SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG, NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ. - Pdf 26

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO QUỲ HỢP
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN – KINH NGHIỆM:
“SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
ĐỂ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG, NĂNG LỰC HỌC SINH
TRONG GIẢNG DẠY MÔN GDCD THCS.”
Bộ môn: GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Quỳ Hợp, tháng năm 2015
1
MỤC LỤC
Mục Trang
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.
1. Cơ sở lý luận :
2. Cơ sở thực tiễn.
1
1
2
II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1. Nhiệm vụ của đề tài:
2. Phương pháp nghiên cứu:
3. Đối tượng nghiên cứu:
4. Thời gian thực hiện :
5. Kết quả nghiên cứu
6. Thực trạng:
7. Giải pháp kinh nghiệm.
8. Kết quả đạt được:
9. Bài học kinh nghiệm.
3
3
4
4

Thứ hai: Một số các dữ liệu, kiến thức, bài tập chưa phù hợp với thực tế của
cuộc sống, của xã hội địa phương. Bên cạnh đó bản thân một số giáo viên dạy môn
GDCD còn là giáo viên dạy kèm, dạy thêm - chéo môn nên còn xem nhẹ coi là môn
phụ, không có kiến thức bộ môn, thiếu phương pháp dẫn đến thiếu hứng thú trong
giảng dạy, ít đầu tư vào chuyên môn. Đến lớp chỉ truyền thụ những kiến thức có sẵn
trong sách giáo khoa, nặng về phương pháp dạy học truyền thống, ít đổi mới phương
pháp dạy học dẫn đến tiết học khô khan, học sinh thụ động, khó hình thành các kĩ
năng và năng lực dẫn đến dễ nhàm chán và ngại học. Vì vậy, nhằm phát huy tính tích
cực, hình thành và phát triển các kĩ năng, năng lực của học sinh, để học sinh đóng vai
trò trung tâm trong các tiết học đòi hỏi mối giáo viên dạy môn GDCD cần phải đổi
mới phương pháp dạy học.
Với đặc trưng của môn học là một môn khoa học, vấn đề đặt ra là làm thế nào
để nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học của thầy và trò đó là vấn đề hết sức quan
trọng. Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy bộ môn GDCD, bản thân tôi
luôn suy nghĩ, trăn trở để tìm ra những phương pháp dạy học nhằm gây hứng thú cho
3
học sinh khi học bộ môn của mình để đạt kết quả cao. Đó cũng là vấn đề được giáo
dục quan tâm đặc biệt hiện nay. Qua quá trình tham gia tập huấn, giảng dạy và nghiên
cứu, tìm tòi thực hiện việc sử dụng bài tập tình huống-tình huống có vấn đề trong
giảng dạy môn GDCD, bản thân tôi đã đúc kết thành đề tài:
“SỬ DỤNG BÀI TẬP TÌNH HUỐNG ĐỂ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG, NĂNG
LỰC HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN GDCD THCS. ”
2. Cơ sở thực tiễn.
a) Thuận lợi:
Hiện tại, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là các phương tiện
thông tin, truyền thông đại chúng như báo viết, báo đài, đặc biệt là báo mạng. Nên
nguồn tư liệu phục vụ dạy – học như bài tập tình huống từ Internet, các phương tiện
thông tin đại chúng cũng trở nên phong phú đa dạng.
- GV ngày nay được trang bị nhiều kiến thức mới, được tập huấn qua nhiều lớp
thay sách giao khoa. Có điều kiện trao đổi, dự giờ các đồng nghiệp.

