1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN THÌN
SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN
LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC PHẦN DI TRUYỀN HỌC -
SINH HỌC 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Nghệ An, năm 2014
2
LỜI CẢM ƠN
∗
Hoàn thành đề tài này, Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn
khoa học PGS.TS. Nguyễn Đình Nhâm, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả
trong suốt quá trình nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo trong khoa Sinh học Trường Đại
học Vinh, Đại học Sư phạm Huế, đã nhiệt tình giảng dạy và có những ý kiến đóng góp
quý báu cho đề tài.
Đồng thời, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng đào tạo
Sau Đại học của Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tác giả học tập và nghiên
cứu.
Cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô trong Tổ Sinh và học sinh Trường THPT
Con cuông, Trường THPT Mường quạ, Trường THPT Anh sơn 1. Trường THPT Anh
sơn 2. Trường THPT Anh sơn 3. đã tạo điều kiện và hợp tác cùng với tác giả trong
quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và những người thân đã nhiệt tình động
viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Vinh, tháng 11 năm 2014
Tác giả
1.1.2. Bài tập, tình huống, bài tập tình huống và tình huống dạy học …………
1.1.2.1.Bài tập ……………………………………………………………
4
1.1.2.2.Tình huống ……………………………………………………………
1.1.2.3. Bài tập tình huống ……………………………………………………
1.1.2.4. Tình huống dạy học ……………………………………………………
1.1.3. Cấu trúc của bài tập tình huống trong dạy học……………………………
1.1.4. Phương pháp dạy học bằng bài tập tình huống ………………………
1.1.4.1. Đặc điểm của dạy học bằng bài tập tình huống …………………
1.1.4.2. Tiêu chuẩn của một bài tập tình huống tốt ……………………………
1.1.4.3. Ưu - nhược điểm của dạy học bằng bài tập tình huống……………….
1.1.5. Kỹ năng học tập của học sinh ……………………………………………
1.1.5.1. Kỹ năng ………………………………………………………………
1.1.5.2. Kỹ năng học tập ………………………………………………………
1.1.6. Kỹ năng so sánh
1.1.6.1. Khái niệm
1.1.6.2.Vai trò việc rèn luyện kỹ năng so sánh:
1.1.6.3. Ưu – nhược điểm của dạy học tình huống
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài…………………………………………………
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm
3.2. Nội dung và phương pháp thực nghiệm
6
3.3. Phương pháp thực nghiệm
3.4. Kết quả thực nghiệm và đánh giá
3.4.1. Phân tích định lượng
3.4.2. Phân tích định tính…………………………………………………
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
2. KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
GV Giáo viên
HS Học sinh
NXB Nhà xuất bản
PPDH Phương pháp dạy học
SGK Sách giáo khoa
THPT Trung học phổ thông
NST Nhiểm sắc thể
SH Sinh học
1.1. Xuất phát từ chủ trương của Đảng và Nhà Nước:
Để phát triển đất nước, hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà Nước ta đã chú trọng
phát triển Giáo dục và Đào tạo, xem Giáo dục và Đào tạo là Quốc sách hàng đầu. Mục
tiêu của giáo dục Việt Nam là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
9
Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và
có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy
truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù
hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học
1.2. Xuất phát từ việc thực hiện mục tiêu giáo dục:
Để đạt được mục tiêu đã đặt ra, ngành Giáo dục và Đào tạo đang ra sức thực
hiện công cuộc đổi mới giáo dục ở mọi cấp học, đổi mới đồng bộ cả nội dung, phương
pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và kiểm tra đánh giá. Đặc biệt, chú trọng đổi mới
phương pháp dạy học từ chỗ sử dụng phương pháp dạy học truyền thống sang dạy học
tích cực “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS);
phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học;
bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách
nhiệm học tập cho HS”. Chú trọng sử dụng phương pháp dạy học mới và phương tiện
hiện đại trong dạy học là tốt nhất.
