Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học sinh học 8 - Pdf 28

Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU………………………………………………………………………….02
Lí do chọn đề tài……………………………………………………………… 02
PHẦN II: NỘI DUNG……………………………………………….…………………… 03
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài……………………………… 03
1. Cơ sở lí luận……………………………………………….…………………………… 03
1.1. Tình huống và tình huống dạy học: …………………………………… 03
1.1.1. Tình huống: ……………………………… 03
1.1.2. Tình huống dạy học: ……………………………… 03
1.1.3. Phân loại tình huống……………………………… 04
1.2. Dạy học bằng tình huống……………………………… 04
1.2.1. Đặc điểm của dạy học tình huống……………………………… 04
1.2.2. Ưu- nhược điểm của dạy học tình huống……………………………… 05
1.3. Kỹ năng học tập của học sinh……………………………… 06
1.3.1. Kỹ năng……………………………… 06
1.3.2. Kỹ năng học tập……………………………… 07
1.3.3. Một số kỹ năng nhận thức: ……………………………………… ……… 08
1.3.3.1. Kỹ năng phân tích- tổng hợp: ……………………………… 08
1.3.3.2. Kỹ năng khái quát hoá……………………………… 09
1.3.3.3. Kỹ năng suy luận……………………………… 10
1.3.3.4. Kỹ năng so sánh……………………………… 10
1.4. Quy trình thiết kế bài tập tình huống để rèn luyện một số kỹ năng nhận thức cho
học sinh trong dạy-học, Sinh học8……………………………… 13
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ
NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC, SINH HỌC 8
2.1. Hệ thống các bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy
học Sinh học 8. ……………………………… 15
2.1.1. Bài tập tình huống để dạy bài mới: ……………………………… 15
2.1.2. Bài tập tình huống để dạy ôn tập củng cố: ……………………………… 18
2.1.3. Bài tập tình huống để kiểm tra đánh giá…………………………………………… 19

tập tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học sinh học
8” làm bài tiểu luận.
PHẦN 2: NỘI DUNG
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 2 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Tình huống và tình huống dạy học:
1.1.1. Tình huống:
Theo Từ điển Tiếng Việt, tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một
địa điểm, trong một thời gian cụ thể, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó,
tìm cách giải quyết.
Tình huống cũng có thể được hiểu là sự mô tả hay trình bày một trường hợp có
thật trong thực tế hoặc mô phỏng nhằm đưa ra một vấn đề chưa được giải quyết và qua
đó đòi hỏi người đọc (người nghe) phải giải quyết vấn đề đó.
Ở góc độ Tâm lý học, tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ
với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy chủ thể đó. Trong quan hệ không gian, tình huống xảy
ra bên ngoài nhận thức của chủ thể. Trong quan hệ thời gian, tình huống xảy ra trước so
với hành động của chủ thể. Trong quan hệ chức năng, tình huống là sự độc lập của các
sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người đó thực hiện hành động. [Từ điển Tâm lý
học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2000]
Theo quan điểm triết học, tình huống được nghiên cứu như là một tổ hợp các mối
quan hệ cụ thể, đến một thời điểm nhất định liên kết con người với môi trường của anh
ta, lúc đó anh ta biến thành một chủ thể của hành động của đối tượng nhằm đạt được
mục tiêu nhất định.
Nói một cách khái quát hơn, “Tình huống là toàn thể sự việc xảy ra tại một nơi,
trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ hành động, đối phó, chịu đựng’’.
1.1.2. Tình huống dạy học:
Tình huống được đưa vào giảng dạy thường ở dưới dạng những bài tập nghiên
cứu. Đặc điểm nổi bật của loại hình bài tập này là “xoay quanh những sự kiện có thật
hay gần gũi với thực tế trong đó chứa đựng những vấn đề và mâu thuẫn cần phải được

