Rèn luyện tư duy văn học cho học sinh trung
học phổ thông bằng câu hỏi liên tưởng,
tưởng tượng trong dạy học tác phẩm "Chí
Phèo" của Nam Cao (sách giáo khoa ngữ
văn 11 Ban cơ bản) Vũ Thị Mận Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng
Năm bảo vệ: 2010 Abstract. Trình bày cơ sở lý luận của của việc rèn luyện tư duy văn học bằng
câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng. Nghiên cứu thực tiễn của việc rèn luyện tư duy
văn học cho học sinh trung học phổ thông bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng.
Thiết kế và thể nghiệm dạy học tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao nhằm góp
phần rèn luyện tư duy văn học cho học sinh trung học phổ thông.
Keywords. Tác phẩm văn học; Phương pháp giảng dạy; Phổ thông trung học;
Ngữ văn
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Từ việc đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học hướng đến tư duy học sinh
Trong việc đổi mới phương pháp giáo dục,mục đích rèn luyện tư duy học sinh đều
do người đọc phát hiện. Điều này giúp chúng ta nhận thức được rằng tác phẩm văn
học chính là “một đề án tiếp nhận”, “một mã nghệ thuật”, “một sơ đồ”… mà những đề
án đó chỉ được thực hiện nhờ sự phát hiện có sự sáng tạo riêng hay nói đúng hơn là tư
duy văn học của người đọc.
1.4. Từ vai trò của câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương
Câu hỏi sẽ có tác dụng kết nối các khâu trong quá trình dạy học. Hệ thống câu hỏi
còn có tác dụng phát huy trí lực, khơi dậy sự tò mò tìm hiểu, hứng thú tiếp nhận của học
sinh, học sinh chủ động khám phá kiến thức.Trong trong giờ dạy tác phẩm văn chương,
câu hỏi được đưa ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh chú ý suy nghĩ trả lời, giờ
dạy trở nên hào hứng, sinh động, tạo nên bầu không khí văn chương; giúp học sinh hình
thành và rèn luyện phương pháp tự tìm hiểu, tự khám phá và cảm nhận về một tác phẩm
văn học.Nó cũng giúp giáo viên xây dựng phương án dạy học tối ưu, thích hợp với hoàn
cảnh và đối tượng dạy học.
Người ta nhận thấy rằng tư duy chỉ nảy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề. Nhưng
muốn kích thích được tư duy thì hoàn cảnh có vấn đề phải được cá nhân nhận thức đầy
đủ, được chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân.Trong quá trình dạy học thì hệ thống
câu hỏi được sử dụng chính là hoàn cảnh có vấn đề góp phần quan trọng rèn luyện tư duy
học sinh.
1.5. Từ góc độ tâm lí học với câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm
văn chương
Theo Tâm lý học, mỗi biểu hiện của tình cảm đều gắn với động cơ hoạt động của
con người. Tình cảm không tự nhiên bột phát, mà nó thường bộc lộ trong một điều kiện
cụ thể, có tính xác định. Hoàn cảnh có vấn đề sẽ làm nảy sinh cảm xúc. Cảm xúc càng
hưng phấn mạnh mẽ, trí nhớ càng được huy động tối đa và theo đó hình dung liên tưởng,
tưởng tượng được mở rộng và tăng cường khả năng nhạy bén. Đồng thời khi hình dung
liên tưởng, tưởng tượng được đẩy mạnh, sức hút dẫn đối tượng( người đọc) vào tác phẩm
càng lớn thì cảm xúc của chủ thể tiếp nhận càng nhân lên dồi dào.Trong hệ thống câu hỏi
được giáo viên Ngữ Văn sử dụng thì loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng đáp ứng tốt
nhất điều đó. Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng nhằm mục đích gợi mở, vận dụng trí nhớ,
lựa chọn và huy động tối đa kinh nghiệm cá nhân, hướng học sinh vào hiện thực tâm lý
chiều rộng hoặc chỉ điểm xuyết về câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng nhằm rèn luyện tư
duy văn học cho học sinh. Ở đề tài này, chúng tôi muốn đi tìm hiểu hệ thống và sâu hơn
về tư duy văn học; liên tưởng, tưởng tượng; loại câu hỏi liên tưởng tưởng tượng. Từ đó
chúng tôi giúp giáo viên nhìn nhận rõ hơn về vai trò của loại câu hỏi này trong việc rèn
luyện tư duy nói chung và rèn luyện tư duy văn học nói riêng cho học sinh THPT.