1.3. Xuất phát từ thực trạng của việc giảng dạy sinh học ở bậc THPT:
Hiện nay, trong các trường THPT, nhất là các trường thuộc vùng, miền xa
trung tâm thành phố, huyện lỵ, cơ sở vật chất trường lớp còn thiếu thốn nên việc sử
dụng phương pháp dạy học tích cực trong trường phổ thông nói chung và với bộ môn
Sinh học nói riêng đã có chuyển biến nhưng còn chậm. Một bộ phận không nhỏ giáo
viên (GV) vẫn sử dụng các phương pháp dạy học (PPDH) truyền thống như thuyết
trình, giải thích - minh họa là chủ yếu, một số đặt vấn đề, dẫn đến việc học của HS
cho học sinh biết tự khám những tri thức đó. Muốn làm được điều đó trong quá trình
giảng dạy Thầy giáo có thể sử dụng nhiều phương pháp và biện pháp dạy học khác
nhau, một trong những biện pháp đó là sử dụng bài tập tình huống, vì rằng là một
trong những biện pháp góp phần phát huy tính tích cực của HS. Trong chương trình
THPT hiện nay, phần di truyền học Sinh học 12 là những kiến thức về các quá trình, qui
luật. Vì vậy, việc sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy –
học sẽ phát huy tính tích cực của HS và mang lại hiệu quả cao.
11
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: Sử dụng Bài
tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học phần Di
truyền học - Sinh học 12.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Sử dụng Bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong
dạy học phần Di truyền học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Sinh học ở
trường trung học phổ thông.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng Bài tập tình huống để
rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy học sinh học nói chung và dạy học phần Di
truyền học Sinh học 12 nói riêng.
3.2. Điều tra tình hình sử dụng Bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh trong
dạy học phần Di truyền học ở một số trường THPT thuộc khu vực miền tây tỉnh Nghệ An.
3.3. Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức phần Di truyền học để làm cơ sở cho việc
xây dựng và sử dụng Bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh trong dạy học
phần Di truyền học.
3.4. Xác định nguyên tắc, quy trình xây dựng Bài tập tình huống , trên cơ sở đó xây
dựng hệ thống Bài tập tình huống trong phần kiến thức phần Di truyền học Sinh học
12.
3.5. Xây dựng quy trình sử dụng Bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh
cho học sinh vào khâu hình thành kiến thức mới phần Di truyền học Sinh học 12.
3.6. Thiết kế một số giáo án thực nghiệm sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ
7.3. Phương pháp chuyên gia:
- Gặp gỡ, trao đổi với các chuyên gia trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu, từ đó
có những định hướng cho việc nghiên cứu đề tài.
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên dạy học Sinh học 12 về hệ thống bài tập tình
huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh đã soạn làm cơ sở để chỉnh sửa và
hoàn thiện hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh
phần Di truyền học - Sinh học 12.
7.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
13
Đây là phương pháp quan trọng để đánh giá tính đúng đắn của giả thuyết khoa
học và mức đạt được mục tiêu của đề tài.
7.4.1.Thực nghiệm thăm dò
Xây dựng phiếu điều tra tìm hiểu thực trạng sử dụng bài tập tình huống để rèn
luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học Sinh học 12 THPT ở các phần đã
học. Tổ chức điều tra và xử lí kết quả điều tra.
7.4.2.Thực nghiệm chính thức
* Mục đích: Nhằm thu thập số liệu và xử lý bằng toán học thống kê, xác định chỉ tiêu
đo lường và đánh giá chất lượng hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so
sánh cho học sinh
* Phương pháp thực nghiệm:
- Xây dựng hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh
trong dạy học phần Di truyền học Sinh học 12.
- Thiết kế giáo án cho lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC).
- Tổ chức thực nghiệm tại trường THPT:
+ Chọn các trường thực nghiệm: Các trường TN có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị
dạy học.
+ Chọn GV thực nghiệm: GV dạy lớp TN cũng là GV dạy lớp ĐC.
+ Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 12 THPT.
+ Bố trí thực nghiệm: Lớp TN và lớp ĐC có kết quả học tập tương đương nhau, tiến
hành thực nghiệm song song, mỗi lớp thực nghiệm dạy 3 bài có sử dụng bài tập tình
năng so sánh trong dạy học
Chương 2: Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh để dạy
học phần Di truyền học - Sinh học 12 .
