ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ THANH HẰNG
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC TÁC PHẨM “CHÍ PHÈO” CỦA NAM CAO
(Ngữ văn 11, tập 1)
CHUYÊN NGÀNH: Lí luận và phương pháp dạy học (bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60.14.01.11
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Ban
HÀ NỘI – 2015
1
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Ban
Phản biện 1: ……………………………………………………..
Phản biện 2: ……………………………………………………
Luận văn này sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: .......................................................................................
to lớn là hình thành cho các em kỹ năng tư duy và vận dụng các kỹ năng này vào
quá trình nhận thức.
1.3. Xuất phát từ tầm quan trọng của việc sử dụng so sánh trong dạy học Ngữ
văn và thực tiễn dạy học Ngữ văn hiện nay
So sánh là một biện pháp logic trong hoạt động nhận thức của con người. So
sánh giúp người học có thể nhìn nhận ra điểm chung, bản chất của mỗi vấn đề
nhưng đồng thời cũng cho thấy được các biểu hiện khác nhau của cùng một vấn
đề. Phân tích, tổng hợp, so sánh là công cụ giúp con người nhận thức thế giới
khách quan. Luyện cho HS kỹ năng so sánh cũng chính là phát triển cho HS khả
năng tư duy khoa học, logic. Đây là việc cần thiết tạo nền tảng để HS có thể tự
học suốt đời.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Rèn luyện ky
năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam
Cao (Ngữ văn 11, tập 1)
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1
2.1. Những nghiên cứu về biện pháp so sánh
- Giáo sư Đinh Trọng Lạc với các cuốn sách: Giáo trình Việt ngữ, tập III
(phần Tu từ học), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Phong cách học
tiếng Việt (1995), 300 bài tập phong cách học tiếng Việt.
- Các tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa với
cuốn: Phong cách học tiếng Việt (1982).
- Tác giả Cù Đình Tú: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983).
- Những luận văn, khóa luận có nghiên cứu đến phương thức so sánh như:
Phương thức so sánh nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên của Lê Thị Xuân Thủy,
luận văn thạc sỹ, ĐHSPHN 1999; Tìm hiểu cấu trúc hàm ngôn của so sánh tu
từ trong ca dao Việt Nam, khóa luận tốt nghiệp ĐHSPHN 2001; Luyện cho học
sinh kỹ năng sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa trong bài làm văn biểu cảm
- Nguyễn Đăng Mạnh với bài: Lưỡi dao Chí Phèo là ánh chớp trước cơn
giông tố viết năm 1980, in lại trong Nhà văn tư tưởng và phong
- Nguyễn Quang Trung viết về tính chất lưỡng hóa trong nhân vật Chí Phèo
đăng trên tập san THPT số 1/1988 (in lại trong Nam Cao về tác gia và tác phẩm,
NXB, 1998)
- Một số luận văn, khóa luận nghiên cứu về phương pháp dạy học tác phẩm
Chí Phèo của Nam Cao trong nhà trường phổ thông như: Đỗ Bích Liên với đề
tài: Đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Chí Phèo và biện pháp giáo dục thẩm mỹ cho
học sinh lớp 11; Nguyễn Văn Thắng với đề tài: Một số biện pháp hướng dẫn
học sinh tiếp nhận ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao ở
trường THPT; Trần Thị Thu Hà với đề tài khóa luận: Vận dụng tri thức đọc hiểu
để hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong nhà trường
THPT; Phạm Thị Thu với đề tài: Dạy học tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của
Nam Cao theo đặc trưng thể loại.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trên cho chúng tôi thấy: đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về biện pháp so sánh như việc tìm hiểu, cắt nghĩa so sánh
ở góc độ ngôn ngữ học và việc sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong các sáng
tác thơ văn; tìm hiểu về tư tưởng và phong cách nghệ thuật của tác giả Nam
Cao; về cách xây dựng hình tượng nhân vật, phân tích tác phẩm theo đặc trưng
thể loại trong truyện Chí Phèo. Song ít có những bài nghiên cứu, chuyên sâu về
việc rèn luyện các kỹ năng tư duy, trong đó có kỹ năng so sánh thông qua việc
dạy học các tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông. Những năm gần
đây, có nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ về các tác phẩm của Nam Cao
song chưa có công trình nào trực tiếp bàn về vấn đề rèn luyện kỹ năng so sánh
thông qua dạy học tác phẩm này.