+ Các loại giáo án, thiết kế bài giảng tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao đề cập
đến phương pháp giảng dạy tác phẩm cũng như cung cấp hệ thống câu hỏi trong khi
giảng dạy nhưng chưa chú ý tới việc sử dụng loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng. Ở đề
tài này, chúng tôi áp dụng việc sử dụng loại câu hỏi liên tưởng tưởng tượng trong việc
dạy học tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao một cách cụ thể.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương.
- Tư duy văn học của học sinh THPT.
- Tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao (SGK Ngữ văn 11 ban Cơ bản).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Các loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng; cách thức soạn câu hỏi liên tưởng, tưởng
tượng trong dạy học tác phẩm văn chương SGK Ngữ Văn ban Cơ bản và việc sử dụng
câu hỏi liên tưởng,tưởng tượng khi lên lớp góp phần rèn luyện tư duy văn học cho học
sinh THPT.
- Câu hỏi liên tưởng tưởng tượng và cách thức sử dụng khi dạy học tác phẩm “Chí Phèo”
của Nam Cao (SGK Ngữ Văn 11 ban Cơ bản).
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất cách thức góp phần rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT bằng câu hỏi
liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao (SGK Ngữ văn
11 ban Cơ bản của GS Phan Trọng Luận).
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng khám phá giá trị tác phẩm góp phần
rèn luyện tư duy văn học cho học sinh THPT.
Thực tế các nhà nghiên cứu đã khẳng định tư duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn
ngữ. Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện. Giữa
ngôn ngữ và tư duy luôn có mối tương quan lẫn nhau. Ngôn ngữ có vai trò quan trọng
trong những hoạt động đa dạng của tư duy. Nhờ ngôn ngữ nên những thao tác muôn màu
vẻ của tư duy mới thực hiện và phát triển được. Cùng sinh ra với ngôn ngữ, tư duy cũng
phát triển song song với nó.Nếu ngôn ngữ có tác dụng đến tư duy thì ngược lại tư duy
cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của ngôn ngữ vì cả hai lập thành một đơn vị thống
nhất. Không thể quan niệm có cái này mà không có cái kia.Tư duy phản ánh sự vật, hiện
tượng một cách gián tiếp bằng ngôn ngữ. Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ. Các
quy luật, quy tắc, các sự kiện, các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn đạt
trong các từ. Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương
tiện.Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất và tách rời nhau
được. Văn học được coi là " trò diễn bằng ngôn từ". Dạy Ngữ Văn cần thấy được mối
liên hệ này để rèn luyện tư duy cho học sinh.
1.1.1.3.Các kiểu tư duy
Ở đây chúng tôi muốn đề cập tới cách phân loại kiểu tư duy dựa vào mục đích và
phương tiện nhận thức. Đó là kiểu tư duy logíc và tư duy hình tượng.
Tư duy lôgíc là kiểu tư duy đặc thù của khoa học. Đó là quá trình thâm nhập vào
bản chất của đối tượng để tìm ra bản chất và quy luật nội tại của chúng
Tư duy hình tượng là kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật. Mục đích của tư duy
nghệ thuật cũng là tìm đến bản chất của sự vật và hiện tượng để nắm bắt quy luật đời
sống khách quan. Nhưng ở đây tư duy hình tượng phản ánh cái chung qua cái cụ thể
mang tính đại diện, mang tính quy luật. Từ những phát hiện về "cái phổ biến" trong "cái
đặc thù" ,"cái cá thể", tư duy hình tượng giữ lại cảm giác và biểu tượng để xây dựng hình
tượng - một phương tiện phản ánh hiện thực giàu tính thẩm mĩ. Sự phản ánh trong tư duy
hình tượng không phải là sự sao chép hiện thực một cách bàng quan mà mang đậm dấu
ấn chủ quan. Trong quá trình dạy Ngữ Văn, người giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học
sinh cả hai kiểu tư duy này.Tuy nhiên do đặc trưng bộ môn mà giáo viên cần nghiêng về
kiểu tư duy hình tượng.