2.1. Phân tích nội dung chương trình phần kiến thức phần Di truyền học - SH 12
2.2. Xây dựng hệ thống bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh để dạy học
phần Di truyền học học - Sinh học 12
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
3.1. Mục tiêu thực nghiệm sư phạm
3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm
3.3. Đối tượng thực nghiệm
15
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Tài liệu tham khảo và phụ lục.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Phương pháp dạy học sinh học ở trường THPT
1.1.1.1. Khái niệm về phương pháp dạy học
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học, mỗi định nghĩa nhấn
mạnh một khía cạnh nào đó, phản ánh sự phát triển nhận thức của các nhà khoa học,
các nhà sư phạm về bản chất khái niệm phương pháp dạy học ở mỗi thời kì nhất định.
Theo N.M. Veczilin và V.M. Cooxumskaia đã định nghĩa: “Phương pháp dạy học là
cách thức thầy truyền đạt kiến thức, đồng thời là cách thức lĩnh hội kiến thức của trò”.
Định nghĩa này đã không còn phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học như
hiện nay [32].
Theo Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành “Phương pháp dạy học là cách
thức hoạt động của thầy tạo ra mối liên hệ qua lại với hoạt động của trò để đạt mục
đích dạy học”. Đây là khái niệm có thể xem là hoàn chỉnh và phù hợp với xu hướng
đổi mới phương pháp dạy học mang tính tích cực [2].
tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả quá
trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá…
chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học [2].
1.1.1.3. Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học theo hướng đổi mới
Thực chất của đổi mới PPDH trước hết là thay thế vị trí, vai trò của thầy và trò.
Từ vị trí là người truyền đạt, giảng giải tri thức, thầy sẽ trở thành người tổ chức,
hướng dẫn, cố vấn, trợ giúp. Từ vị trí thụ động, nghe, chép, HS trở thành người chủ
động, tích cực hoạt động học tập để tiếp cận, nắm bắt và vận dụng tri thức mới [28].
Đổi mới PPDH làm cho vai trò và vị thế của người giáo viên được nâng cao hơn
trước. Tuy nhiên, để đảm bảo được năng lực và trọng trách đó thì người thầy cần có năng
lực chuyên môn, có kĩ năng sư phạm, có lòng yêu nghề và có trách nhiệm [5].
17
Dạy học tích cực có những đặc trưng thể hiện ở cách thức tổ chức hoạt động
học tập của học sinh và mục tiêu cơ bản nhất cần đạt được [21]:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong các giờ lên lớp, GV là người tổ chức, chỉ đạo HS tiến hành các hoạt
động học tập. HS – chủ thể của hoạt động học và cần được cuốn hút vào những hoạt
động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, HS tự lực khám phá những điều
chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những kiến thức đã sắp đặt sẵn.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Ngày nay cùng với sự phát triển và bùng nổ thông tin, HS có nhiều cơ hội để
hoà nhập và tìm kiếm thông tin bổ ích cho bản thân. Tuy nhiên, việc tìm kiếm và xử lí
các thông tin như thế nào là vấn đề mà HS đang gặp phải những khó khăn.
Kiến thức của nhân loại thì vô tận nhưng kiến thức của con người sẽ có giới
hạn. Một giáo viên dù giỏi đến đâu cũng không thể truyền đạt các kiến thức của nhân
loại cho HS. Chính vì thế, việc rèn luyện cho HS kĩ năng tìm kiếm, xử lí thông tin đó
là điều hết sức cần thiết.
Ngoài ra, HS cần được rèn luyện các kĩ năng: phân tích-tổng hợp, khái quát
hoá, so sánh, suy luận,… Việc nắm vững các tri thức và phương pháp sẽ giúp cho HS
tự đọc tài liệu, làm bài tập, hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng đồng thời phát
• Bài tập dùng để dạy bài mới
• Bài tập dùng để củng cố, hoàn thiện kiến thức.
• Bài tập dùng để kiểm tra, đánh giá.
Điểm phân biệt giữa bài tập dùng để dạy bài mới và hai loại bài tập kia là ở tính
chất cần tìm. Cái cần tìm ở đây chính là phương thức để qua đó học sinh tiếp thu được
kiến thức mới.