Những nghiên cứu trên vừa là tài liệu tham khảo, vừa định hướng, gợi mở cho
chúng tôi nghiên cứu đề tài.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xác định được cấu trúc kỹ năng so sánh, đề tài luận văn đề xuất
dạy học tác phẩm này trong chương trình Ngữ văn 11 - THPT. Đối tượng áp
dụng thực nghiệm nghiên cứu là học sinh lớp 11 các trường THPT Nguyễn Trãi,
THPT Phan Đình Phùng thuộc Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thực nghiệm
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung
của luận văn được cấu trúc thành ba chương
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
4
Chương 2. Tổ chức rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác
phẩm Chí Phèo – Ngữ văn 11, Tập 1
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Tư duy logic và liên tưởng - định hướng, tạo cơ chế cho sự so sánh
1.1.1.1.Tư duy logic
Trong quá trình nhận thức, tư duy là hình thức phản ánh cao nhất, phức tạp
nhất của con người về thế giới khách quan. Trong đó, con người sử dụng cảm
giác, tri giác để nhận thức từng đối tượng riêng lẻ, cụ thể. Nhờ tư duy, con người
nhận thức được những đặc điểm, thuộc tính và dấu hiệu bản chất của sự vật,
hiện tượng mà con người không thể tri giác một cách trực tiếp được. Và như
vậy, quá trình nhận thức sẽ sâu sắc hơn. Nói đến tư duy logic thì trong đầu mỗi
rộng đến nhiều lĩnh vực khác của đời sống con người, phản ánh nét đặc trưng
trong tâm lý sáng tạo nghệ thuật.
Liên tưởng, tưởng tượng là những quá trình tâm lý đặc trưng trong sáng tạo
nghệ thuật nói chung và sáng tác văn học nói riêng. Liên tưởng và tưởng tượng đối với nhà văn, đó là phương tiện, là cách thức, là thủ pháp quan trọng để xây
dựng tác phẩm. Và đối với người đọc, trong công việc thưởng thức tác phẩm
nghệ thuật ngôn từ - cùng với tầm quan trọng của những phương diện khác, có
liên quan đến nhiều yếu tố: loại hình tác phẩm, phương thức diễn đạt, quá trình
thai nghén và hình thành tác phẩm, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, sở trường và cá
tính của nhà văn, khả năng tiếp nhận và đặc điểm tâm lý của bạn đọc… Theo lý
thuyết tiếp nhận: cảm xúc sáng tạo hay cảm xúc thẩm mỹ vừa là chất xúc tác,
vừa là động lực thúc đẩy quá trình liên tưởng, tưởng tượng. Cảm xúc thẩm mỹ
tạo ra hưng phấn và động cơ tích cực trong tiếp nhận văn học. Đặc biệt, liên
tưởng là nền tảng của tư duy so sánh trong việc phân tích, cảm nhận văn học. Nó
tạo mối liên hệ giữa các nhà văn, tác phẩm, hình tượng, chi tiết với nhau nhằm
tạo ra một ý nghĩa.
1.2.1. So sánh, biện pháp so sánh và so sánh trong dạy học Văn
1.2.1.1. So sánh
a, Khái niệm so sánh
So sánh là một biện pháp tư duy thể hiện trong việc nêu sự giống nhau và
khác nhau giữa các đối tượng. Biện pháp này là một thao tác cơ bản trong lý
luận dạy học nói chung. Trong suy lý quy nạp và diễn dịch cũng như trong các
thao tác phân tích, tổng hợp đều có sự so sánh. Tùy từng trường hợp mà có thể
so sánh nặng về tìm điểm khác nhau hoặc giống nhau. So sánh điểm giống nhau
chủ yếu được dùng trong tổng hợp. Cũng tùy mục đích và quan điểm so sánh, cơ
sở để so sánh có thể khác nhau.
b, Ý nghĩa của biện pháp so sánh
Trong hoạt động tư duy, so sánh giữ vai trò tích cực quan trọng. Việc nhận
thức bản chất sự vật, hiện tượng không thể thực hiện được nếu không có sự tìm
ra các đặc điểm khác biệt sâu sắc và cả những đặc điểm giống nhau của các sự
thể), tổng hợp lại kết quả so sánh để rút ra kết luận khái quát.