1.1.2. Tư duy văn học
Cảm xúc thẩm mỹ ( hay cảm xúc nghệ thuật) vừa là chất xúc tác, vừa là động lực
thúc đẩy quá trình tư duy văn học. Cảm xúc thẩm mỹ góp phần định hướng tư duy theo
tiêu chí Chân-Thiện-Mĩ. Cảm xúc thẩm mỹ tạo ra hưng phấn và động cơ sáng tạo tích cực
trong tiếp nhận văn học. Muốn học sinh tiếp nhận tốt tác phẩm văn học thì giáo viên cần
phải khơi nguồn cảm xúc thẩm mĩ nơi học sinh về tác phẩm văn học đó. Có như vậy học
sinh mới hứng thú tập trung vào bài học và phát hiện những vấn đề giáo viên yêu cầu tìm
hiểu.
* Đặc trưng tư duy văn học gắn với sự sáng tạo của nhà văn:
Tư duy văn học không thể tách rời sự sáng tạo của nhà văn. Sự sáng tạo của nhà
văn thể hiện ở những nét riêng, nét độc đáo mà chúng ta thường gọi là cá tính sáng tạo
của nhà văn. Nét riêng, nét độc đáo đó đã trở thành phong cách sáng tác của nhà văn. Nó
thể hiện ở quan niệm nghệ thuật về con người, phong cách nghệ thuật, tư duy văn học. Sự
sáng tạo của nhà văn thể hiện trong tác phẩm sẽ đem lại hứng thú, cảm xúc say mê tìm
hiểu tác phẩm của học sinh. Từ đó học sinh sẽ phát hiện ra giá trị sâu sắc của tác phẩm
được thể hiện qua những nét sáng tạo đó.
1.1.2.3. Biểu hiện của tư duy văn học
* Tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng:
Tri giác ngôn ngữ là bước đầu tiên trong hành trình đi vào chiều sâu văn bản văn
học. Không có năng lực hiểu từ ngữ, câu, đoạn trong tính chỉnh thể của văn bản thì cũng
không có cơ hội phát huy những năng lực tiếp theo. Đây là hoạt động cơ bản, tiên quyết
trong hoạt động đọc - hiểu văn bản văn học, cũng là một kỹ năng quan trọng trong hệ
thống các kĩ năng của năng lực tư duy văn học. Tác phẩm văn học, hình tượng văn học
chỉ thực sự bắt đầu "sống" từ hoạt động tri giác ngôn ngữ này. Đồng thời, tri giác ngôn
ngữ còn là cảm thụ. Năng lực tri giác ngôn ngữ gắn liền với năng lực tái hiện hình tượng.
Có thể nói, tri giác ngôn ngữ là bước đánh thức cánh cửa các ký hiệu của tác phẩm và
tưởng tượng tái hiện là bước giúp người đọc nhìn ra thế giới bên trong của tác phẩm nằm
dưới các ký hiệu ngôn ngữ. Người giáo viên có vai trò kích hoạt để vận hành khâu này
trong tư duy học sinh
* Trí nhớ, liên tưởng, tưởng tượng:
Trí nhớ có thể được hiểu là " Sự ghi lại, giữ lại và làm xuất hiện(tái hiện) những
trưng thẩm mĩ của hình tượng
* Cụ thể hoá, khái quát hoá nghệ thuật:
Cảm thụ chi tiết nghệ thuật có khi là một từ ngữ, một hình ảnh, một chi tiết, một
sự kiện, một trạng huống tâm trạng, một câu văn, một hành động, một nhân vật nhưng
đi đôi với nó bao giờ cũng phải là việc cắt nghĩa, lí giải nó một cách khái quát trong cấu
trúc chỉnh thể của tác phẩm, trong hệ thống thống nhất của chủ đề, cảm hứng, tư tưởng
của người sáng tác. Hai mặt cụ thể và khái quát, chi tiết và hệ thống bao giờ cũng tồn tại
trong mối tương quan chặt chẽ hai chiều.
* Bình giá nghệ thuật:
Bình giá nghệ thuật bộc lộ cá tính, bản lĩnh tiếp nhận, khả năng đánh giá của
người đọc. Đây là biểu hiện mang tính tổng hợp cao của tư duy văn học. Nó đòi hỏi có sự
kết hợp giữa những thao tác thuộc những khả năng khác như tri giác ngôn ngữ, tái hiện
hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng, năng lực cụ thể hoá, khái quát hoá, năng lực phân
tích hình tượng theo đặc trưng thể loại.