Trên thực tế, có rất nhiều loại tình huống cũng như cách thức phân loại chúng.
Một trong những cách tương đối phổ biến là phân loại tình huống theo dạng thức
(format). Theo cách này tính huống được chia thành 6 dạng cơ bản với những đặc điểm,
phương pháp tiến hành tương đối khác nhau [Boehrer, John, and Martin Linsky
(1990)]
1.2. Dạy học bằng tình huống:
Dạy học bằng tình huống là một phương pháp mà giáo viên tổ chức cho học sinh
xem xét, phân tích, nghiên cứu, thảo luận để tìm ra các phương án giải quyết cho các
tình huống, qua đó mà đạt được các mục tiêu bài học đặt ra .
1.2.1. Đặc điểm của dạy học tình huống:
* Bản thân tình huống mang tính chất gợi vấn đề, không phải học sinh làm theo ý
thích của thầy giáo; học sinh là người giải quyết vấn đề theo phương thức thích nghi,
điều tiết với môi trường; có hay không sự hỗ trợ của thầy giáo tuỳ thuộc vào tình huống.
* Những tình huống có cấu trúc thực sự phức tạp – nó không phải chỉ có một giải
pháp cho tình huống ( tình huống chứa các biến sư phạm)
* Dựa vào các tình huống để thực hiện chương trình học (học sinh nắm các tri
thức, kỹ năng); những tình huống không nhằm kiểm tra kỹ năng mà giúp phát triển
chính bản thân kỹ năng.
* Học sinh chỉ được hướng dẫn cách tiếp cận với tình huống chứ không có công
thức nào giúp học sinh tiếp cận với tình huống.
* Việc đánh giá dựa trên hành động và thực tiễn.
1.2.2. Ưu- nhược điểm của dạy học tình huống
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 4 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
-1-
Tình
huống
lớn (chi
tiết)
-2-
Tình

tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập; phát triển các kỹ năng học tập ,
giải quyết vấn đề, kỹ năng đánh giá, dự đoán kết quả, kỹ năng giao tiếp như nghe, nói,
trình bày của học sinh; tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, tính sáng tạo, tiếp cận
tình huống dưới nhiều góc độ; cho phép phát hiện ra những giải pháp cho những tình
huống phức tạp; chủ động điều chỉnh được các nhận thức, hành vi, kỹ năng của học
sinh. Phương pháp này có thế mạnh trong đào tạo nhận thức bậc cao.
Như vậy, phương pháp sư phạm này có thể phát huy được tính chất dân chủ,
năng động và tập thể để đạt được mục đích dạy học.
* Nhược điểm: Để thiết kế được tình huống phù hợp nội dung, mục tiêu đào tạo,
trình độ của học sinh, kích thích được tính tích cực của học sinh đòi hỏi cần nhiều thời
gian và công sức. Đồng thời giáo viên cần phải có kiến thức, kinh nghiệm sâu, rộng; có
kỹ năng kích thích, phối hợp tốt trong quá trình dẫn dắt, tổ chức thảo luận và giải đáp để
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 5 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
Tập thể
+ Làm việc theo nhóm.
+Thông tin qua lại.
+Trao đổi ý tưởng
Năng động
(Không nghe, tiếp thu một cách thụ động)
Dân chủ
+ Sự bình đẳng mọi người tham gia.
+ Trao đổi ý tưởng.
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
giúp học sinh tiếp cận kiến thức, kỹ năng.Trên thực tế, không phải giáo viên nào cũng
hội đủ các phẩm chất trên.
Do sự eo hẹp về thời gian giảng dạy trên lớp cộng với sự thụ động của học sinh
do quá quen với phương pháp thuyết trình là một trở ngại trong việc áp dụng phương
pháp này.
1.3. Kỹ năng học tập của học sinh
1.3.1. Kỹ năng :