Bước 6: Diễn đạt kết quả so sánh bằng hình thức phù hợp: ngôn ngữ, hình vẽ,
bảng, đồ thị….
e, Các hình thức diễn đạt so sánh
Bằng lời:
Thực chất đây là những câu hỏi so sánh nhằm mục đích hướng học sinh vào
việc nghiên cứu chi tiết những vấn đề khá phức tạp, những sự vật, hiện tượng
gần giống nhau, những khái niệm có nội hàm đan xen nhau. Thông qua đó, học
sinh được tập dượt phương pháp phân tích, phương pháp so sánh.
7
Bằng bảng:
Bảng trong dạy học là dạng bảng kê nêu rõ, gọn theo thứ tự nhất định một nội
dung nào đó. Có nhiều dạng bảng song đề tài chỉ tập trung nghiên cứu dạng phổ
biến là bảng so sánh. Bảng là dạng ngôn ngữ có khả năng khắc phục những khó
khăn mà ngôn ngữ khác không làm được.
Bằng sơ đồ hình:
Sơ đồ hình là ngôn ngữ kí hiệu bằng các hình có tính trực quan về nội dung
khoa học. Đó là hình thức khái quát nội dung bằng kí hiệu vật chất hóa.
Hình ảnh có những thế mạnh vượt trội mà các ngôn ngữ khác chưa đạt tới như: Tính biểu đạt cao; - Tính bao quát; - Tính xúc cảm; - Tính bền bỉ; - Tính thẩm
mỹ.
Bằng đồ thị:
Đồ thị thường được vẽ dưới dạng một tập các điểm (các đỉnh nối với nhau
bằng các đoạn thẳng (các cạnh). Đồ thị là một hình vẽ biểu diễn sự biến
thiên của một hàm số phụ thuộc vào sự biến thiên của biến số. Đồ thị là một
trong những cách thức nhằm đưa khoa học sinh học tiến đến một khoa học
chính xác. Khi hiểu được một đồ thị hay cao hơn là thiết lập được nó, học
sinh sẽ phát triển được các kỹ năng sau:
8
Yếu tố 4
Yếu tố đưa ra
làm chuẩn để
so sánh.
phương diện so
sánh.
Ví dụ:
Tiếng suối
trong
như
tiếng hát
xa
Thực tế, có nhiều so sánh không đầy đủ 4 yếu tố. Nó có thể vắng một
hoặc hai yếu tố. So sánh vắng yếu tố 2 gọi là so sánh chìm. So sánh vắng yếu
tố 2 và yếu tố 3 là so sánh sử dụng chỗ ngắt giọng và hình thức đối chọi.
c, Phân loại so sánh
Có nhiều tiêu chí để chia ra thành các loại biện pháp so sánh tu từ: phân
chia theo từ chỉ quan hệ so sánh, phân chia căn cứ vào nét nghĩa các đối
tượng được so sánh với nhau.
* Căn cứ vào từ ngữ chỉ quan hệ so sánh, có thể chia ra thành các loại so
sánh:
- So sánh ngang bằng:
+ So sánh ngang bằng không có từ so sánh
người nghe tới một vùng liên tưởng mới tạo nên sự tri giác, sự nhận thức mới
mẻ và bất ngờ. Chính vì vậy, so sánh tu từ tạo nên tính chất hình tượng đậm
nét của đối tượng được miêu tả hay đối tượng cần được tri nhận, đồng thời
bộc lộ thái độ, cách đánh giá của tác giả đối với đối tượng đó. Do vậy, so
sánh tu từ có hai chức năng: chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm.
e, Cơ chế tạo ra biện pháp so sánh tu từ
So sánh được tạo ra nhờ sự quan sát, tưởng tượng là liên tưởng ra những
nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh chúng ta. Hay
nói một cách khác so sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này
đối chiếu với sự vật khác miễn là hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để
gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người
đọc và người nghe.
1.1.2.3. So sánh trong dạy học Văn
a, Quan niệm về so sánh trong dạy học Văn
Trong dạy học văn, khái niệm so sánh cần được hiểu theo ba khía cạnh
khác nhau:
Thứ nhất, đó là một biện pháp nghệ thuật tu từ để tạo hình ảnh cho câu văn
(như đã trình bày ở trên).