1.2. Rèn luyện tƣ duy văn học bằng câu hỏi liên tƣởng, tƣởng tƣợng
1.2.1. Liên tưởng, tưởng tượng
1.2.1.1. Liên tưởng
* Khái niệm liên tưởng và các kiểu liên tưởng:
- Khái niệm liên tưởng: Hiện tượng liên tưởng có mối quan hệ với hiện tương trí nhớ.
Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa các yếu tố tâm lí, nhờ đó sự xuất hiện của một yếu tố này
trong những điều kiện nhất định gây nên một yếu tố khác liên quan với nó. Liên tưởng là
sự tái hiện hiện thực nhờ liên hệ giữa hiện thực đang có với hiện thực đã từng có, đã qua,
có nghĩa là từ việc này, hình ảnh này đang diễn ra trong quá trình tâm lí thì nghĩ đến việc
khác, hình ảnh khác có thể cùng loại, cũng có thể khác loại, nhưng cùng nằm trong một
trường liên tưởng.
- Các kiểu liên tưởng
Tâm lý học phân biệt ba loại liên tưởng
Liên tưởng gần nhau. Đây là loại liên tưởng diễn ra theo cơ chế tác động hệ quả,
thể hiện mối liên hệ lôgíc thứ tự hô ứng do ký ức gợi ra.
Liên tưởng giống nhau( liên tưởng tương đồng) là loại liên tưởng dựa vào các mối
trong hiện thực.
- Các kiểu tưởng tượng
Các nhà tâm lý học chia tưởng tượng làm hai loại:
Tưởng tượng tiêu cực: Những hình ảnh do tưởng tượng mà có được sẽ có thể xuất
hiện như là một vật thay thế cho hoạt động, dẫn con người vào địa hạt của những biểu
tượng hoang đường.Trong đó tưởng tượng tiêu cực xảy ra một cách có chủ định được gọi
là mơ mộng.Tưởng tượng tiêu cực nảy sinh không chủ định là ảo giác, hoang tưởng
Tưởng tượng tích cực là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh phù hợp nhằm
đáp ứng những nhu cấu bức xúc, kích thích tính tích cực và tính thực tế của con người, nó
biểu hiện ở hai cấp độ:
Cấp độ thứ nhất, tưởng tượng tái tạo là quá trình tưởng tượng tạo ra những hình
ảnh chỉ là mới đối với cá nhân người tưởng tượng và dựa trên cơ sở miêu tả hoặc gợi ý
của người khác. Cấp độ thứ hai, tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng hình ảnh mới
một cách độc lập.
* Tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương
Trong dạy học tác phẩm văn chương giáo viên cần nắm được cơ chế tưởng tượng.
Theo TS Nguyễn Trọng Hoàn cơ chế tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương
diễn ra như sau:
Tưởng tượng sáng tạo: Học sinh có thể mở rộng vùng chú ý trong trí nhớ, mở
rộng hình dung và bổ sung những nét mới để đưa vào dòng suy tưởng; chọn lọc, sáng tạo
biểu tượng mới.
Tưởng tượng có phê phán: Hình dung trong tâm tưởng nhưng mới ở cấp độ cảm
tính. Những dữ kiện hỗn độn của trí nhớ huy động vừa được đưa vào dòng của liên tưởng
và qua sự bổ sung ban đầu làm cho thế giới nghệ thuật được hiện lên qua biểu tượng; đến
tưởng tượng có phê phán- tức đã chuyển sang cấp độ lí tính, nó mới tự giác thực hiện các
chức năng thuộc tính qua các khâu trung gian:
Tưởng tượng tổng hợp: Bức tranh tưởng tượng được bổ sung phong phú các dữ
kiện, đường nét theo một ý tưởng và mục đích có trước.
Tưởng tượng phân tích: Từ bức tranh trọn vẹn, đầy đủ, qua kĩ năng phân tích- các
dữ kiện và nét nghĩa được phân loại, phân hoá vào bề sâu và bề rộng, làm cho vấn đề
tâm.