Học tập là loại hình hoạt động cơ bản, một loại hoạt động phức tạp của con
người. Muốn học tập có kết quả, con người cần phải có một hệ thống kỹ năng chuyên
biệt gọi là kỹ năng học tập. Theo các nhà tâm lý học, kỹ năng học tập là khả năng của
con người thực hiện có kết quả các hành động học tập phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh nhất định, nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ đề ra.
Kỹ năng học tập có các đặc trưng:
* Là tổ hợp các hành động học tập đã được học sinh nắm vững; biểu hiện mặt kỹ
thuật của hành động học tập và năng lực học tập của mỗi em. Có kỹ năng học tập là có
năng lực học tập ở một mức độ nào đó.
* Kỹ năng học tập có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập. Nó là yếu tố có
tính mục đích, luôn hướng tới mục đích của hoạt động học tập và có ý nghĩa quyết định
đến kết quả học tập.
* Kỹ năng học tập là một hệ thống, trong đó có các kỹ năng học tập chuyên biệt.
Có bao nhiêu loại hình học tập thì có bấy nhiêu kỹ năng học tập chuyên biệt. Đến lượt
nó các kỹ năng học tập chuyên biệt như một hệ thống con được tạo bởi các kỹ năng
thành phần. Kỹ năng học tập là một hệ thống mở, mang tính phức tạp, nhiều tầng, nhiều
bậc và mang tính phát triển. Trong những điều kiện, hoàn cảnh học tập khác nhau, nhiều
kỹ năng chuyên biệt hay kỹ năng thành phần có thể mất đi, thay thế hoặc được điều
chỉnh. Trong hệ thống kỹ năng học tập có những kỹ năng khái quát, chung cho mọi môn
học hoặc một nhóm môn học (kỹ năng chung) và có những kỹ năng đặc thù cho môn
học.
Theo Nguyễn Ngọc Quang, sự lĩnh hội kiến thức được thực hiện thông qua một
chu trình gọi là chu trình hoạt động nhận thức - học tập. Nó bao gồm các bước: Sự tri
giác, sự thông hiểu, sự ghi nhớ, sự vận dụng, sự khái quát hoá và sự hệ thống hoá. Điều
kiện cơ bản để lĩnh hội kiến thức có kết quả là mỗi học sinh phải thực hiện toàn bộ chu
trình hoạt động nhận thức, học tập khi nghiên cứu bài học từ tri giác đến hệ thống hoá.
Trong đó, sự thông hiểu kiến thức diễn ra thông qua quá trình xử lý thông tin bằng các
thao tác trí tuệ: Phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, cụ thể hoá, trừu tượng hoá, so sánh
đối chiếu, suy luận,
Trong thực tiễn dạy học, nhiều học sinh còn rất lúng túng ở khâu này vì thiếu

ra những yêu cầu phân tích khác nhau. Nhưng mục đích chủ yếu của việc rèn luyện kỹ
năng phân tích là hình thành ở các em thói quen tìm hiểu sự vật, hiện tượng có chiều
sâu, nhằm nắm được bản chất của đối tượng nghiên cứu.
Tổng hợp là sự kết hợp trong tư duy các yếu tố, các thành phần của sự vật hay
hiện tượng trong một chỉnh thể. Trong thực tế mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại đồng
thời các yếu tố cũng như các mặt khác nhau tác động lẫn nhau. Để nhận thức đầy đủ sự
vật, hiện tượng, con người thường bắt đầu xem xét từ một tổng thể toàn vẹn, nghĩa là
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 8 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
tổng hợp sơ bộ, sau đó mới phân tích từng yếu tố, cuối cùng tổng hợp cao hơn, đầy đủ
hơn.
Rèn luyện kỹ năng tổng hợp nhằm giúp học sinh sắp xếp những số liệu, những sự
kiện lộn xộn, rời rạc và đa dạng mà các em thu thập được qua nghiên cứu lý luận và
khảo sát thực tiễn thành những sự vật, những hiện tượng, những quá trình hoàn chỉnh,
thống nhất.
Phân tích và tổng hợp là hai mặt của một quá trình tư duy thống nhất có sự liên
hệ mật thiết với nhau. Tổng hợp sơ bộ ban đầu cho ta ấn tượng chung về đối tượng nhờ
đó mà xác định được phương hướng phân tích cho đối tượng. Từ sự phân tích đối tượng
sẽ giúp ta có một nhận thức đầy đủ hơn về đối tượng, phân tích càng sâu thì sự tổng hợp
cuối cùng càng cao, càng đầy đủ. Sự tổng hợp hoàn chỉnh sẽ ảnh hưởng đến chất lượng
của sự phân tích tiếp theo. Cứ như vậy, nhận thức ngày càng tiến sâu vào bản chất của
sự vật, hiện tượng.
Phân tích và tổng hợp trong Sinh học thường được dùng để phân tích cấu tạo cơ
quan, hệ cơ quan, cơ thể ; phân tích cơ chế, quá trình sinh học.
1.3.3.2. Kỹ năng khái quát hoá:
Khái quát hoá là hoạt động trí tuệ cấp cao nhằm gom các đối tượng có cùng thuộc
tính và bản chất vào một nhóm, là quá trình chuyển từ cái đơn nhất lên cái chung .
Sự khái quát hoá, giữ vai trò chủ yếu trong khi hình thành các khái niệm mới. ở
học sinh khái quát hoá diễn ra trên cơ sở phân tích, so sánh.
Kỹ năng khái quát hoá ở mỗi học sinh luôn đóng vai trò quan trọng trong quá

