ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ MẬN
RÈN LUYỆN TƢ DUY VĂN HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG BẰNG CÂU HỎI LIÊN TƢỞNG, TƢỞNG TƢỢNG
TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM "CHÍ PHÈO" CỦA NAM CAO
(SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 BAN CƠ BẢN).
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành : LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số : 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học : GS.TS Nguyễn Thanh Hùng
HÀ NỘI - 2010
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài "Rèn luyện tư duy văn học
cho học sinh Trung Học Phổ Thông bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng
trong dạy tác phẩm "Chí Phèo" của Nam Cao (Sách giáo khoa Ngữ văn 11
ban Cơ Bản), em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ đạo rất nhiệt tình; sự quan
tâm, động viên rất lớn của GS.TS Nguyễn Thanh Hùng - người thầy trực tiếp
hướng dẫn đề tài luận văn của em. Em còn nhận được sự giảng dạy nhiệt tình,
tâm huyết của các thầy cô giáo chuyên ngành Lí luận và phương pháp giảng
dạy Ngữ Văn - Trường Đại Học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội. Sự
giảng dạy của các thầy cô đã cung cấp cho em có phương pháp tư duy, lý luận
khoa học, cũng như những kiến thức bổ ích giúp em vận dụng vào đề tài luận
11
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................
5. Đóng góp mới của luận văn ..................................................................
6. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................
7. Cấu trúc của luận văn ...........................................................................
12
12
12
13
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ........................................
1.1. Tư duy văn học ..................................................................................
1.1.1 Tư duy .............................................................................................
1.1.2. Tư duy văn học ...............................................................................
1.2. Rèn luyện tư duy văn học bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng .......
1.2.1. Liên tưởng, tưởng tượng ................................................................
1.2.2. Các loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm
văn chương ...............................................................................................
1.2.3.Những điều cần lưu ý khi giáo viên xây dựng câu hỏi liên tưởng,
tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương .....................................
1.2.4. Những điều cần lưu ý khi giáo viên sử dụng câu hỏi liên tưởng,
tưởng tượng trong quá trình lên lớp ..........................................................
Chƣơng 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN TƢ
DUY VĂN HỌC CHO HỌC SINH THPT BẰNG CÂU HỎI LIÊN
TƢỞNG, TƢỞNG TƢỢNG ..................................................................
2.1. Thực tiễn tư duy văn học của học sinh THPT và vấn đề rèn luyện tư
duy văn học ..............................................................................................
2.1.1.Thực tiễn tư duy văn học của học sinh THPT qua sự liên tưởng,
47
2.3.2. Nhược điểm ....................................................................................
47
2.3.3. Nguyên nhân của tình trạng trên .....................................................
48
2.3.4. Cách khắc phục ..............................................................................
49
Chƣơng 3: THIẾT KẾ VÀ THỂ NGHIỆM DẠY HỌC TÁC PHẨM
"CHÍ PHÈO" CỦA NAM CAO ............................................................
51
3.1. Thiết kế giáo án thể nghiệm ...............................................................
3.1.1. Mục đích thiết kế ............................................................................
3.1.2. Nội dung thiết kế ..........................................................................
3.1.3. Ý nghĩa giáo án thể nghiệm ............................................................
51
51
51
51
82
84
KẾT LUẬN .............................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................
PHỤ LỤC
87
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Từ việc đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học hướng đến tư duy học sinh
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm
nền tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức. Thế giới đang hướng tới cuộc cách
mạng công nghiệp, lấy tri thức làm động lực phát triển. Sự phát triển của khoa
học công nghệ đã làm thay đổi sâu sắc nội dung phương pháp giáo dục trong
các nhà trường, đồng thời đòi hỏi giáo dục phải cung cấp được nguồn nhân
lực có trình độ cao. Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có
ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất
nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây
dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội. Chính vì vậy,việc đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục Việt Nam đã giành
được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, nhà nước, các ban ngành, các nhà
nghiên cứu, các nhà sư phạm.Và trong việc đổi mới phương pháp giáo dục,
mục đích rèn luyện tư duy học sinh đều được đề cập đến. Trong Luật Giáo
Dục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua
ngày 14 tháng 06 năm 2005 tại Điều 5 nêu rõ “ Phương pháp giáo dục phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi
học phổ thông mới được thực hiện trên toàn quốc từ năm học 2006-2007 phản
ánh những thành tựu tiên tiến của các ngành khoa học Tiếng Việt, Văn học và
Làm văn những năm đầu thế kỷ XXI, phản ánh thành tựu của các ngành Tâm
lí học, Lí luận dạy học hiện đại và phản ánh quan điểm dạy học hướng vào
người học.“Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn” xác định một
trong những mục tiêu của môn Ngữ Văn là : “Hình thành và phát triển ở học
sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ;
phương pháp học tập tư duy,” [4, tr. 5]. Như vậy từ việc thay đổi lại sách giáo
khoa, chương trình để rồi xác định mục tiêu môn Ngữ Văn thấy rõ được hơn
tầm quan trọng của việc rèn luyện tư duy học sinh.