- Câu hỏi tưởng tượng tâm trạng của tác giả khi lựa chọn một chi tiết hay một số
hình ảnh tiêu biểu của tác phẩm.
- Câu hỏi tưởng tượng về tâm trạng nhân vật.
- Câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng về điểm nhìn nghệ thuật của tác giả với hiệu
quả nghệ thuật của tác phẩm.
- Câu hỏi tưởng tượng nhan đề khác và về khả năng kết thúc của tác phẩm.
1.2.2.2. Câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng ngoài tác phẩm
- Câu hỏi liên tưởng hiện thực xác định của tác phẩm trong quan hệ với hiện thực
của đời sống xã hội.
- Câu hỏi liên tưởng hình ảnh, hình tượng, biểu tượng của tác phẩm này với tác
phẩm khác.
Ngoài ra chúng ta có thể chia câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng thành hai loại là:
- Câu hỏi hình dung, tưởng tượng, tái hiện:
- Câu hỏi hình dung, tưởng tượng, tái tạo:
1.2.3.Những điều cần lưu ý khi giáo viên xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng
trong dạy học tác phẩm văn chương
- Tìm hiểu yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của bài học, tìm hiểu
phương pháp dạy học tác phẩm đó, tìm hiểu đối tượng học sinh trước khi thiết kế giáo án.
- Khi thiết kế giáo án đến phần xây dựng câu hỏi, giáo viên cần suy nghĩ xem đối
với từng đơn vị kiến thức trong bài dạy thì sử dụng loại câu hỏi nào, liệt kê những loại
câu hỏi đó xem có loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng không? Sau đó giáo viên đối
chiếu với các dạng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng chúng tôi đã trình bày ở trên xem có
thể sử dụng loại câu hỏi nào cho thích hợp.
- Các câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng cần được xây dựng ở các mức độ dễ khó
khác nhau.
- Các câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng cần phải có mối quan hệ liên đới với các
câu hỏi trong sách giáo khoa đã được học sinh chuẩn bị ở nhà.
- Cần phối kết hợp với các phương pháp dạy học khác.
- Việc xây dựng các câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng không thể tách biệt sự quan
huyết với nghề, những giáo viên làm nhiệm vụ ôn luyện học sinh giỏi, dạy ban Nâng
cao.Còn đa số giáo viên dạy ban Cơ bản cho rằng học sinh đầu vào chất lượng thấp,
những kiến thức rõ ràng mười mươi còn chẳng biết, chẳng nhớ thì lấy đâu ra tư duy
văn học qua sự liên tưởng, tưởng tượng. Trong ý thức của giáo viên, họ cũng muốn
rèn luyện tư duy văn học cho học sinh nhưng trên thực tế họ không thể thực hiện
được.
2.2. Thực tiễn việc sử dụng câu hỏi liên tƣởng, tƣởng tƣợng trong dạy học tác phẩm
văn chƣơng
Việc sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương
là rất hạn chế. Mặc dù trong phần câu hỏi hướng dẫn học bài và ở phần luyện tập có xuất
hiện loại câu hỏi này nhưng giáo viên rất ít sử dụng hoặc không sử dụng.
2.3. Đánh giá chung về thực tiễn
2.3.1. Ưu điểm
2.3.2. Nhược điểm
2.3.3. Nguyên nhân của tình trạng trên
- Về phía học sinh:
- Về phía giáo viên
2.3.4. Cách khắc phục
Đối với học sinh:
Đối với giáo viên:
Chƣơng 3 : THIẾT KẾ VÀ THỂ NGHIỆM DẠY HỌC TÁC PHẨM " CHÍ PHÈO"
CỦA NAM CAO
3.1. Thiết kế giáo án thể nghiệm
3.1.1. Mục đích thiết kế
Giáo án được thiết kế nhằm mục đích định hướng cho giáo viên rèn luyện tư duy
văn học cho học sinh bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng thông qua việc tìm hiểu tác
phẩm " Chí Phèo" trong sách Ngữ Văn 11 do GS Phan Trọng Luận chủ biên.
3.1.2. Nội dung thiết kế
Giáo án phải đảm bảo được đầy đủ những nội dung cơ bản của tác phẩm trên tinh
B- Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
1- Chuẩn bị của giáo viên
- Tổ chức học sinh đọc diễn cảm văn bản.