- Nếu so sánh thiên về điểm giống nhau thì chỉ có thể rút ra điểm giống nhau đó
khi giữa các đối tượng so sánh có điểm khác nhau.Yêu cầu tìm điểm giống nhau sẽ cao
và khó khi có rất nhiều điểm khác nhau.
- Nếu chỉ quan tâm đến điểm khác nhau thì giữa chúng phải có điểm giống nhau. Việc
tìm điểm khác nhau sẽ cao và khó khi đối tượng có nhiều điểm giống nhau.
- Các đối tượng so sánh trong dạy học cần được nâng dần lên về độ khó. Độ khó
phụ thuộc số lượng đối tượng so sánh, độ giống và độ khác, số lượng chỉ tiêu so sánh,
yêu cầu so sánh đầy đủ hoặc không đầy đủ.
1.3.4. Bản chất của so sánh:
1.3.4.1. So sánh:
Biện pháp so sánh là thao tác tư duy cơ bản nói chung và trong dạy học nói riêng
theo một quan điểm nhất định. Trong nhận thức cùng với sự hiểu biết sự vật, hiện tượng
là cái gì và như thế nào, còn phải hiểu được sự vật, hiện tượng này không giống sự vật,
hiện tượng khác ở chỗ nào thì phải sử dụng đến phương pháp so sánh.
So sánh là thao tác trong tư tưởng đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác để
thấy sự tương đồng và sự khác biệt giữa chúng. Thường là đối chiếu một vật không biết
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 10 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
hoặc ít biết với một sự vật quen thuộc, cốt làm cho ý nghĩa của chúng rõ ràng hơn, dễ
nhận biết hơn. Đây là thao tác thúc đẩy quá trình vận động của tư duy để tìm ra cái mới.
So sánh thực chất là sự phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa các
đối tượng nhằm phân loại sự vật, hiện tượng thành những loại khác nhau. So sánh gắn
liền chặt chẽ với phân tích tổng hợp để từ đó thực hiện khái quát hóa, trừu tượng hóa đối
tượng, thiết lập mối quan hệ nhân quả. Qua sự so sánh, đối chiếu giúp HS phân biệt
được các sự vật, hiện tượng đó, xắp sếp chúng vào hệ thống nhất định và củng cố các
khái niệm.
Tuỳ mục đích mà phương pháp so sánh có thể nặng về tìm sự giống nhau hay sự
khác nhau. So sánh điểm khác nhau chủ yếu dùng trong phân tích, so sánh điểm giống
nhau thường dùng trong tổng hợp.
Theo Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành thì khi so sánh hai đối tượng ta có

sự kiện được trình bày riêng lẽ trong từng chương, bài cụ thể về các cơ quan, hệ cơ quan
như: tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, bài tiết,….Mỗi cơ quan, hệ cơ quan có cấu tạo và chức
năng riêng nhưng có mối quan hệ mật thit, phối hợp chặt chẽ với nhau tạo nên cơ thể
thống nhất dưới sự điều khiển, điều hoà của hệ thần kinh. Rèn luyện kỹ năng so sánh
cho học sinh giúp học sinh hiểu được khái niệm này trong mối quan hệ với khái niệm
khác, đặc biệt giúp học sinh hiểu rõ mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng của các mô,
cơ quan. Chẳng hạn như: Tim với các thành cơ tim dày mỏng khác nhau liên quan đến
chức năng co bóp đẩy máu trong các đoạn đường dài ngắn khác nhau, cấu tạo của thành
các mao mạch và tốc độ vận chuyển máu chậm đảm bảo cho sự trao đồi chất giữa máu
với các tế bào được thực hiện dễ dàng,…
Rèn luyện kĩ năng so sánh còn là một phương tiện đặc biệt quan trọng để phát
triển năng lực tư duy nói chung và năng lực tư duy sinh học nói riêng. Trong khi tập so
sánh, học sinh phải luôn luôn sử dụng các thao tác tư duy khác như phân tích, đối chiếu,
tổng hợp, khái quát hóa, xác lập các mối liên hệ, tư duy của các em luôn luôn hoạt động
và phát triển.
Mặt khác còn kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh sau một chương, một phần
ở mức độ cao hơn.
Ý nghĩa chính của so sánh là làm phong phú thêm kiến thức đã học bằng một tư
tưởng mới, xem xét các vấn đề đã học dưới góc độ mới. Do đó dẫn đến kết quả là không
những củng cố những điều đã học mà còn sắp xếp chúng thành hệ thống chặt chẽ, giúp
học sinh lý giải được ý nghĩa sâu xa của kiến thức ấy.
1.4. Quy trình thiết kế bài tập tình huống để rèn luyện một số kỹ năng nhận thức
cho học sinh trong dạy-học Sinh học.
Các yêu cầu của bài tập tình huống:
+ Tính thời sự, sát thực tế, sát nội dung bài học.
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 12 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
+ Tạo khả năng để học sinh đưa ra nhiều giải pháp.
+ Nội dung của bài tập tình huống phải phù hợp với trình độ của học sinh.
Khi soạn thảo bài tập tình huống cần chú ý:

thiết kế hệ thống bài tập tình huống phục vụ giảng dạy.
3/ Xây dựng hệ thống bài tập tình huống để phục vụ giảng dạy: Xử lý sư phạm
các tình huống đó, nghĩa là mô hình hoá các tình huống ấy thành các bài tập tình huống.
Các tình huống này trở thành phương tiện, đối tượng của quá trình dạy học.
4/ Rèn luyện một số kỹ năng nhận thức của học sinh: Đưa hệ thống bài tập tình
huống vào quá trình giảng dạy Sinh học ở trường THPT. Học sinh cùng nhau thảo luận,
giải quyết tình huống.
5/ Hình thành ở học sinh kỹ năng nhận thức: Thông qua giải quyết các tình huống
mà học sinh vừa được củng cố tri thức, vừa được rèn luyện các kỹ năng nhận thức giúp
học sinh hiểu sâu, mở rộng tri thức đồng thời học sinh có thể tự tìm kiếm tri thức mới.
Kỹ thuật thiết kế bài tập tình huống phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Chọn nguồn thiết kế bài tập tình huống từ sản phẩm của học sinh ( Câu phát
biểu trả lời trên lớp và bài kiểm tra)
+ Chọn được các bài tập tình huống mà ở đó có thể rèn luyện được một số kỹ
năng nhận thức cơ bản cho học sinh.
+ Hình thức diễn đạt bài tập tình huống phải phù hợp.
+ Biến đổi linh hoạt mức độ khó khăn của từng bài tập tình huống cho phù hợp
với từng đối tượng học sinh. Ở đây, chúng ta có thể thêm hay bớt dữ kiện của bài tập
tình huống để làm tăng hay giảm độ khó của bài tập tình huống.
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 14 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 8
2.1. Hệ thống các bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong
dạy học Sinh học 8.
2.1.1. Bài tập tình huống để dạy bài mới:
Bài tập tình huống 1: Dạy bài 4: Mô
Để phân biệt các loại mô một học sinh phát biểu như sau:
Mô biểu bì là những tế bào xếp sít nhau, phủ ở ngoài cơ thể, lót trong các nội quan. Còn

cổ chân, ngón tay/ ngón chân
- Thư tròn mắt nhìn anh: Em vẫn chưa hiểu rõ về sự khác nhau giữa xương tay và xương
chân.
- Hoàng: Vậy thì em hãy lập bảng so sánh dựa trên các tiêu chí anh đã nói, giờ anh phải
đi học rồi.
Theo bạn, câu trả lời của Hoàng đã chính xác chưa? Nếu đúng hãy cùng Hoàng lập bảng
so sánh bạn nhé!
Bài tập tình huống 3: (Dạy bài 48 - Hệ thần kinh sinh dưỡng )
Khi so sánh cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh vận động và hệ thần kinh sinh
dưỡng, một bạn học sinh đã lập bảng như sau nhưng còn một số nội dung bạn ấy lúng
túng không biết phải điền thế nào. Em hãy giúp bạn ấy hoàn thành bảng so sánh.
CÁC HỆ THẦN
KINH
CẤU TẠO
CHỨC NĂNG
Bộ phận trung ương Bộ phận ngoại biên
HỆ THẦN KINH
VẬN ĐỘNG
Não bộ
…………………
- Điều khiển
hoạt động cơ
xương (cơ vân)
- …………
……
Tuỷ sống 31 đôi dây thần kinh tuỷ
HỆ
THẦN KINH
SINH
DƯỠNG

