Rèn luyện tư duy văn học cho học sinh trung học phổ thông bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao (sách giáo khoa ngữ - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ THỊ MẬN

RÈN LUYỆN TƢ DUY VĂN HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG BẰNG CÂU HỎI LIÊN TƢỞNG, TƢỞNG TƢỢNG
TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM "CHÍ PHÈO" CỦA NAM CAO
(SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 BAN CƠ BẢN). LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành : LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số : 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Nguyễn Thanh Hùng



DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. SGK: Sách giáo khoa
2. THPT: Trung học phổ thông MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU


1.2.3.Những điều cần lưu ý khi giáo viên xây dựng câu hỏi liên tưởng,
tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương

41
1.2.4. Những điều cần lưu ý khi giáo viên sử dụng câu hỏi liên tưởng,
tưởng tượng trong quá trình lên lớp

42
Chƣơng 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN TƢ
DUY VĂN HỌC CHO HỌC SINH THPT BẰNG CÂU HỎI LIÊN
TƢỞNG, TƢỞNG TƢỢNG 44
2.1. Thực tiễn tư duy văn học của học sinh THPT và vấn đề rèn luyện tư
duy văn học

44
2.1.1.Thực tiễn tư duy văn học của học sinh THPT qua sự liên tưởng,
tưởng tượng

44
2.2.2.Thực tiễn vấn đề rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT qua
sự liên tưởng, tưởng tượng

45
2.2. Thực tiễn việc sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy
học tác phẩm văn chương

46

3.2.1. Mục đích, ý nghĩa của thể nghiệm sư phạm
80
3.2.2. Đối tượng và địa bàn thể nghiệm
80
3.3.3. Phương pháp tiến hành thể nghiệm
80
3.3.4. Nội dung thể nghiệm
81
3.3.5. Đánh giá kết quả thể nghiệm
81
3.3.6. Kết luận chung về quá trình thể nghiệm
82
KẾT LUẬN
84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
87
PHỤ LỤC


2
trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết
vấn đề và kỹ năng làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hoá vừa hợp
tác vừa cạnh tranh. Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về giáo
dục từ nội dung, phương pháp dạy học đến việc xây dựng những môi trường
giáo dục lành mạnh và thuận lợi giúp người học có thể chủ động, tích cực,
kiến tạo kiến thức, phát triển kỹ năng và vận dụng những điều đã học vào
cuộc sống biến quá trình học tập thành quá trình tự học có hướng dẫn và
quản lý của giáo viên”.Từ quan điểm đúng đắn đến những định hướng, yêu
cầu cụ thể, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đều hướng tới rèn luyện tư
duy cho học sinh nghĩa là thông qua việc học tập, học sinh biết cách suy
nghĩ,nhận thức, phát hiện và khám phá . Điều này trở thành một nguồn động
lực mạnh mẽ, tác động trực tiếp, làm thay đổi về chất hoạt động giáo dục
trong nhà trường, trong đó có môn Ngữ Văn. Giáo viên Ngữ Văn cần xác
định học sinh là chủ thể thẩm mĩ trong quá trình học tập và phải hướng đến
rèn luyện tư duy văn học cho học sinh đặc biệt là khi dạy học tác phẩm văn
chương. M.Gorki từng kêu gọi nhà văn, nhà giáo “ Cần phải làm cho trẻ em
thấy rõ ngay từ bé mới 6,7 tuổi sức mạnh thần diệu của tư duy, phải giảng
giải cho các trẻ em hiểu ý nghĩa của những hiện tượng xã hội là cho các em
dần dần thấy được khả năng của chính mình”. Còn thủ tướng Phạm Văn
Đồng nhắc nhở anh chị em giáo viên rằng “ Chúng ta phải xem lại cách dạy
văn trong nhà trường phổ thông chúng ta, không nên dạy như cũ bởi vì dạy
như cũ thì không chỉ việc dạy văn không hay mà sự đào tạo cũng không hay.
Vì vậy dứt khoát chúng ta phải có cách dạy khác, phải dạy cho học sinh biết
suy nghĩ bằng trí óc của mình và diễn tả sự suy nghĩ đó theo cách của mình
như thế nào cho tốt” [21, tr. 396] Như vậy từ việc đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy học nói chung đến đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn nói
riêng, vấn đề tư duy học sinh luôn được đề cập như một mục đích trong giáo
dục.