- Định hướng học sinh phân tích, cắt nghĩa, khái quát bằng đàm thoại gợi mở, nêu vấn đề
nhưng chủ yếu bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng.
- Tổ chức học sinh tự bộc lộ, tự nhận thức, rèn luyện tư duy văn học bằng việc phát hiện
vấn đề thông qua trao đổi, liên tưởng, tưởng tượng để trả lời câu hỏi.
2- Chuẩn bị của học sinh
- Chủ động đọc bài, soạn bài
- Suy nghĩ về hình tượng nhân vật
C- Hoạt động dạy học
Hoạt động 1: Tạo tâm thế tiếp nhận cho học sinh
Hoạt động 2: Tri giác văn bản
Hoạt động 3: Phân tích văn bản
Hoạt động 4: Tổng kết, đánh giá
Hoạt động 5: Luyện tập, củng cố.
Trong mỗi hoạt động, giáo án đều chú trọng tới hoạt động liên tưởng, tưởng tượng
của học sinh thông qua câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng của giáo viên. Hoạt động liên
tưởng, tưởng tượng được thể hiện khi học sinh phát hiện phân tích nhận xét ý nghĩa chi
tiết trong tác phẩm, về hình tượng nhân vật Chí Phèo, về hình ảnh làng Vũ Đại, giá trị tác
phẩm, những điều gợi mở trong tác phẩm
3.1.6. Tự đánh giá thiết kế thể nghiệm
- Về hoạt động của giáo viên và học sinh: Đảm bảo tốt yêu cầu về các hoạt động của giáo
viên học sinh, đặc biệt là việc kết hợp các hoạt động trong đó nhấn mạnh hoạt động liên
tưởng, tưởng tượng nhằm rèn luyện tư duy văn học cho học sinh
- Về yêu cầu kiến thức, kĩ năng, thái độ: Đảm bảo yêu cầu về kiến thức kĩ năng, thái độ
đặc biệt khắc sâu kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh trong việc tìm hiểu tác
phẩm.
- Về tính khả thi:Giáo án thể nghiệm đã được soạn khá rõ ràng và cụ thể bởi vậy việc dạy
học thể nghiệm sẽ không phải là vấn đề quá khó khăn.Và với cách soạn nhấn mạnh vào
trọng việc rèn luyện tư duy văn học cho học sinh bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng.
3.3.5. Đánh giá kết quả thể nghiệm
3.3.5.1.Mục đích đánh giá
Hiệu quả của việc dạy học tác phẩm " Chí Phèo" theo hướng rèn luyện tư duy cho
học sinh bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng
Đánh giá tác dụng và tính khả thi của giáo án thể nghiệm
3.3.5.2. Phương pháp đánh giá
Chúng tôi đánh giá dựa trên sự tổng hợp kết quả tiếp thu bài của học sinh thông
qua các câu hỏi đặc biệt là câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong giờ học cùng bài kiểm
tra viết và phiếu điều tra.
3.3.5.3. Nội dung đánh giá
Đánh giá kết quả rèn luyện tư duy văn học của học sinh sau giờ học
3.3.5.4. Kết quả dạy thể nghiệm
STT
Lớp
Số HS
Số HS có tư duy văn học
TB trở lên
Số HS có tư duy văn học
yếu, kém
Số HS
Tỉ lệ%
Số HS
Tỉ lệ%
1
B9
40
Việc thiết kế giáo án thể nghiệm hai tiết dạy học " Chí Phèo" là minh chứng rõ
ràng nhất trong việc sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng nhằm rèn luyện tư duy văn
học cho học sinh. Khi quyết định đưa tác phẩm " Chí Phèo" vào phần thiết kế giáo án thể
nghiệm cho đề tài luận văn, chúng tôi chủ yếu muốn nhấn mạnh đến các câu hỏi liên
tưởng, tưởng tượng sẽ kích thích hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của học sinh. Và
bằng cách đó, học sinh sẽ rèn luyện được tư duy văn học. Có thể hiệu quả rèn luyện tư
duy văn học chưa thể thấy được ngay trong 2 tiết học nhưng thông qua 2 tiết học này học
sinh có hứng thú học tập , phát hiện, cảm nhận được những điều mới mẻ từ tác phẩm. Từ
đó học sinh tạo cho mình thói quen liên tưởng, tưởng tượng trong khi học tác phẩm văn
chương. Giáo viên cũng thấy được hiệu quả dạy học từ việc thiết kế các câu hỏi liên
tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương.Theo chúng tôi đó là một sự
thành công lớn.