Thứ hai, nó được xem như là một thao tác lập luận bên cạnh các thao tác
lập luận khác trong bài văn nghị luận như: phân tích, giải thích, bình luận,
bác bỏ…
Thứ ba, nó được xem như một phương pháp, một cách thức trình bày khi
học về một tác phẩm văn học, từ đó vận dụng vào làm bài văn nghị luận văn
học. Ở đề tài luận văn này, chúng tôi nghiên cứu vấn đề ở khía cạnh thứ ba.
b, Yêu cầu của so sánh trong dạy học Văn
Yêu cầu của biện pháp so sánh trong dạy học các tác phẩm văn học là chỉ
ra nét giống nhau và khác nhau của các đối tượng so sánh. Vì thế, nó gắn với
hai loại: so sánh tương đồng và so sánh tương phản.
Nếu xem so sánh là một cách thức, một phương pháp trình bày khi dạy học
năng lí giải nguyên nhân của sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học. Đây
là một năng lực cần thiết góp phần tránh đi khuynh hướng “bình tán” khuôn
sáo trong việc học và làm văn của HS hiện nay.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình sử dụng so sánh trong dạy học ở trường PT
Nhằm tạo cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực
trạng về việc sử dụng biện pháp so sánh trong quá trình dạy HS học ở một số
trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội.
11
- Đối tượng khảo sát: 20 GV đang dạy học trực tiếp bộ môn Ngữ văn tại 04
trường THPT tại Hà Nội.
- Biện pháp khảo sát: Phiếu điều tra.
- Kết quả điều tra khảo sát:
Bảng 1: Kết quả điều tra nhận thức của GV về so sánh và biện pháp so sánh
Nội dung khảo sát
Tỉ lệ %
1.Thầy (cô) hiểu thế nào là so sánh?
Nêu ra các đặc điểm khác nhau
5%
Nêu ra các đặc điểm chính, căn bản để phân biệt chúng với
25%
nhau
Nêu ra các đặc điểm giống nhau, khác nhau
70%
2.Theo thầy (cô) khi tiến hành biện pháp so sánh, chúng ta phải làm gì?
40%
5.Khi dạy một nội dung mới có quan hệ tương đồng vói một nội dung đã
dạy, thầy (cô) sẽ:
Không đối chiếu, liên hệ gì với nhau khi dạy
70%
Nhắc HS để ý, sau đó dạy bình thường
5%
Sử dụng biện pháp đối chiếu so sánh để dạy
5%
nội dung mới trên nền nội dung đã học
12
Phần củng cố thực hiện đối chiếu, so sánh,
10%
hệ thống hóa mối quan hệ giữa chúng
Kiểm tra, đánh giá, yêu cầu HS hệ thống
10%
hóa các kiến thức đó
Bảng 3: Kết quả điều tra về chuẩn bị bài soạn của GV
Nội dung khảo sát
Không
Thỉnh
Thường
bao giờ
thoảng
xuyên
6.Khi soạn bài, chuẩn bị bài dạy, thầy (cô) đã thực hiện những bước nào?
Xác định mục tiêu dạy học
5%
- Kết quả:
Bảng 4: Kết quả điều tra thái độ học tập môn Ngữ văn
STT
1
2
3
Nội dung khảo sát
Thái độ với môn học
Yêu thích, say mê
Bình thường
Nhàm chán, không yêu thích
Kết quả học tập kì 1
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu, kém
Học bài cũ sau mỗi bài học
Học bài, tìm hiểu thêm các ứng dụng thực tiễn
13
Tỉ lệ %
23,1
40,7
36,2
12,6
17,2
Lật lại sách vở tìm nội dung đó
22,1
Hỏi bạn bên cạnh xem có nhớ không
24,7
Không để ý nên không biết
36,0
6
Khi gặp yêu cầu so sánh, em sẽ làm gì
Chỉ ra ngay các điểm khác nhau
17,0
Chỉ ra ngay các điểm giống và khác nhau
57,8
Phân tích các đặc điểm, sau đó rút ra các đặc điểm
3,7
giống và khác, đồng thời phân tích nguyên nhân của
những đặc điểm giống và khác nhau đó; rút ra kết luận nếu
có
Nêu lại 2 vấn đề cần so sánh
21,5
Khi phân tích các kết quả khảo sát trên đây, chúng tôi nhận thấy việc dạy và
học bộ môn Ngữ văn ở trường PT còn nhiều bất cập, chưa thực sự đạt được hiệu
quả cao đúng với yêu cầu. Trong dạy học bộ môn, GV chưa thực sự đổi mới
phương pháp dạy học, vẫn tồn tại hình thức dạy học đọc chép, dạy nhồi nhét,
dạy học văn như nhà nghiên cứu văn học…HS học thụ động, thiếu sáng tạo,
không biết tự học, học tập thiếu sự hợp tác giữa trò và thầy, giữa trò và trò, học
thiếu hứng thú, đam mê. Như vậy, hoạt động của cả GV và HS còn yếu, chưa
hoàn thành nhiệm vụ, đặc biệt là nhiệm vụ đào tạo kỹ năng. Điển hình như kỹ
năng so sánh còn rất yếu kém. Chúng tôi cũng đánh giá và đưa ra một vài
nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.