4
1.3. Từ đặc trưng của tác phẩm văn học và vấn đề rèn luyện tư duy văn học
Được coi là ngành nghệ thuật “ trò diễn bằng ngôn từ”, tác phẩm văn
học thể hiện đời sống tinh thần qua hình tượng. Bêlinxki, nhà phê bình Nga
nổi tiếng thế kỷ XIX viết “ Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà
thơ nói bằng các hình tượng và bức tranh.” [ 14, tr.26 ]. Hình tượng là
phương tiện đặc thù của tác phẩm văn học để phản ánh hiện thực khách quan,
nó là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ. PGS Nguyễn Viết Chữ nhận định “ Có
thể nói rằng: hình tượng quyết định sự tồn vong của nghệ thuật văn chương.”
[8, tr. 21].Và với vị trí là môn nghệ thuật thì kiểu tư duy đặc thù của môn Ngữ
Văn thiên về tư duy hình tượng chứ không phải kiểu tư duy lôgic .Vậy khi
đứng trước một tác phẩm giàu hình tượng học sinh có muôn hình vạn trạng
cách cảm nhận, suy nghĩ , phát hiện, khám phá nghĩa là có sự tư duy văn học
khác nhau. Điều quan trọng là giáo viên Ngữ Văn cần phải biết đọc hình
tượng, nói hình tượng để rèn cho học sinh nghe hình tượng, nói hình tượng,
viết hình tượng, nghĩa là rèn cho học sinh biết tư duy văn học góp phần khám
phá giá trị tác phẩm một cách đúng đắn. Mặt khác lí luận văn học hiện đại đã
chỉ ra cấu trúc đa tầng của tác phẩm văn chương. Trong một tiết học Ngữ
Văn, giáo viên không thể khai thác cạn kiệt toàn bộ cái hay, cái đẹp của cấu
trúc đa tầng ấy mà phải kích thích thể nào để hình tượng nghệ thuật được phát
triển và âm vang mãi trong tâm hồn học sinh. Đấy phải chăng là vấn đề tư
duy văn học của học sinh.
Những thành tựu về lí thuyết tiếp nhận văn học cũng cho thấy, tác
phẩm “như một máy thu có nhiều dải sóng mà người nhận là kẻ chỉnh sóng để
bắt được đúng chương trình mà mình mong đợi”. Cũng theo lí thuyết này, tác
phẩm văn học như là một đối tượng tiếp nhận: nó là một quá trình tồn tại qua
nhiều giai đoạn: ý đồ, tưởng tượng, văn bản, sự khách thể hoá ý đồ trong một
cấu trúc có tính kí hiệu, sự cảm thụ của người thưởng thức.Vậy ở đây vừa có
sự biến đổi của hình thức tác phẩm vừa có quá trình biến đổi của chính nó phụ