Căn cứ vào tính chất và mức độ khái quát của kiến thức, các bài tập có thể xếp
vào 3 loại chính:
• Bài tập vận dụng tri thức lí thuyết: Gồm chủ yếu những bài tập thuận, những bài tập
đảo, ngắn và đơn giản nhằm rèn luyện cho HS kĩ năng vận dụng lí thuyết để trả lời các
bài tập trong các trường hợp cụ thể, qua đó khắc sâu kiến thức của một vấn đề nào đó
trong bài học.
• Bài tập vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn. Những loại bài tập
19
này sẽ góp phần tích cực rèn luyện tư duy thực nghiệm và làm cho quá trình học tập
gắn liền với thực tiễn.
• Bài tập phát triển trí thông minh: đây là những bài tập có tính tổng hợp, thể hiện được
sự đan xen, tổ hợp giữa các kiến thức sinh học với tự nhiên, môi trường và các hoạt
động sống của con người.
1.1.2.2.Tình huống
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tình huống. Theo quan điểm Triết học, tình
huống được nghiên cứu như một tổ hợp các mối quan hệ cụ thể, đến một thời điểm
nhất định liên kết con người với môi trường của anh ta, lúc đó anh ta biến thành chủ
thể của hành động có đối tượng nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
Theo từ điển Tiếng Việt, tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một
địa điểm, trong một thời gian cụ thể, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó,
tìm cách giải quyết. Tình huống cũng có thể được miêu tả hoặc trình bày một trường
hợp trong thực tế nhằm đưa ra một vấn đề chưa được giải quyết và thông qua đó đòi
hỏi người đọc phải giải quyết vấn đề đó [21].
Xét về góc độ tâm lí học, tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan
biệt
Nguyễn Ngọc Quang còn đưa ra một cách tiếp cận mới của tình huống dạy học
đó là tình huống mô phỏng hành vi. Mô phỏng hành vi là bắt chước, sao chép, phỏng
theo quá trình hành vi của con người, sự tương tác riêng cá nhân của người đó, nhằm
đạt mục đích nào đó. Quá trình hành vi của con người trong tình huống thực, cụ thể
được xử lý sư phạm bằng mô hình hoá tạo nên tổ hợp các tình huống mô phỏng, là
một mô hình của tình huống thực tiễn. Dùng tình huống mô phỏng này trong tổ chức
dạy học nó trở thành tình huống dạy học. Thực chất đó là quy trình chuyển tình huống
mô phỏng thành tình huống dạy học [8], [23].
Những tình huống trong dạy học là những tình huống mang tính điển hình, miêu
tả sự kiện, hoàn cảnh có thật hay hư cấu nhằm giúp người học hiểu và vận dụng tri thức.
Tình huống được sử dụng nhằm kích thích người học phân tích, bình luận, đánh giá, suy
xét và trình bày ý tưởng của mình để qua đó từng bước chiếm lĩnh tri thức hay vận dụng
những kiến thức mới đã học vào những trường hợp thực tế [21].
21
Tình huống dạy học là khái niệm mô tả hoàn cảnh, điều kiện dạy học cụ thể
như: thầy, trò, sách giáo khoa có gì đặc biệt? Mục đích, nội dung, phương pháp,
phương tiện, môi trường dạy học… như thế nào? Tình huống dạy học luôn luôn thay
đổi, vì vậy để dạy học tốt đòi hỏi người thầy phải quan sát thực tế, nhạy cảm và tập
trung sự chú ý của mình vào công việc. Người thầy thường tập trung vào việc xác
định tình huống dạy học ở 3 giai đoạn: trước giờ học, trong giờ học và sau giờ học
Như vậy, bản chất của tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc của bài lên lớp,
chứa đựng mối liên hệ mục đích - nội dung - phương pháp theo chiều ngang tại một
thời điểm nào đó với nội dung là một đơn vị kiến thức.
1.1.3. Cấu trúc của bài tập tình huống trong dạy học
Cấu trúc của bài tập tình huống trong dạy học được tạo thành từ hai yếu tố cơ
bản: Con người và các thành tố của quá trình dạy học [29].