3
1.3. Từ đặc trưng của tác phẩm văn học và vấn đề rèn luyện tư duy văn học
Được coi là ngành nghệ thuật “ trò diễn bằng ngôn từ”, tác phẩm văn
học thể hiện đời sống tinh thần qua hình tượng. Bêlinxki, nhà phê bình Nga
nổi tiếng thế kỷ XIX viết “ Nhà triết học nói bằng phép tam đoạn luận, nhà
thơ nói bằng các hình tượng và bức tranh.” [ 14, tr.26 ]. Hình tượng là
phương tiện đặc thù của tác phẩm văn học để phản ánh hiện thực khách quan,
nó là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ. PGS Nguyễn Viết Chữ nhận định “ Có
thể nói rằng: hình tượng quyết định sự tồn vong của nghệ thuật văn chương.”
[8, tr. 21].Và với vị trí là môn nghệ thuật thì kiểu tư duy đặc thù của môn Ngữ
Văn thiên về tư duy hình tượng chứ không phải kiểu tư duy lôgic .Vậy khi
đứng trước một tác phẩm giàu hình tượng học sinh có muôn hình vạn trạng
cách cảm nhận, suy nghĩ , phát hiện, khám phá nghĩa là có sự tư duy văn học
khác nhau. Điều quan trọng là giáo viên Ngữ Văn cần phải biết đọc hình
tượng, nói hình tượng để rèn cho học sinh nghe hình tượng, nói hình tượng,
viết hình tượng, nghĩa là rèn cho học sinh biết tư duy văn học góp phần khám
phá giá trị tác phẩm một cách đúng đắn. Mặt khác lí luận văn học hiện đại đã
của thầy và việc trả lời của trò càng được quan tâm. Câu hỏi sẽ có tác dụng
kết nối các khâu trong quá trình dạy học.
Mặt khác việc chuyển đổi nội dung kiến thức bài học thành một hệ
thống câu hỏi có tác dụng phát huy trí lực, khơi dậy sự tò mò tìm hiểu, hứng
thú tiếp nhận của học sinh, học sinh chủ động khám phá kiến thức. Trong
trong giờ dạy tác phẩm văn chương, câu hỏi được đưa ra dưới sự hướng dẫn
của giáo viên, học sinh chú ý suy nghĩ trả lời, giờ dạy trở nên hào hứng, sinh
động, tạo nên bầu không khí văn chương. Khi đó học sinh thực sự trở thành
chủ thể của quá trình nhận thức, chất lượng, hiệu quả giờ dạy tăng lên rất
nhiều. Bài học không đi vào lối mòn kiểu thuyết trình nặng về giảng văn
truyền thống: Thầy nghĩ, thầy cảm nhận rồi thầy nói cái nghĩ, cái cảm ấy của
mình, học sinh nghe rồi ghi lại cái nghĩ, cái cảm ấy của thầy. Hệ thống câu
hỏi được tiến hành trong giờ dạy tác phẩm văn chương cũng giúp học sinh
hình thành và rèn luyện phương pháp tự tìm hiểu, tự khám phá và cảm nhận
5
về một tác phẩm văn học. Giáo viên cần nhận thức được có bao nhiêu học
sinh thì có bấy nhiêu cách suy nghĩ, cảm nhận văn chương. Giáo viên không
thể áp đặt tất cả mọi điều vào trong đầu óc học sinh. Vậy làm cách nào để
giáo viên khơi dậy sự suy nghĩ, tư duy tích cực nơi học sinh để học sinh
chiếm lĩnh tác phẩm. Không còn cách thức nào khác là giáo viên phải sử dụng
hệ thống câu hỏi. Nó cũng giúp giáo viên xây dựng phương án dạy học tối ưu,
thích hợp với hoàn cảnh và đối tượng dạy học.
Khi nghiên cứu đặc điểm của tư duy người ta nhận thấy rằng tư duy chỉ
nảy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề. Đó là những tình huống mà ở đó nảy
sinh những mục đích mới và những phương tiện, phương pháp hoạt động cũ
đã có trước đây trở nên không đủ ( mặc dù là cần thiết) để đạt được mục đích
đó. Nhưng muốn kích thích được tư duy thì hoàn cảnh có vấn đề phải được cá
Loại câu hỏi này càng phát huy trí lực, khả năng của học sinh trong thời đại
ngày nay. Dưới ánh sáng của tâm lý học hiện đại còn cho thấy: Học sinh bậc
THPT đã hoàn toàn làm chủ nhận thức của mình, cảm giác và tri giác đạt đến
độ phát triển cao, tri giác chủ động chiếm ưu thế và đạt tới mức rất cao, sự
quan sát trở nên có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và toàn diện hơn. Ở
lứa tuổi này học sinh có tính độc lập, tích cực thể hiện sự sáng tạo lớn, có
sức khái quát cao và có xu hướng đi sâu giải thích các nguyên nhân, các hiện
tượng, có kết luận sâu sắc và học sinh nhanh chóng tiếp thu cái mới cũng
như các phạm trù đạo đức, thẩm mĩ… Tất cả tạo tiền đề cho tư duy lí luận
phát triển
1.6. Từ hiệu quả đạt được khám phá sâu sắc hơn giá trị tác phẩm “Chí
Phèo” của Nam Cao trong quá trình dạy học.