hình thành và rèn luyện phương pháp tự tìm hiểu, tự khám phá và cảm nhận 6
về một tác phẩm văn học. Giáo viên cần nhận thức được có bao nhiêu học
sinh thì có bấy nhiêu cách suy nghĩ, cảm nhận văn chương. Giáo viên không
thể áp đặt tất cả mọi điều vào trong đầu óc học sinh. Vậy làm cách nào để
giáo viên khơi dậy sự suy nghĩ, tư duy tích cực nơi học sinh để học sinh
chiếm lĩnh tác phẩm. Không còn cách thức nào khác là giáo viên phải sử dụng
hệ thống câu hỏi. Nó cũng giúp giáo viên xây dựng phương án dạy học tối ưu,
thích hợp với hoàn cảnh và đối tượng dạy học.
Khi nghiên cứu đặc điểm của tư duy người ta nhận thấy rằng tư duy chỉ
nảy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề. Đó là những tình huống mà ở đó nảy
sinh những mục đích mới và những phương tiện, phương pháp hoạt động cũ
đã có trước đây trở nên không đủ ( mặc dù là cần thiết) để đạt được mục đích
đó. Nhưng muốn kích thích được tư duy thì hoàn cảnh có vấn đề phải được cá
nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân-
nghĩa là cá nhân phải xác định được cái gì đã biết, cái gì chưa biết cần phải
tìm và có nhu cầu tìm kiếm.Trong quá trình dạy học thì hệ thống câu hỏi được
sử dụng chính là hoàn cảnh có vấn đề góp phần quan trọng rèn luyện tư duy
học sinh.
1.5. Từ góc độ tâm lí học với câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học
tác phẩm văn chương
Theo Tâm lý học, mỗi biểu hiện của tình cảm đều gắn với động cơ hoạt
động của con người. Tình cảm không tự nhiên bột phát, mà nó thường bộc lộ
trong một điều kiện cụ thể, có tính xác định. Hoàn cảnh có vấn đề sẽ làm nảy
sinh cảm xúc. Cảm xúc càng hưng phấn mạnh mẽ, trí nhớ càng được huy
động tối đa và theo đó hình dung liên tưởng, tưởng tượng được mở rộng và
tăng cường khả năng nhạy bén. Đồng thời khi hình dung liên tưởng, tưởng
tượng được đẩy mạnh, sức hút dẫn đối tượng( người đọc) vào tác phẩm càng

còn mảnh đất trống để thế hệ sau nghiên cứu. Song từ thực tiễn giảng dạy tác
phẩm này khi giáo viên sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng học sinh
được rèn luyện tốt về tư duy văn học, học sinh khám phá sâu sắc hơn giá trị 8
tác phẩm “Chí Phèo” đồng thời dẫn đến hiệu quả về việc đổi mới phương
pháp dạy học.
Xuất phát từ những lý do như đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn đề tài
“ Rèn luyện tư duy văn học cho học sinh Trung học phổ thông bằng câu hỏi
liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao
(Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 ban Cơ Bản)”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu tư duy văn học của học sinh không còn là vấn đề quá mới
mẻ. Ở từng giai đoạn lịch sử giáo dục khác nhau, tương ứng với nhiệm vụ,
mục tiêu, với nội dung, chương trình, định hướng phương pháp cụ thể của bộ
môn mà vấn đề này được đề cập đến trên những phương diện khác nhau, với
quan điểm khác nhau. Song dù trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến và dưới góc
độ nào thì tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy cho học sinh nói chung
và tư duy văn học nói riêng cũng đều được khẳng định. Nhiều nhà nghiên cứu
cũng đã chỉ ra các biện pháp hướng đến rèn luyện tư duy văn học cho học
sinh trong đó có nhắc đến việc sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng.
+ Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học (GS Phan Trọng Luận) đề
cập đến vấn đề rèn tư duy qua giảng dạy văn học một cách có hệ thống. GS
nhận định “ Trong giáo dục và giảng dạy vấn đề tư duy cũng là vấn đề được
đặt ra từ lâu, nhưng nhận thức được sâu sắc vai trò quan trọng cũng như vận
dụng được khả năng của nó vào trong hoạt động thực tế sư phạm hằng ngày,
nhất là trong giảng dạy lại là chuyện còn khó khăn, lúng túng về mặt lí luận
cũng như thực hành” [35, tr. 3] . Từ những vấn đề chung cả về lí luận và thực
tiễn - tư duy với chức năng của nhà trường, đưa ra hướng tiếp cận bằng quan

+ Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
(TS Nguyễn Trọng Hoàn) thực sự là nguồn tài liệu bổ ích cho đề tài của
chúng tôi. Công trình đưa ra một hướng tiếp cận bài bản về vấn đề rèn luyện
tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương.Từ những
tiền đề khoa học của hoạt động tâm lí, tâm lý sáng tạo nghệ thuật, tính chất 10
đặc thù của tư duy cảm thụ và tiếp nhận văn học, đến việc khảo sát hiện tượng
liên tưởng, tưởng tượng của học sinh, tác giả đi sâu phân tích đối tượng, mục
đích, xác định phương thức tiếp nhận thẩm mĩ, cơ chế liên tưởng, tưởng tượng
trong dạy học tác phẩm văn chương.Quan trọng hơn trong khi đưa ra những
giải pháp cụ thể rèn luyện tư duy sáng tạo, TS Nguyễn Trọng Hoàn đã đề cập
đến giải pháp xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo trong dạy
học tác phẩm văn chương.
+ Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường (PGS-
TS Nguyễn Viết Chữ) khi bàn về phương pháp, biện pháp trong dạy học văn
đã đề cập đến việc tìm hiểu tác phẩm văn chương qua hệ thống câu hỏi và có
chú ý đến hệ thống câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng. Theo tác giả trong hệ
thống câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng có hệ thống câu hỏi hình dung, tưởng
tượng, tái hiện và hệ thống câu hỏi hình dung, tưởng tượng, tái tạo.
+ Câu hỏi và bài tập với việc dạy- học tác phẩm văn chương trong nhà
trường( Nguyễn Quang Cương). Tác giả nhấn mạnh:“ Hệ thống câu hỏi và
bài tập văn học sẽ đóng một vai trò rất to lớn trong việc hình thành và rèn
luyện kĩ năng tự tiếp nhận, tự phân tích và đánh giá tác phẩm văn học- một kĩ
năng hết sức cần thiếtt cho học sinh cả khi còn ngồi trên ghế nhà trường cũng
như khi đã bước vào đời” [9, tr. 5].Trong công trình của mình, tác giả đã
nghiên cứu về hệ thống câu hỏi trong SGK Văn học và việc vận dụng chúng
theo tinh thần đổi mới dạy học, hệ thống bài tập văn học và việc hình thành
năng lực tiếp nhận tác phẩm văn chương cho học sinh…

- Tư duy văn học của học sinh THPT.
- Tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao (SGK Ngữ văn 11 ban Cơ bản của GS
Phan Trọng Luận).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Các loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng; cách thức soạn câu hỏi liên tưởng,
tưởng tượng trong day học tác phẩm văn chương SGK Ngữ Văn ban Cơ bản 12
và việc sử dụng câu hỏi liên tưởng,tưởng tượng khi lên lớp góp phần rèn
luyện tư duy văn học cho học sinh THPT.
- Câu hỏi liên tưởng tưởng tượng và cách thức sử dụng khi dạy học tác phẩm
“Chí Phèo” của Nam Cao ( SGK Ngữ Văn 11 ban Cơ bản của GS Phan
Trọng Luận ).
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất cách thức góp phần rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT
bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của
Nam Cao (SGK Ngữ văn 11 ban Cơ bản).
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng khám phá giá trị tác phẩm
góp phần rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT
5. Đóng góp mới của luận văn
- Giúp đồng nghiệp xây dựng cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về hệ thống câu
hỏi liên tưởng, tưởng tượng góp phần rèn luyện tư duy văn học cho học sinh
trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương.
- Giúp đồng nghiệp vận dụng hệ thống câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng vào
dạy học tác phẩm văn chương một cách hiệu quả.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Thống kê