- GV sử dụng bài tập tình huống đúng mục đích hoạt động.
- Sử dụng linh hoạt, khoa học các bài tập tình huống vào quá trình lên lớp, để
tạo hứng thú môn học cho HS.
- Sử dụng đúng thời điểm: vào bài, dạy nội dung, luyện tập hay củng cố bài
học, kiểm tra đánh giá HS.
2. Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp cụ thể là:
- Phương pháp điều tra.
5
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp.
- Phương pháp thống kê.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu trên các đối tượng là học sinh lớp 8, 9 ở các khóa học từ
năm học 2012-2013 đến HKI năm học 2014-2015 tại đơn vị trường chúng tôi.
4. Thời gian thực hiện :
Bắt đầu nghiên cứu từ năm học 2012-2013, thực hiện áp dụng 2013-2014, học kì I
năm học 2014-2015.
5. Thực trạng:
- Tình trạng phổ biến trong các tiết học môn GDCD chưa sinh động, chưa cuốn
hút trong nhận thức của các em học sinh và gia đình chỉ tập trung đầu tư vào các
môn học như Toán. Vật lí, Sinh học, Ngữ văn, Tiếng Anh, các môn thi tuyển sinh.
Các em xem nhẹ môn GDCD, đến lớp chỉ học qua loa, học một cách đối phó Trong
giờ học, học sinh ít hoạt động nếu có thì chỉ tập trung trả lời một số câu hỏi do giáo
viên đưa ra. Ít có những giờ học được tiến hành với các phương pháp dạy học sinh
động, hấp dẫn và sát với thực tiễn. Chính vì vậy học sinh chưa thực sự tự lực phát
hiện và giải quyết vấn đề, ít có cơ hội để thể hiện thái độ, lập trường của mình, giáo
viên chưa gây được hứng thú học tập cho học sinh, học sinh chưa thực sự hứng thú
học tập. Do đó chất lượng bộ môn chưa được cao, luôn bị coi là môn học phụ.
Qua điều tra về mức độ hứng thú học tập và kĩ năng xử lí tình huống có vấn

đổi mới phương pháp dạy học và đã đạt được những kết quả nhất định. Cùng với
phong trào đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường, bộ môn GDCD mặc
dù là một bộ môn khoa học xã hội với đặc trưng đa dạng, phong phú về nội dung,
thiên về lí luận, nội dung kiến thức mang tính trừu tượng cao. Song cán bộ giáo
viên chúng tôi đã không ngừng cố gắng đổi mới phương pháp dạy học. Từ vận
dụng các phương pháp dạy học mới như đàm thoại, nêu gương, , phương pháp
làm việc theo nhóm đặc biệt chú trọng vào phương pháp nêu tình huống có vấn
đề.
6 . Kết quả nghiên cứu:
* Những khó khăn khi giáo viên thực hiện biên soạn và sử dụng bài tập tình
huống:
- Nhiều GV chưa nhận ra hết tính thực tiễn của những bài tập tình huống.
7
- GV ít khi biên soạn những bài tập tình huống phù hợp với đặc thù của trường của
lớp cũng như những bài tập mang tính thực tế cao.
* Định hướng đổi mới:
- Hiện nay đang tiến hành đổi mới kiểm tra đánh giá cho nên trong những đề kiểm
tra thường xuyên và kiểm tra định kỳ luôn có những bài tập tình huống để các em giải
quyết.
- Môn GDCD lần đầu tiên cho tiến hành thi HS giỏi vòng huyện và vòng tỉnh.
Những đề thi này luôn yêu cầu HS phải xử lý tình huống.
7 . Biện pháp giải quyết:
a/ Khái niệm tình huống:
Hiện nay, trong khoa học giáo dục có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tình
huống:
+ Tình huống là những câu chuyện thực tế với những thông điệp nhằm mục đích
giáo dục.
+ Tình huống là những thông tin trong đó có chứa đựng mâu thuẫn nhận thức
(muốn biết mà chưa biết) không thể giải quyết chỉ bằng sự tái hiện.
+ Một tình huống tốt và hay không dừng lại ở sự mô tả chung chung. Đó là sự sắp

