể được thể hiện trong hai giai đoạn: giai đoạn đọc chuẩn bị (đọc trước khi đến
lớp) và đọc ở lớp. Việc đọc chuẩn bị là chuẩn bị được tâm thế, tập trung chú ý để tri giác
ngôn ngữ văn bản, từng bước làm rõ lớp nghĩa công cụ của ngôn từ. Đồng thời, cần chú
giải những từ khó, điển tích, điển cố, những từ cổ hoặc từ ít phổ biến. Đọc sáng tạo (đọc ở

khác; Liên tưởng giọng điệu tác giả với thái độ tư tưởng, quan điểm nghệ thuật của tác giả;
Tưởng tượng tâm trạng của tác giả khi lựa chọn một chi tiết hay một số hình ảnh tiêu biểu
của tác phẩm; Liên tưởng và tưởng tượng về điểm nhìn nghệ thuật của tác giả với hiệu quả
nghệ thuật của tác phẩm.
Muốn việc tiếp nhận của HS diễn ra theo một quá trình liên tục, các câu hỏi liên tưởng
và tưởng tượng còn phải có mối quan hệ với các câu hỏi trong SGK đã được HS chuẩn bị ở
nhà. Việc sử dụng câu hỏi trong mỗi giờ dạy học vừa phải đáp ứng yêu cầu chung vừa đảm
bảo sự phân hoá đối tượng. Xây dựng các câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng là một bộ
phận cấu thành và xuyên thấm trong hệ thống các thao tác tiếp nhận như phân tích, so
sánh, khái quát giá trị tác phẩm.
2.3.3. Đa dạng hóa các hình thức luyện tập sáng tạo của học sinh
Hình thức luyện tập là một trong những việc làm quan trọng trong hệ thống các việc
làm tích cực khác. Luyện tập là thao tác sư phạm nhằm kiểm tra, đánh giá, cũng là biện
pháp để GV thu nhận "tín hiệu phản hồi" từ kết quả tiếp nhận của HS. Qua đó khắc sâu
kiến thức của HS theo định hướng của bài học. “ Có nhiều hình thức và biện pháp thực
hiện thao tác luyện tập, có thể kể đến:
- Tiến hành đọc diễn cảm toàn bộ hoặc trích đoạn tác phẩm. HS có thể vận dụng toàn
bộ hiểu biết về tác phẩm đã thu nhận qua giờ học để thành thạo việc đọc theo yêu cầu
nhanh, chậm, thanh, trầm; thành thạo việc ngắt nhịp, ngắt câu, ,
- Tái hiện một tình huống then chốt trong tác phẩm hoặc toàn bộ tác phẩm. Nó có ý
nghĩa nhấn mạnh một phương diện bản chất nào đó hoặc toàn bộ hình tượng tác phẩm.
Nhờ đó, hình tượng tác phẩm sẽ được tái hiện trở lại trong trí nhớ của HS.
- Hình dung dự đoán kết thúc tác phẩm. Dựa trên kết thúc đã có của TPVH hoặc kết
thúc còn bỏ ngỏ của nhà văn, HS bằng tưởng tượng sáng tạo của mình, có thể đưa ra dự
kiến một kiểu kết thúc khác hoặc giả định viết tiếp mạch phát triển tác phẩm.
- Đặt lại tên tác phẩm. Để thực hiện được nhiệm vụ này HS phải hồi cố, huy động các
dữ liệu trí nhớ, liên tưởng và tưởng tượng, tái hiện toàn bộ diễn biến, cấu trúc nội dung và
hình thức TPVH vừa học để đưa ra ý kiến cá nhân.
- Xây dựng lời đối thoại hay lời tâm sự với nhân vật trữ tình (hoặc trao đổi với nhà
thơ). HS sẽ trình bày "đề án" của mình thông qua lời đối thoại (giả tưởng) để tranh luận,

HS; 12A7 là 42HS). Lớp ĐC có 82 HS (12A8 là 42 HS; 12A11 là 40 HS)
- Trường THPT Hàm Long, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh: Lớp TN có 83 HS (12A1
là 41 HS; 12A2 là 42HS). Lớp ĐC có 87 HS (12A4 là 44 HS; 12A5 là 43 HS)
3.1.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm
3.1.3.1. Nội dung thực nghiệm
Nội dung TN sư phạm của chúng tôi là đánh giá năng lực TNVH, thông qua kết quả
thực hiện các yêu cầu về liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật trong hệ thống các việc làm
sáng tạo của HS trong giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12.
3.1.3.2. Phương pháp thực nghiệm
- Xây dựng thiết kế lên lớp theo tinh thần ứng dụng những nghiên cứu lý luận.
- Trao đổi thống nhất với GV kế hoạch TN.
- Tổ chức dạy học song song hai loại giáo án TN và ĐC.
- Tiến hành kiểm tra HS: sau khi học xong tác phẩm TN, chúng tôi đưa ra các câu hỏi
kiểm tra kiến thức giống nhau cho cả lớp TN và ĐC.
- Tiến hành phân tích và đánh giá kết quả TN và ĐC để rút ra những kết luận về TN.
3.1.4. Chọn giáo viên dạy thực nghiệm
Chúng tôi đã cộng tác với 2 nhóm GV của 2 trường và phân công như sau:

Bảng 3.1. Phân công giáo viên dạy thực nghiệm và đối chứng
Giáo viên
Trƣờng THPT
Lớp
TN
Lớp
ĐC
Nguyễn Thị Huế
Hàm Long
12A1
12A4
Nguyễn Văn Phương

TƢỢNG
SỐ
LƢỢNG
ĐIỂM
TRUNG
BÌNH
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
TN
168
2
5
8
10
23
28
41
34
16
1
6.38
ĐC

SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
TN
168
17
10.1
75
44.6
51
30.4
18
10.7
7
4.2
ĐC
169
8
4.7
55
32.5
66
39.1
28
16.6

28.57
45.24
69.64
89.88
99.4
100
ĐC
1.78
7.11
14.8
23.68
45.57
62.73
82.85
95.28
100 *Bƣớc 2: Vẽ đồ thị đƣờng luỹ tích theo bảng phân phối tần suất luỹ tích.
Để có thể rút ra những nhận xét chính xác, đầy đủ hơn chúng tôi so sánh chất lượng
của HS giữa lớp TN và lớp ĐC bằng đường luỹ tích ứng với kết quả nêu trong bảng 3.4.
Trục tung chỉ số % HS đạt điểm X
i
trở xuống, trục hoành chỉ điểm số. Đồ thị 3.1: Đường luỹ tích bài kiểm tra

Nhận xét :
Dựa trên kết quả TN sư phạm cho thấy chất lượng học tập của HS khối TN cao hơn HS

V(%)
ĐC
TN
ĐC
TN
ĐC
TN
5,66
6,38
1,42
1,35
25,09
21,16
tốt hơn. Điều này cho phép nhận xét rằng chất lượng bài kiểm tra của các lớp TN không
những cao hơn mà còn đồng đều hơn và bền vững hơn các lớp ĐC.
- Hệ số biến thiên (V) của lớp TN và ĐC < 30% vậy kết quả thu được là đáng tin cậy.
Hệ số biến thiên (V) của lớp TN luôn nhỏ hơn của lớp ĐC chứng tỏ mức độ phân tán điểm
của HS lớp ĐC rộng hơn của lớp TN, chất lượng của lớp TN đồng đều hơn.
3.4. Kết luận và đề xuất
Dựa vào kết quả TN trên, có thể kết luận một số biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng,
tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12 khi được áp dụng vào thực tiễn dạy
học sẽ mang lại hiệu quả trong dạy học - phương án khoa học luận văn đề xuất có tính khả
thi.
Tuy nhiên, sau khi tiến hành TN sư phạm chúng tôi nhận thấy:
- Việc hình thành ý thức trau dồi vốn sống, vốn ngôn ngữ và vốn biểu tượng cũng như
kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cùng với các kĩ năng văn học khác cho HS là một yêu cầu
thiết thực không chỉ đặt ra đối với HS lớp 12 mà còn từ các lớp học, cấp học trước đó.
- Cần nhấn mạnh không nhất thiết bài học nào cũng thể hiện tất cả các biện pháp sư phạm
nhằm phát huy khả năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS bởi lẽ thời lượng
không cho phép.

1. Nguyên An (1998), Nhà giáo, nhà văn Nguyễn Đức Nam, Nxb Giáo dục.
2. Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy văn dạy cái hay cái đẹp, Nxb Giáo dục.
3. Nguyễn Viết Chữ (2004), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường,
Nxb Giáo dục Việt Nam.
4. Hà Minh Đức (1993), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục.
5. Phạm Minh Hạc (1991), Tâm lý học, Nxb Giáo dục.
6. Lê Bá Hãn (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục.
7. Nguyễn Thanh Hùng (2004), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo dục.
8. Nguyễn Thanh Hùng (1994), Văn học và nhân cách, Nxb Văn học.
9. Nguyễn Thanh Hùng (1994), Văn học và tầm nhìn biến đổi, Nxb Văn học.
10. Nguyễn Thị Thanh Hƣơng (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường
phổ thông, Nxb Giáo dục.
11. Nguyễn Trọng Hoàn (1999), Hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ
giảng văn, Luận án tiến sĩ Giáo dục.
12. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn
chương, Nxb Giáo dục.
13. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Tiếp cận văn học, Nxb khoa học xã hội.
14. Nguyễn Trọng Hoàn (2009), Tìm hiểu tác giả, tác phẩm văn học ngữ văn 12, Nxb Giáo
dục.
15. Phan Trọng Luận (2003), Phương pháp dạy học văn, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
16. Phan Trọng Luận (1983), Cảm thụ văn học giảng dạy văn học, Nxb Giáo dục.
17. Phan Trọng Luận (2008), Văn học nhà trường nhận diện tiếp cận đổi mới, Nxb Đại học
sư phạm.
18. Phan Trọng Luận (2008), Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục.
19. Phan Trọng Luận (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục.
20. Phan Trọng Luận (2009), Thiết kế Ngữ văn 12, tập 1, Nxb Giáo dục.
21. Phƣơng Lựu (1997), Tiếp nhận văn học, Nxb Giáo dục.
22. Trƣờng Đại học sƣ phạm tp Hồ Chí Minh (1981), Giảng văn (nhiều tác giả).
23. Nguyễn Ánh Tuyết (1997), Tâm lý học trẻ em, Nxb Giáo dục.
24. A. RuĐich (1980), Tâm lý học, Nxb Thể dục thể thao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status