14
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tƣ duy văn học
1.1.1 Tư duy
1.1.1.1.Khái niệm tư duy
Theo từ điển Tiếng Việt tư duy là "giai đoạn cao của quá trình nhận
thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những
hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí" [49,tr. 1070].
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong những đặc tính
của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao. Về lí thuyết Karl Marx cho
rằng " Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan
được di chuyển vào và được cải tạo/ tái tạo trong đầu óc con người dưới
dạng một sự phản ánh".
Tóm lại , tư duy là quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất
bên trong của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ có tính quy luật của sự
vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.Về mặt
bản chất, kết quả của quá trình tư duy là sự phản ánh thế giới khách quan, là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. V.I.Lênin đã từng chỉ ra
rằng:"Thế giới là một sự vận động có quy luật của vật chất và nhận thức của
chúng ta- sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên- thì chỉ có thể phản ánh tính
quy luật đó mà thôi" [14, tr.17-18]
1.1.1.2.Tư duy và ngôn ngữ
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy là một câu hỏi lâu đời. Trong qúa

cảm giữa con người với nhau. Trong những hoạt động của tư duy trừu tượng,
nó vẫn giữ vai trò đặc biệt cần thiết. Vì trong thực tế hằng ngày, suy nghĩ là
mình nói với mình. Trong những lĩnh vực hết sức trừu tượng như toán học,
nhà nghiên cứu cũng phải dùng đến ngôn ngữ, Einstein cũng đã thừa nhận: "
Không có nhà bác học nào suy nghĩ bằng công thức". Người ta suy nghĩ bằng
từ, bằng cái gọi là " tiếng nói bên trong". Nhờ ngôn ngữ nên những thao tác
muôn màu vẻ của tư duy mới thực hiện và phát triển được. Trong thời đại 16
ngày nay tư duy lôgic của con người đã đạt đến một trình độ hoàn thiện phi
thường trong cách phản ánh hiện thực và có thể đi trước thực tế một bước để
có những dự kiến về tương lai. Nhưng sự phát triển này không phải là bột
phát cũng không phải là độc lập, riêng rẽ. Cùng sinh ra với ngôn ngữ, tư duy
cũng phát triển song song với nó. Những hiện tượng nhân chủng học và ngôn
ngữ học lịch sử đã chứng minh điều này.
Nếu ngôn ngữ có tác dụng đến tư duy thì ngược lại tư duy cũng ảnh
hưởng đến sự phát triển của ngôn ngữ vì cả hai chỉ lập thành một đơn vị thống
nhất. Không thể quan niệm có cái này mà không có cái kia như Mác đã chỉ
ra:" Ngôn ngữ không có tư tưởng thì không thể tồn tại, còn tư tưởng thì phải
được thể hiện trong cái chất tự nhiên của ngôn ngữ". Cho nên điều tiên quyết
cho một lời nói hình thành là nó phải có nội dung. Những âm không có nghĩa
dù đẹp đẽ đến đâu cũng không thể tồn tại vì chúng không phục vụ cho một
mục đích nào cả.
Như vậy tư duy phản ánh sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp bằng
ngôn ngữ. Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ. Các quy luật, quy tắc, các
sự kiện, các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn đạt trong các
từ. Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương
tiện.Tư duy của con người không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được, ngược lại
ngôn ngữ cũng không thể có được nếu không dựa vào tư duy. Tư duy và ngôn