( Các loại xe ô tô, gắn máy cần phải đăng ký vì: Nó giúp xác định quyền sở hửu
tài sản của công dân, bên cạnh đó nó sẽ giúp cho nhà nước ta có thể quan lý được
lượng xe lưu thông. Khi xảy ra chuyện thì các CSGT sẽ nhanh chóng xác định được
chủ xe, địa chỉ cư trú của chủ xe.)
9
- Bài tập tình huống hiện nay rất đa dạng và phong phú bởi tài liệu nghiên cứu và
các phương tiện truyền thông hiện nay đang thực hiện tuyên truyền Pháp luật bằng
những tình huống cụ thể như đài phát thanh truyền hình Vĩnh Long với chuyên mục
“Ai đúng? Ai sai?” là một ví dụ.
Ví dụ: Chị Hiền và anh Thiện yêu nhau đã được hai năm và hai người bàn chuyện
kết hôn với nhau. Thế nhng, bố chị Hiền thì lại muốn chị kết hôn với anh Thanh
là người cùng xóm nên đã kiên quyết phản đối việc này. Không những thế, bố còn
tuyên bố sẽ cản trở đến cùng nếu chị Hiền cứ nhất định xin kết hôn với anh
Thiện.
Trình bày mãi với bố không được, cực chẳng đã, chị Hiền đã nói :
- Nếu bố cứ cản trở con là bố vi phạm pháp luật đấy!
Giật mình, bố hỏi chị Hiền:
- Tao vi phạm thế nào? Tao là bố thì tao có quyền quyết định việc kết hôn của
chúng mày chứ!
Khi ấy, chị Hiền trả lời:
- Bố ơi ! Khoản 3 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Việc kết
hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào;
không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”. Thế bố cản trở con thì bố có vi phạm pháp
luật không nhỉ ?
Câu hỏi :
1. Hành vi cản trở của bố chị Hiền có đúng pháp luật không ?
2. Tại sao chị Hiền phải nêu ra Luật Hôn nhân và gia đình để thuyết phục bố ?
3. Trong trường hợp này, pháp luật có cần thiết đối với công dân không ?
c/ Định hướng biên soạn.
+ Yêu cầu của bài tập tình huống:

+ Cấu trúc bài tập tình huống:
- Tình huống có vấn đề:
+ Vấn đề mà tình huống đặt ra phải gắn với nội dung bài học, các em giải quyết
tình huống phải căn cứ vào những kiến thức được thể hiện trong chuẩn kiến thức, kĩ
năng hiện nay.
+ Vấn đề phải gắn với thực tiễn cuộc sống, có thể xảy ra, để từ đó các em cảm thấy
mình đang trải nghiệm một thực tế.
Ví dụ: Em là một lớp trưởng, có một người anh ruột lớn hơn một tuổi học cùng
lớp và học tương đối yếu nhưng được cái là tương đối hiền. Có lần anh của em vi
phạm làm ảnh hưởng đến thi đua của lớp, điều đó chỉ có mình em biết. Em sẽ sử
dụng phẩm chất đạo đức nào để xử lí và xử lí như thế nào để có lợi cho lớp mà
không mất tình anh em?
Với tình huống trên vấn đề đặt ra phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng cũng như
có thể xảy ra trong cuộc sống của các em.
+ Tránh những vấn đề vượt chuẩn kiến thức, kĩ năng; cũng như những vấn đề xa
rời thực tế cuộc sống của các em.
Ví dụ: Thi học kỳ I sắp đến nhưng Long vẫn còn ham chơi, chưa muốn học bài.
Cũng phải thôi vì Long vốn là học sinh thông minh và có thói quen trước khi thi
Long thức trắng đêm để học thuộc lòng bài học và thi thường đạt kết quả khả quan.
Sau khi thi mặc dù hơi mệt thậm chí ngã bệnh nhưng chỉ bồi bổ vài ngày là khỏe.
Em suy nghĩ gì về việc làm của Long.
Với vấn đề được đặt ra trong tình huống trên, ta thấy học sinh sẽ không biết vận
dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng nào để giải quyết; hoặc trong cuộc sống có ai làm như
thế không?
- Yêu cầu giải quyết:
12
+ Yêu cầu cũng phải đảm bảo tính khoa học: rõ ràng, dễ hiểu; không dài dòng,
tránh tối nghĩa.
+ Yêu cầu cũng cần đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng, bởi học sinh hiện nay vẫn
thường học theo những gì GV hướng dẫn (trong chuẩn kiến thức, kĩ năng)