+ Mục đích:………………………………………………
+ Cách tiến hành:
- Thông khí ở phổi nạn nhân với nhịp 12 – 20 lần/phút
- ………………………………………………………….
*Khác nhau
Nội dung so sánh PP Hà hơi thổi ngạt PP Ấn lồng ngực
Cách tiến hành …………………………………
Dùng tay tác động gián tiếp vào
phổi qua lực ép vào lồng ngực
Hiệu quả Hiệu quả cao hơn vì:
- Đảm bảo được số lượng và áp
lực của không khí đưa vào phổi.
- …………………………
Hiệu quả kém hơn vì:
- …………………………
- …………………………
Bài tập tình huống 5: Dạy bài 11 : Tiến hóa của hệ vận động và vệ sinh hệ vận
động
Có ý kiến cho rằng : Bộ xương người tiến hóa hơn so với bộ xương của thú. Từ những
thông tin sau đây :
Tỉ lệ sọ / mặt, lồi cằm ở xương mặt, cột sống, lồng ngực, xương chậu, xương đùi, xương
gót. Dựa vào các tiêu chí em hãy lập bảng để làm rõ vấn đề trên.
Bài tập tình huống 6: Dạy bài 21 : Hoạt động hô hấp
Nhìn vào
hình ảnh, một học sinh phát biểu rằng : hoạt động hít vào và thở ra hoàn toàn khác nhau,
hít vào cơ liên sườn co lại, lồng ngực nở rộng, cơ hoành co(nén xuông).
Còn hoạt động thở ra thì cơ liên sườn giãn, lồng ngực hẹp, cơ hoành giãn(nâng lên).
Theo em bạn đó phát biểu đúng không, em hãy lập bảng so sánh để chứng minh.
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 17 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8

+ TM có van để đua máu đi theo 1 chiều
Theo em bạn Hải trả lời đúng hay sai. Em hãy giúp bạn viết sơ đồ tóm tắt trình bày
sự khác nhau đó
Bài tập tình huống 3: (Dạy bài 39 – Bài tiết nước tiểu)
Hai nhóm học sinh so sánh về thành phần của nước tiểu đầu khác với nước tiểu chính
thức theo bảng sau:
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 18 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
STT Nội dung so sánh Nước tiểu đầu Nước tiểu chính thức
1 Nồng độ các chất hoà tan
2 Chất dinh dưỡng Nhiều hơn Gần như không còn
3 Chất cặn bã và chất độc Ít hơn nhiều hơn
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
Nhưng ở tiêu chí 1 hai nhóm học sinh đưa ra hai ý kiến khác nhau như sau:
- Nhóm 1 cho rằng: Nước tiểu đầu còn ít và có nhiều chất dinh dưỡng nên đậm đặc
hơn nước tiểu chính thức
- Nhóm 2: Nước tiểu chính thức trải qua quá trình hấp thụ lại và bài tiết tiếp nên
đậm đặc hơn nước tiểu đầu.
Theo em cách giải thích của nhóm nào đúng hơn?
Bài tập tình huống 4: Dạy bài 22 : Hô hấp và các cơ quan hô hấp
Sau khi học xong bài:
Có một học sinh trình bày sự giống nhau và khác nhau hệ hô hấp của người và hệ hô
hấp của thỏ là :
Giống nhau:
- Đều có đường dẫn khí và 2 lá phổi
- Đều nằm trong khoang ngực và ngăn cách với khoang bụng bởi cơ hoành
- Trong đường dẫn khí đều có: Mũi, Họng, Thanh quản, Khí quản, Phế quản
- Bao bọc 2 lá phổi có 2 lớp màng. Lớp ngoài dính với lồng ngực, lớp trong dính
với phổi. Chính giữa là chất dịch.
- Mỗi lá phổi đều được cấu tạo bởi các phế nang, tập hợp thành từng cụm, bao mỗi
túi phổi là mạng mao mạch dày đặc