tư duy nghệ thuật cũng là tìm đến bản chất của sự vật và hiện tượng để nắm
bắt quy luật đời sống khách quan. Nhưng ở đây tư duy hình tượng phản ánh
cái chung qua cái cụ thể mang tính đại diện, mang tính quy luật. Khi đó trong
tư duy hình tượng, "cái cụ thể biểu hiện là quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ
không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó
cũng là điểm xuất phát của trực quan, của biểu tượng." [14, tr.19]. Từ những
phát hiện về "cái phổ biến" trong "cái đặc thù" ,"cái cá thể", tư duy hình
tượng giữ lại cảm giác và biểu tượng để xây dựng hình tượng - một phương
tiện phản ánh hiện thực giàu tính thẩm mĩ. Sự phản ánh trong tư duy hình 18
tượng không phải là sự sao chép hiện thực một cách bàng quan mà mang đậm
dấu ấn chủ quan. Vì bản thân "cái phản ánh" là kết quả của quá trình cảm
nhận và đồng hoá hiện thực một cách tích cực và sáng tạo.
Trong quá trình dạy Ngữ Văn, người giáo viên cần chú ý rèn luyện cho
học sinh cả hai kiểu tư duy này.Tuy nhiên do đặc trưng bộ môn mà giáo viên
cần nghiêng về kiểu tư duy hình tượng.
1.1.2. Tư duy văn học
1.1.2.1. Khái niệm tư duy văn học
Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi tài liệu để phục vụ luận văn, chúng
tôi chưa thấy bất kì tài liệu nào đưa ra khái niệm tư duy văn học. Ở đây chúng
tôi không tham vọng có thể đưa ra một khái niệm chuẩn mực mà chỉ trình bày
một cách hiểu về tư duy văn học.
Vì Văn học là một môn nghệ thuật nên kiểu tư duy đặc thù của nó là tư
duy hình tượng. Tuy nhiên không thể đồng nhất giữa tư duy hình tượng và tư
duy văn học được.Tư duy hình tượng là một khái niệm rộng áp dụng cho tất
cả các ngành nghệ thuật. Một mặt tư duy văn học mang những đặc điểm
chung của tư duy hình tượng, mặt khác, vì nó là loại hình nghệ thuật có những
đặc thù riêng, là loại hình nghệ thuật ngôn từ cho nên nó đồng thời còn có

Từ đó có thể hiểu tư duy văn học là cách suy nghĩ dựa trên lí trí, dựa
trên cảm xúc, thẩm mĩ trước đối tượng văn học; là sự hài hoà giữa suy nghĩ, lí
trí và cảm xúc, thẩm mĩ của học sinh trước đối tượng văn học. Tư duy văn
học bắt đầu từ việc suy nghĩ trên phạm vi sử dụng và diễn đạt ngôn từ trong
tác phẩm, tính " phi vật thể " của hình tượng. Khi người giáo viên muốn dạy
tư duy văn học cho học sinh cần hướng học sinh suy nghĩ trên cấp độ ngôn
ngữ ( đơn vị ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm thấp nhất là từ đến câu,
đoạn ), học sinh phát hiện triệt để các tu từ( từ, hình ảnh, chi tiết, phương
tiện biểu hiện có tính chất tu từ), tín hiện nghệ thuật được nhà văn sử dụng
những biểu tượng xuất hiện trong tác phẩm, quan niệm nghệ thuật của nhà
văn về con người, phong cách nghệ thuật, cá tính sánh tạo riêng, tư duy riêng 20
của nhà văn. Đối với từng tác phẩm, học sinh cần nắm được thông điệp nhà
văn gửi gắm. Từ đó khám phá giá trị tác phẩm sâu sắc hơn.
Mặt khác sáng tạo và tiếp nhận là hai phương diện cơ bản của tư duy
nghệ thuật. Đó cũng là hai phương diện cơ bản của tư duy văn học. Điểm này
cũng thể hiện ở năng lực tư duy văn học của học sinh trong quá trình dạy học
môn Ngữ Văn ở nhà trường phổ thông. Riêng trong trục tích hợp đọc - hiểu
văn bản văn học thì vấn đề năng lực tư duy văn học đặt ra chủ yếu trên
phương diện tiếp nhận. Trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương, người
giáo viên cần tiến hành những hoạt động, phương pháp tối ưu để nâng cao
hiệu quả trong việc tiếp nhận của học sinh. Đó cũng chính là cách giáo viên
rèn luyện tư duy văn học cho học sinh.
1.1.2.2. Đặc trưng của tư duy văn học
* Đặc trưng tư duy văn học gắn với ngôn ngữ hình tượng.
Trước hết, khả năng nghệ thuật của ngôn từ biểu hiện ở tính hình tượng
của nó. Có thể nói, ngôn từ mang tính hình tượng từ trong bản chất. Từ ngữ
không chỉ là những khái niệm trừu tượng mà còn là hình ảnh của thế giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status