như: tích cực tham gia các hoạt động của tập thể, không bao che cho những việc làm
sai trái, bảo vệ lẽ phải, công bằng khi nhận xét, đánh giá người khác Từ đó, các em
sẽ có phản ứng và chú ý đến bài mà các em chuẩn bị học.
Ví dụ: Hoặc khi dạy bài “Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí”, ta có thể lấy
tình huống: Một thanh niên không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, bị cảnh sát giao
thông yêu cầu dừng xe và phạt 200.000đ. Theo em, vì sao anh thanh niên lại bị xử phạt
như vậy?
Đây là tình huống mà các em, người thân trong gia đình khi tham gia giao thông
thường gặp và bị xử phạt nhưng hình như nguyên nhân bị phạt ít ai quan tâm đến. Chắc
chắn các em sẽ chú ý đến bài học này. Từ đó GV chốt ý đề vào bài mới, như: Anh
thanh niên do không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy nên đã vi phạm pháp luật hành
chính vì đã vi phạm quy định của pháp luật giao thông đường bộ. Khi bị cảnh sát giao
thông phạt tiền, anh thanh niên đã phải chịu trách nhiệm hành chính về hành vi vi
phạm hành chính của mình.
+ Dùng để minh hoạ cho nội dung bài học:
- Bước này mặc dù GV phải khai thác phần đặt vấn đề để HS hiểu được nội dung
bài học, nhưng có những vấn đề không phù hợp với tình hình lớp học, trường học hay
14
ở địa phương. Cho nên, GV phải linh hoạt thay đổi một phần đặt vấn đề khác phù hợp
hơn,
Ví dụ: khi dạy bài “Quyền sở hữu tài sản của công dân và nghĩa vụ tôn trọng tài sản
của người khác” (GDCD 8) ta có thể đổi phần đặt vấn đề như sau:
Cho tình huống:
C và M ngồi chung bàn. Trong giờ học, C thường lấy bút kẻ chia đôi trên bàn ghế và
khẳng định với M: Đây là địa phận của C, cấm mọi người xâm phạm vào.
a. Em có đồng ý với việc làm đó của C không? Vì sao?
b.Tại sao đó là tài sản chung chứ không phải tài sản của cá nhân?
c. Quyền sở hữu tài sản của công dân gồm có những quyền nào?
d. Công dân có quyền sở hữu những loại tài sản nào?
e. Đối với tài sản của người khác công dân phải làm gì?

nước
Tắc cống,
ngập nước, ô
nhiễm môi
trường
x
2/ Lê cùng bạn tham gia
đua xe máy, vượt đèn đỏ,
gây tai nạn giao thông.
x
Đua xe,
vượt đèn đỏ
Gây tai nạn,
thiệt hại về
người và của
x
3/ A là bệnh nhân tâm
thần, khi lên cơn đã đập
phá nhiều tài sản quý của
bệnh viện.
Đập phá Thiệt hại
nhiều tài sản
quý
x
4/ Thiếu tiền tiêu xài, N
cướp giật dây chuyền, túi
xách của người đi dường.
x
Cướp tài sản Gây tổn thất
tài sản cho