Con người: Là giáo viên và học sinh. Muốn làm việc có hiệu quả giáo viên phải
nắm được nhu cầu, nguyện vọng, hoàn cảnh, điều kiện học tập của học sinh. Đối
tượng lao động của giáo viên là học sinh, khác với công nhân, nông dân, đối tượng lao
giáo viên.
Mặt quá trình gồm: Tạo tình huống có vấn đề, kích thích động viên, tạo động
lực, tổ chức hoạt động, kiểm tra đánh giá, quá trình này kéo dài từ đầu đến cuối giờ
học.
1.1.4. Phương pháp dạy học bằng bài tập tình huống
23
Phương pháp dạy học bằng bài tập tình huống là một phương pháp mà giáo
viên tổ chức cho học sinh xem xét, phân tích, nghiên cứu, thảo luận để tìm ra các
phương án giải quyết cho các bài tập tình huống, qua đó mà đạt được các mục tiêu bài
học đặt ra [8].
1.1.4.1. Đặc điểm của dạy học bằng bài tập tình huống [7]
- Dựa vào các tình huống để thực hiện chương trình học (học sinh nắm các kiến
thức, kỹ năng); những tình huống không nhằm kiểm tra kỹ năng mà giúp phát triển
chính bản thân kỹ năng.
- Những tình huống có cấu trúc thực sự phức tạp - nó không phải chỉ có một
giải pháp cho tình huống (tình huống chứa các biến sư phạm).
- Bản thân tình huống mang tính chất gợi vần đề, không phải học sinh làm theo
ý thích của thầy giáo; học sinh là người giải quyết vấn đề theo phương thức thich
nghi, điều tiết với môi trường; có hay không sự hỗ trợ của thầy giáo tùy thuộc vào tình
huống.
- Học sinh chỉ được hướng dẫn cách tiếp cận với tình huống chứ không có công
thức nào giúp học sinh tiếp cận với tình huống.
- Việc đánh giá dựa trên hành động và thực tiễn.
1.1.4.2. Tiêu chuẩn của một bài tập tình huống tốt
- Về mặt nội dung:
+ Tính thời sự, sát thực tế, sát nội dung bài học.
+ Bài tập tình huống phải mang tính giáo dục.
+ Tạo khả năng để học sinh đưa ra được nhiều đáp án.
+ Phải chứa đựng mâu thuẫn và mang tính khiêu khích.
+ Tạo được sự hứng thú cho người học.
các yêu cầu trên không phải nhiều.
Hơn nữa, thời gian giảng dạy quá ít trên lớp cùng với lối học mang tính chất
thụ động từ bấy lâu nay của học sinh đã trở thành một khó khăn trong việc sử dụng
biện pháp dạy học bằng phương pháp sử dụng bài tập tình huống này.
1.1.5. Kỹ năng học tập của học sinh
1.1.5.1. Kỹ năng
25
Theo Trần Bá Hoành: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận
được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo,
khéo léo trở thành kỹ xảo” [13], [14], [15].
Nguyễn Đình Chỉnh đã định nghĩa: "Kỹ năng là một thao tác đơn giản hoặc
phức tạp mang tính nhận thức hoặc mang tính hoạt động chân tay, nhằm thu được một
kết quả" Việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối vì một số kỹ năng đồng thời
là kỹ năng nhận thức và là kỹ năng hoạt động chân tay.
Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết - đó là kiến thức. Sở dĩ
như vậy là vì xuất phát từ cấu trúc kỹ năng (phải hiểu mục đích, biết cách thức đi đến
kết quả và hiểu được những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó).
Mỗi kỹ năng chỉ biểu hiện thông qua một nội dung, tác động của kỹ năng lên
nội dung ta đạt được mục tiêu.
Mục tiêu = Kỹ năng
×
Nội dung
Với quan niệm của A.V. Pêtrôvxki, kỹ năng là cách thức hành động dựa trên cơ
sở tri thức. Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo khả năng cho con
người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà trong cả
những điều kiện thay đổi.
Bên cạnh đó, cũng còn có các quan niệm khác nhau của nhiều tác giả trong và
ngoài nước khi xem xét khái niệm kỹ năng liên quan đến việc xây dựng hệ thống kỹ
năng và quy trình rèn luyện kỹ năng:
Quan niệm thứ nhất: Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ năng của hành động