2.2. Quy trình sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện các kỹ năng tư duy cho học
sinh trong dạy học, Sinh học 8.
2.2.1. Quy trình chung:
2.2.2. Sử dụng tình huống để rèn luyện kỹ năng so sánh
2.2.2.1. Bài tập tình huống để dạy bài mới:
Bài tập tình huống 1: Dạy bài 4: Mô
GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 21 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
B1: Giới thiệu bài tập tình huống
B2: Học sinh tự lực làm việc
B3: Thảo luận toàn lớp
B4: Kết luận, chính xác hoá kiến thức, xác định hướng giải quyết
hợp lý, học sinh tự hoàn thiện kỹ năng nhận thức
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
Bước 1: Giới thiệu tình huống:
Để phân biệt các loại mô một học sinh phát biểu như sau:
Mô biểu bì là những tế bào xếp sít nhau, phủ ở ngoài cơ thể, lót trong các nội quan. Còn
mô liên kết là những tế bào nằm trong chất nền, dưới lớp da, dây chằng, sụn xương. Mô
cơ là những tế bào xếp thành từng bó. Mô thần kinh nơron có thân nối với sợi trục và
sợi nhánh.
Theo em phát biểu của bạn đó đúng không, em hãy lập bảng so sánh giúp bạn?
Bước 2: Học sinh tự lực làm việc
Với tình huống này có thể tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm 4 người
Bước 3: Tổ chức thảo luận cả lớp
Giáo viên có thể gợi ý học sinh hoàn thành bài tập bằng cách yêu cầu học sinh xác định
vị trí cấu tạo từng loại mô
Bước 4: Giáo viên kết luận:
Vậy ý kiến của bạn học sinh là đúng, nhưng thiếu phần chức năng của từng loại mô
Giáo viên hoàn thành bảng
Mô biểu bì Mô liên kết Mô cơ Mô thần kinh
Đặc

GVHD: PGS.TS.Phan Đức Duy 22 HVTH: Hồ Thị Hương Giang
STT Nội dung so sánh Nước tiểu đầu Nước tiểu chính thức
1 Nồng độ các chất hoà tan
2 Chất dinh dưỡng Nhiều hơn Gần như không còn
3 Chất cặn bã và chất độc Ít hơn nhiều hơn
Tiểu luận Sử dụng bài tập tình huống rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh, SH8
Nhưng ở tiêu chí 1 hai nhóm học sinh đưa ra hai ý kiến khác nhau như sau:
- Nhóm 1 cho rằng: Nước tiểu đầu còn ít và có nhiều chất dinh dưỡng nên đậm đặc
hơn nước tiểu chính thức
- Nhóm 2: Nước tiểu chính thức trải qua quá trình hấp thụ lại và bài tiết tiếp nên
đậm đặc hơn nước tiểu đầu.
Theo em cách giải thích của nhóm nào đúng hơn?
Bước 2: Học sinh tự lực làm việc
Với tình huống này có thể để học sinh cá nhân tự suy nghĩ trả lời.
Bước 3: Thảo luận cả lớp
Trên cơ sở phân tích quá trình lọc máu, hình thành nước tiểu và so sánh lượng nước
tiểu tạo thành học sinh có thể xác định được nồng độ các chất tan trong nước tiểu đầu so
với nước tiểu chính thức.
Nếu học sinh còn lúng túng giáo viên có thể gợi ý thêm cho học sinh bằng một số câu
hỏi sau:
- Sự tạo thành nước tiểu gồm những quá trình nào?
- Để tạo thành nước tiểu chính thức phải trải qua quá trình gì?
- Thành phần các chất được hấp thụ lại và bài toết tiếp là gì?
- Quá trình hấp thụ lại nước của thận có ý nghĩa như thế nào đối với sự sống của
cơ thể?
- Mỗi ngày lượng nước tiểu đầu và nước tiểu chính thức được tạo thành khi lọc
1440 lít máu là bao nhiêu?
Bước 4: Giáo viên kết luận
+ Sự tạo thành nước tiểu gồm 3 quá trình liên tiếp nhau là:
- Quá trình lọc máu và tạo thành nước tiểu đầu diễn ra ở cầu thận

máu
Sự khác biệt về cấu tạo Giải thích
Động mạch
Thành có 3 lớp với lớp mô liên kết và lớp
cơ trơn dày hơn của tĩnh mạch, lòng mạch
hẹp hơn tĩnh mạch
Thích hợp với chức năng dẫn
máu từ tim đến các cơ quan
với vận tốc cao, áp lực lớn
Tĩnh mạchThành có 3 lớp nhưng lớp mô liên kết và
lớp cơ trơn mỏng hơn của động mạch
Thích hợp với chức năng dẫn
máu từ khắp tế bào của cơ
thể về tim với vận tốc và áp
lực nhỏ
Lòng rộng hơn của động mạch
Có van 1 chiều ở những nơi máu chảy
ngược chiều trọng lực
Mao mạchNhỏ và phân nhiều nhánh
Thích hợp với chức năng tỏa
rộng tới từng tế bào của các
mô, tạo điều kiện cho sự trao
đổi chất với các tế bào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status