2.1.1. Về thể loại
Chí Phèo là một truyện ngắn xuất sắc viết về đề tài người nông dân trước
Cách mạng tháng Tám. Truyện ngắn Chí Phèo, nguyên có tên là Cái lò gạch cũ;
khi in thành sách lần đầu năm 1941, Nhà Xuất bản Đời mới - Hà Nội tự ý đổi
tên là Đôi lứa xứng đôi; đến khi in lại trong Tập Luống cày (do Hội Văn hóa cứu
quốc xuất bản, Hà Nội, 1946), Nam Cao đặt lại tên là Chí Phèo.
2.1.2. Về kết cấu
2.1.2.1. Cốt truyện
15
Trong truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao sử dụng kiểu cốt truyện gấp khúc: trật
tự truyện kể bị đảo ngược, sự việc xảy ra trước được kể sau, sự việc xảy ra sau
lại đưa lên trước, quan hệ nhân – quả không còn được duy trì. Truyện được mở
đầu bằng một trạng huống ở thì hiện tại khi nhân vật trung tâm - Chí Phèo đã bị
tha hóa và trở thành con quỹ dữ của làng Vũ Đại. Việc đảo lộn trật tự sự kiện,
đưa hình tượng Chí Phèo ở đỉnh điểm của sự tha hóa lên đầu truyện đã tạo ra
hiệu ứng thẩm mỹ nhất định.
2.1.2.2. Cách xây dựng nhân vật
Nam Cao mở đầu cuộc đời Chí Phèo bằng hình ảnh đứa trẻ bị bỏ rơi bên cái
lò gạch cũ. Và khi Chí Phèo chết, cái xuất xứ đau thương của Chí Phèo lại một
lần nữa hiển hiện qua chi tiết Thị Nở nhìn xuống bụng, "đột nhiên Thị thấy
thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại
qua... ". Đây là kiểu kết cấu vòng tròn rất độc đáo và nó cũng thể hiện sức sống
mạnh mẽ với thời gian của tác phẩm.
2.1.2.3. Kết cấu thời gian nghệ thuật
Trong tác phẩm Chí Phèo, giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần
thuật có một độ chênh khá lớn. Thời gian được trần thuật là cả cuộc đời của Chí
Phèo, còn thời gian trần thuật tính từ khi “Hắn vừa đi vừa chửi…” cho đến kết
mà gay gắt, quyết liệt. Làng có tôn ti trật tự nghiêm ngặt.
2.1.3.2. Nhân vật Chí Phèo
Chí Phèo, từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành, vốn là một người nông dân
bình thường, lương thiện, có ước mơ trong sáng, giản dị, có lòng tự trọng cao
Năm hai mươi tuổi, Chí làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Chỉ vì cái ghen vu
vơ của Bá Kiến, Chí phải đi ở tù đến bảy, tám năm sau mới trở về làng. Sau khi
ở tù về, con người Chí Phèo trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Đó là sản
phẩm của chế độ thực dân nửa phong kiến. Chính xã hội ấy đã tha hóa, lưu
manh hóa con người, biến con người trở thành thú vật.