- Vì sao các hành vi 1,2,4,5,6 là hành vi vi phạm pháp luật?
- Vì sao hành vi 3 không vi phạm pháp luật?
Sau khi HS trả lời: Vì các hành vi 1, 2, 4, 5, 6 là hành vi trái Pháp luật, có lỗi và do
người có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình thực hiện gây hậu quả
16
xấu cho xã hội. Hành vi 3 không vi phạm pháp luật mặc dầu hành vi của anh A là có
lỗi vì anh A mắc bệnh tâm thần và không cố ý, không ý thức được hành vi của mình.
GV giảng giải: Người có khả năng nhận thức, điều khiển được việc làm của mình,
được tự do lựa chọn cách ứng xử và chịu trách nhiệm về hành vi của mình được gọi là
người có năng lực trách nhiệm pháp lí.
Năng lực trách nhiệm pháp lí gồm hai yếu tố :
+ Khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và độ tuổi của một người. Ví dụ: Một
em bé lên 5 tuổi nghịch lửa làm cháy gian bếp của nhà hàng xóm. Vì em bé mới 5
tuổi nên em bé chưa có năng lực trách nhiệm pháp lí vì vậy hành vi làm cháy gian bếp
của nhà hàng xóm là không vi phạm Pháp luật.
+ Độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí trong các lĩnh vực khác nhau được qui định
khác nhau.
Sau đó GV có thể bổ sung thêm tình huống sau để nhấn mạnh và khắc sâu kiến
thức cho các em: Khôi và Phương bàn nhau về việc lấy trộm xe đạp của một người
trong xóm. Quân theo dõi, nghe được câu chuyện này đã khẳng định Khôi và
Phương vi phạm Pháp luật và gọi điện cho công an đến bắt họ ngay lập tức. Em hãy
cho biết ý kiến của mình về trường hợp này?
Đáp án tình huống: Hành vi của Quân là sai vì Khôi và Phương không vi phạm
pháp luật vì chưa thực hiện hành vi lấy trộm.
GV nhấn mạnh: Hành vi có thể là một hành động cụ thể (ví dụ: đi ăn trộm) hoặc
không hành động (ví dụ: thấy người bị tai nạn nhưng không làm gì để cứu giúp). Nếu
chỉ là ý định, ý tưởng nào đó thì không thể bị coi là vi phạm pháp luật.
GV giảng giải thêm: Ý định, ý tưởng phạm tội trong suy nghĩ không phải là hành
vi vi phạm pháp luật, nhưng nếu đem ý định đó ra đe dọa người khác thì bị coi là hành
vi vi phạm pháp luật vì sự đe dọa là ý định được thể hiện bằng lời nói và hành động

8. Kết quả đạt được:
Trong quá trình giảng dạy và vận dụng bài tập tình huống trong các tiết dạy
GDCD 9, tôi nhận thấy:
- Bài tập tình huống luôn đem đến cho HS hứng thú học tập, đặc biệt là trong trong
các tiết học về pháp luật.
- Qua các tình huống sát với thực tế đời sống, các em cảm thấy tự tin hơn trong cuộc
sống cũng như không vi pháp các chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
- Kết quả khảo sát hứng thú học tập môn GDCD của học sinh khi được giáo viên
thường xuyên sử dụng bài tập tình huống.
Bởi thế, một khi giáo viên và học sinh xác định đúng nội dung công việc của
mình thì tiết học sẽ diễn ra một cách thoải mái, thành công và có hiệu quả.
* Kết quả thu được thông qua các tiết dạy:
+ Công việc của người giáo viên nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
+ Học sinh tự làm chủ kiến thức bài học một cách độc lập, mỗi cá nhân học sinh
đều biết làm việc và hiểu bài ngay tại lớp.
+ Qua mỗi tiết học, các em cảm thấy mình có ích và có trách nhiệm hơn với bản
thân, với nhóm và với tập thể.
+ Các giờ dạy đảm bảo về mặt thời gian, ý thức học tập, xây dựng bài của mỗi
học sinh được phát huy hết khả năng dẫn đến chất lượng giáo dục có hiệu quả cao
hơn. Học sinh hứng thú với bài giảng có ứng dụng CNTT.
* Từ khi áp dụng phương pháp dạy học ứng dụng CNTT trên bản thân tôi đã
thu được những kết quả như sau:
* Bảng điều tra về mức độ kĩ năng xử lí tình huống có vấn đề trong môn GDCD:
- Năm học 2013-2014 trong giảng dạy bộ môn GDCD lớp 8B; 9B, 9C:
Lớp Số học sinh
Có kĩ năng xử lí tình
huống
Kĩ năng xử lí tình huống
yếu
19