Mục đích của đề tài luận văn này là đề xuất một cách thức góp phần rèn luyện tư
duy văn học cho học sinh THPT bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác
phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao (SGK Ngữ văn 11 ban Cơ bản). Tuy nhiên việc rèn luyện
tư duy văn học không phải chỉ dừng lại ở việc dùng cách thức đặt câu hỏi liên tưởng,
tưởng tượng mà nó còn được bổ trợ bởi nhiều biện pháp khác. Tác phẩm " Chí Phèo" của
Nam Cao vẫn là một kho báu quý giá ẩn chứa nhiều vấn đề cần khai thác, tìm hiểu với
nhiều cách thiết kế và phương pháp dạy học khác nhau. Với khuôn khổ hạn hẹp của một
luận văn tốt nghiệp, với kiến thức, năng lực, kinh nghiệm có hạn thì việc sai sót, hạn chế
của luận văn là điều không thể tránh khỏi. Do vậy chúng tôi chân thành mong đợi những
ý kiến đánh giá, ý kiến xây dựng của các nhà nghiên cứu, các độc giả, các anh chị, các
bạn đồng nghiệp. Những ý kiến xây dựng của mọi người sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn
khách quan hơn đối với vấn đề khoa học đồng thời góp thêm những kinh nghiệm quý báu
cho những lần nghiên cứu sau của chúng tôi được công phu và có giá trị khoa học cao
hơn.
22. Nguyễn Trọng Hoàn(2003) "Phát triển năng lực đọc trong dạy học Ngữ Văn", Tạp
chí văn học và tuổi trẻ, số 7.
23. Nguyễn Trọng Hoàn. Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương.
Nxb Giáo Dục, 2003.
24. Nguyễn Trọng Hoàn . Hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ
giảng văn. Tóm tắt luận án Giáo dục- chuyện ngành Phương pháp giảng dạy văn học,
1999.
25. Trần Bá Hoành( 1999) "Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên",
Tạp chí nghiên cứu Giáo Dục số 9
26. Lê Văn Hồng- Lê Ngọc Lan- Nguyễn Văn Trà. Giáo trình tâm lí học lứa tuổi và tâm
lí học sư phạm. Nxb Đại Học Quốc Gia, 2001.
27. Bùi Văn Huệ. Giáo trình Tâm lí học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000.
28. Bùi Công Hùng(1987)" Liên tưởng thơ ca", Tạp chí văn học số 4.
29. Nguyễn Thanh Hùng. Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương. Nxb Giáo Dục, 2002.
30. Nguyễn Thanh Hùng, Hiểu văn, dạy văn, Nxb Giáo Dục, 2003.
31. Nguyễn Thanh Hùng, Đọc- hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb Giáo
dục, 2008.
32. Nguyễn Thị Thanh Hương, Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường
THPT. Nxb Giáo Dục, 1999.
33. Nguyễn Thị Thanh Hương. Dạy văn ở trường phổ thông. Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2001.
34. Nguyễn Thị Hường( 2009). Một đối thoại ngầm độc đáo trong truyện ngắn " Chí
Phèo" Văn học và tuổi trẻ số tháng 12, Nxb Giáo Dục.
35. Phan Trọng Luận. Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học. Nxb Giáo dục, 1989.
36. Phan Trọng Luận( chủ biên).Thiết kế bài học Ngữ Văn 11 tập 1. Nxb Giáo Dục, 2008.
37. Phan Trọng Luận( tổng chủ biên).Ngữ Văn 11 tập 1. Nxb Giáo Dục, 2008.
38. Phan Trọng Luận. Cảm thụ Văn học- Giảng dạy văn học.Nxb Giáo Dục, 1983.
39. Phan Trọng Luận- Trương Dĩnh- Nguyễn Thanh Hùng- Trần Thế Phiệt. Phương pháp
dạy học văn. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996.
40. Phan Trọng Luận. Phương pháp dạy học văn . Nxb Giáo Dục, 2002.