Bát cháo hành thấm đượm tình người của Thị Nở đã đưa Chí từ thú dữ trở về
với cõi người lương thiện. Sau cuộc gặp gỡ với thị Nở, con người thật trong Chí
đã trở về. Đây là lúc mà Chí khao khát được làm người lương thiện hơn bao giờ
hết. Nhưng ai cho anh ta lương thiện khi mà trên khuôn mặt đầy những vết sẹo,
khi mà hình ảnh con quỹ dữ Chí Phèo đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người
dân ở làng Vũ Đại. Ngay cả người phụ nữ xấu đến ma chê quỷ hờn như thị mà
vẫn khước từ Chí, vậy thì Chí làm sao về lại với cuộc đời lương thiện được nữa.
Đây chính là đỉnh điểm của bi kịch, khi
Chí đã bị cự tuyệt quyền làm người.
Khi bị Thị Nở cự tuyệt, Chí Phèo đến nhà Bá Kiến, rồi giết Bá Kiến và tự
vẫn. Hành động ấy một mặt đã cho thấy sự bế tắc không lối thoát của người
nông dân thời bấy giờ; mặt khác thể hiện niềm khát vọng kín đáo của nhà văn
Nam Cao: người nông dân không thể chịu đè nén mãi nữa, họ phải đứng dậy đấu
tranh quyết liệt, chống lại bọn cường hào ác bá để giành quyền sống cho mình.
2.1.3.3. Nhân vật Bá Kiến
17
Xây dựng nhân vật Bá Kiến, Nam Cao tập trung làm nổi bật bản chất giai
cấp, bản chất xã hội của nhân vật, đồng thời khắc họa đầy những nét tính cách
- Nêu các đối tượng cần so sánh.
- Phân tích các đối tượng, tìm ra dấu hiệu bản chất của mỗi đối tượng so sánh.
- Xác định những điểm giống nhau của từng dấu hiệu tương ứng.
18
- Xác định những điểm khác nhau của những dấu hiệu tương ứng.
- Khái quát, tổng hợp lại các đặc điểm đã so sánh; lí giải về sự khác biệt.
Một số yêu cầu logic của biện pháp so sánh:
- Chỉ so sánh những đối tượng cùng loại.
- Quá trình rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy học cần được phức tạp hóa
dần dần về đối tượng so sánh và nội dung so sánh.
- Khi so sánh hai đối tượng, chỉ có thể xác định những đặc điểm giống nhau
khi chúng có những đặc điểm khác nhau nhất định và ngược lại, chỉ có thể xác
định được các đặc điểm khác nhau nếu chúng có những đặc điểm giống nhau
nhất định.
Trong dạy HS học có các loại so sánh cơ bản sau đây:
- So sánh liên tiếp; - So sánh đầy đủ và so sánh không đầy đủ; - So sánh đối
chứng
Biện pháp so sánh có thể vận dụng một cách linh hoạt vào các khâu khác
nhau của quá trình dạy học để đem lại những hiệu quả xác định.
2.3.2. Quy trình rèn luyện kỹ năng so sánh cho HS
Để rèn luyện kỹ năng so sánh cho HS, GV thực hiện theo năm bước sau
đây:
- Bước 1: Giới thiệu cấu trúc, ý nghĩa của khái niệm trong hoạt bài học.
- Bước 2: GV làm mẫu.
- Bước 3: Ra bài tập, yêu cầu HS tiến hành so sánh (yêu cầu gần giống với
quy trình mẫu).
- Bước 4: Ra bài tập nâng cao dần mức độ tự lực của HS.
- Bước 5: Thảo luận, nhận xét kết quả HS thực hiện so sánh.
sẽ cụ thể hóa bằng sơ đồ.
2.3.4.1. Bài tập nhóm 1: So sánh nội tại tác phẩm Chí Phèo
a, So sánh các giai đoạn trong cuộc đời nhân vật Chí Phèo
Bài tập 1: So sánh tính cách của Chí Phèo trước khi đi ở tù và sau khi đi tù
về.
Bài tập 2: So sánh Chí Phèo trước khi gặp thị Nở và sau khi gặp Thị Nở.
Bài tập 3: So sánh về cái chết của nhân vật Chí Phèo và cái chết của nhân vật
Bá Kiến
2.3.4.2. Bài tập nhóm 2: So sánh tác phẩm Chí Phèo với các tác phẩm khác
a, So sánh tác phẩm Chí Phèo với các tác phẩm khác cùng giai đoạn sáng tác
Bài tập 4: So sánh tác phẩm Chí Phèo với tác phẩm Lão Hạc, Tắt đèn.