8B 22 2 9,1 11 50,0 9 40,9 0 0,0
Tổng số 48 11 22,9 22 45,8 15 31,3 0 0,0
- Khối lớp do các giáo viên khác giảng dạy ở năm học 2013-2014:
Lớp Số học sinh
Giỏi Khá TB Yếu
SL % SL % SL % SL %
20
9A 25 2 8,0 8 32,0 12 48,0 3 12,0
9B 28 2 7,1 9 32,1 15 53,6 2 7,1
8A 24 0,0 10 41,7 13 54,2 1 4,2
Tổng số 77 4 5,1 27 35,0 40 51,9 6 8,0

*Kết quả chất lượng HKI 2014-2015 bộ môn GDCD lớp 8,9.
+ Chất lượng mũi nhọn:
- Năm học 2014-2015 tôi đã bồi dưỡng và đưa tiếp 02 học sinh lớp 9 ( trên cơ sở
năm học 2013-2014) tham dự kì thi học sinh giỏi huyện môn GDCD, kết quả
điểm đạt 01 em ( trên 10 điểm theo thang điểm 20); được xét công nhận HSG
cấp huyện 01 em (đạt giải nhì cấp huyện).
+ Chất lượng đại trà:
- Khối lớp do tôi trực tiếp giảng dạy ở năm học 2014-2015:
Lớp Số học sinh
Khá Giỏi TB Yếu
SL % SL % SL %
8A 26 20 76,6 6 23,4 0 0
8B 24 20 83,3 4 16,7 0 0
Tổng số 50 40 80 10 20 0 0
- Khối lớp do các giáo viên khác giảng dạy ở năm học 2014-2015:
Lớp Số học sinh
Khá Giỏi TB Yếu
SL % SL % SL %

mực đạo đức, pháp luật. Hình thành niềm tin có cơ sở khoa học về lý tưởng cao đẹp
mà con người luôn luôn vươn tới Chân - Thiện - Mỹ. Sử dụng bài tập tình huống
trong các tiết dạy GDCD là cần thiết đối với người dạy lẫn người học. Đặc biệt trong
tình hình xã hội hiện nay, các tình huống sẽ giúp các em tự tin hơn trong cuộc sống.
- Tình huống phải thật sự có vấn đề để kích thích tư duy của HS cũng như phát huy
tính tích cực, chủ động của người học.
22
- Giáo viên dạy GDCD nên linh động trong việc sử dụng bài tập tình huống để bài
tập tình huống phát huy hết vai trò của mình trong tiết dạy.
Sự ra đời của phương pháp mới bao giờ cũng gặp những khó khăn, đòi hỏi phải có
ý thức và quyết tâm tìm tòi, thử nghiệm với những bước đi vững chắc mới có thể đạt
được hiệu quả cao và là một thách thức đòi hỏi cả giáo viên lẫn học sinh cần phải biết
học hỏi, khai thác, ứng dụng để biến nó trở thành công cụ đắc lực góp phần đổi mới
phương pháp dạy – học có hiệu quả.
2. Những kiến nghị và đề xuất
a. Đối với giáo viên:
- Giáo viên dạy GDCD nên thường xuyên biên soạn và sử dụng bài tập tình
huống trong giờ dạy để tăng tính hiệu quả cho giờ dạy.
- Trong kiểm tra đánh giá HS nên có ít nhất một câu hỏi là bài tập tình huống để
học sinh vận dụng kiến thức mà mình đã học.
b. Đối với nhà trường:
- Mua sắm thêm tài liệu tham khảo, đầu tư cơ sở vật chất và đồ dùng dạy học nhất
là các tài liệu và các thiết bị tin học phục vụ cho việc dạy và học.
c. Đối với địa phương:
- Đầu tư cơ sở vật chất trường lớp kịp thời trong việc dạy và học.
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1/ Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn GDCD THCS – Nguyễn
Hữu Khải (chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục - năm 2009.
2/ Dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn GDCD 8, 9 – Đinh Văn Đức ( Tổng
chủ biên) - Nhà xuất bản Đại học sư phạm - năm 2012.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status