Bài tập 5: So sánh chi tiết “bát cháo hành” của Thị Nở dành cho Chí Phèo
(Chí Phèo) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà Từ dành chăm
sóc Hộ (Đời thừa).
Bài tập 6: So sánh về tiếng khóc của nhân vật Hộ trong truyện ngắn (Đời
Thừa) và nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.
Bài tập 7: So sánh tác phẩm Chí Phèo và tác phẩm Hai đứa trẻ.
b, So sánh tác phẩm Chí Phèo với các tác phẩm khác không cùng giai đoạn
sáng tác
20
Bài tập 8: So sánh chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” mà nhân vật
Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao) và chi tiêt
“Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bồi hồi” mà nhân vật Mị nghe được trong
đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài).
Bài tập 9: So sánh cách kết thúc truyện ngắn Chí Phèo với cách kết thúc
truyện Vợ nhặt.
2.3.5. Cách sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học tác phẩm Chí Phèo để
rèn luyện kỹ năng so sánh cho HS
3.1. Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
Mục đích của quá trình thực nghiệm là nhằm kiểm chứng và đánh giá kết quả
thu được từ việc ứng dụng những đề xuất của đề tài.
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm
Chúng tôi đã tuân thủ nghiêm túc những quy tắc chung của quá trình thực
nghiệm sư phạm, đồng thời chú trọng vào yêu cầu và đặc điểm của vấn đề
nghiên cứu để có sự đối chiếu, so sánh một cách khách quan, trung thực những
kết quả thu được.
3.2. Đối tượng, cách thức và quy trình thực nghiệm
3.2.1. Đối tượng thực nghiệm
Chúng tôi chọn đối tượng thực nghiệm như sau:
- Số lớp thực nghiệm và đối chứng: 8 lớp/2 trường
- Số học sinh tham gia thực nghiệm: 325 học sinh
- Các trường được lựa chọn thực nghiệm: Trường THPT Nguyễn Trãi và
trường THPT Phan Đình Phùng đều thuộc Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.
3.2.2. Thời gian thực nghiệm
Từ cuối học kỳ I sang đầu học kỳ II năm học 2014-2015, chúng tôi đã liên hệ
với các trường thực nghiệm để trao đổi về kế hoạch và thời gian thực nghiệm.
Tác giả luận văn đã tiến hành thực nghiệm từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 5
năm 2015.
3.2.3. Cách thức tiến hành
3.2.4. Quy trình thực nghiệm
Quá trình thực nghiệm của chúng tôi gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị thực nghiệm,
triển khai thực nghiệm, xử lý số liệu và đánh giá kết quả thực nghiệm.
3.3. Nội dung thực nghiệm
3.3.1. Lựa chọn nội dung bài dạy thực nghiệm
3.3.2. Tổ chức dạy thực nghiệm
3.3.3. Tổ chức kiểm tra, đánh giá
3.4. Kết quả thực nghiệm
bình
% SL
%
SL
%
THPT
11A1
TN
42
23 54,7
16
38,0
3
7,1
0
0
17 40,4
19
47,6
3
7,1
2
4,7
Phùng
11A4
ĐC
41
12 29,2
23
56,1
2
39
7
17,9
14
35,9
13
33,3
5
12,8
11 A2
TN
40
10 25,0
16
40,0
Nguyễn
Trãi
17,5
Bảng 3.3: Kết quả tổng hợp dạy học thực nghiệm và đối chứng.
Lớp
Hình
Số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
thức
lượng
SL
%
SL
25,4
69
42,8
35
21,7
16
9,9
%
HS
11
TN
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm và đối chứng lớp 11
3.4.2. Phân tích và nhận xét kết quả thực nghiệm
Ở trường THPT Nguyễn Trãi và trường THPT Phan Đình Phùng số bài
làm đạt điểm giỏi, khá ở lớp thực nghiệm cao hơn với lớp đối chứng. Trong khi
đó, các bài đạt điểm trung bình và yếu có xu hướng giảm. Tỷ lệ đó đã cho thấy
sự tiến bộ nhất định về kỹ năng sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học tác
23