Tác phẩm “ Chí Phèo” của Nam Cao được nghiên cứu dưới nhiều góc
độ, được giảng dạy bằng nhiều phương pháp và tưởng tác phẩm này không
còn mảnh đất trống để thế hệ sau nghiên cứu. Song từ thực tiễn giảng dạy tác
phẩm này khi giáo viên sử dụng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng học sinh
được rèn luyện tốt về tư duy văn học, học sinh khám phá sâu sắc hơn giá trị
7
tác phẩm “Chí Phèo” đồng thời dẫn đến hiệu quả về việc đổi mới phương
pháp dạy học.
Xuất phát từ những lý do như đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn đề tài
“ Rèn luyện tư duy văn học cho học sinh Trung học phổ thông bằng câu hỏi
liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao
(Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 ban Cơ Bản)”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu tư duy văn học của học sinh không còn là vấn đề quá mới
mẻ. Ở từng giai đoạn lịch sử giáo dục khác nhau, tương ứng với nhiệm vụ,
sao để cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm phát huy năng lực cảm thụ văn
học và tư duy hình tượng cho học sinh, lưu ý việc đảm bảo cân bằng giữa
phân tích lôgic và cảm thụ. Gần đây trong chuyên luận "Văn chương bạn đọc
sáng tạo", GS Phan Trọng Luận tiếp tục bàn đến vấn đề năng lực văn học,
việc định hướng phát triển chúng cho học sinh phổ thông. Nhìn chung tất cả
những vấn đề được bàn đến là để phục vụ nhằm nâng cao hiệu quả của công
việc giảng văn của người giáo viên đến học sinh trong cơ chế giảng văn.
Trong công trình của mình tuy GS Phan Trọng Luận chưa bàn sâu đến vai trò
của hệ thống câu hỏi đặc biệt là loại câu hỏi liên tưởng tưởng tượng nhằm rèn
luyện tư duy văn học cho học sinh THPT nhưng những vấn đề lí luận trong
các công trình của GS giúp ích cho chúng tôi rất lớn trong việc tìm hiểu về tư
duy văn học.
+ Giáo trình phương pháp dạy- học văn: Các tác giả đã dành một
chương để bàn về hệ thống cấc trúc năng lực văn cần hình thành cho học sinh.
Đây cũng được coi là nguồn tài liệu bổ ích cho chúng tôi khi nghiên cứu về tư
duy văn học.
+ Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
(TS Nguyễn Trọng Hoàn) thực sự là nguồn tài liệu bổ ích cho đề tài của
chúng tôi. Công trình đưa ra một hướng tiếp cận bài bản về vấn đề rèn luyện
tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương.Từ những
tiền đề khoa học của hoạt động tâm lí, tâm lý sáng tạo nghệ thuật, tính chất
9
đặc thù của tư duy cảm thụ và tiếp nhận văn học, đến việc khảo sát hiện tượng
liên tưởng, tưởng tượng của học sinh, tác giả đi sâu phân tích đối tượng, mục
đích, xác định phương thức tiếp nhận thẩm mĩ, cơ chế liên tưởng, tưởng tượng
trong dạy học tác phẩm văn chương.Quan trọng hơn trong khi đưa ra những
giải pháp cụ thể rèn luyện tư duy sáng tạo, TS Nguyễn Trọng Hoàn đã đề cập
duy cho học sinh, việc sử dụng câu hỏi như một phương pháp dạy học văn
trong nhà trường và có bàn đến loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng. Song các
công trình trên hoặc là bàn theo chiều rộng hoặc chỉ điểm xuyết về câu hỏi liên
tưởng, tưởng tượng nhằm rèn luyện tư duy văn học cho học sinh. Ở đề tài này
chúng tôi muốn đi hệ thống và tìm hiểu sâu hơn về tư duy văn học; hiện tượng
liên tưởng, tưởng tượng; về loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng nhằm giúp
giáo viên nhìn nhận rõ hơn về vai trò của loại câu hỏi này trong việc rèn luyện
tư duy nói chung và rèn luyện tư duy văn học nói riêng cho học sinh THPT.
+ Các loại giáo án, thiết kế bài giảng tác phẩm "Chí Phèo" của Nam
Cao đề cập đến phương pháp giảng dạy tác phẩm cũng như cung cấp hệ thống
câu hỏi trong khi giảng dạy nhưng chưa chú ý tới việc sử dụng loại câu hỏi
liên tưởng tưởng tượng. Ở đề tài này chúng tôi áp dụng việc sử dụng loại câu
hỏi liên tưởng tưởng tượng trong việc dạy học tác phẩm "Chí Phèo" của Nam
Cao một cách cụ thể.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Câu hỏi liên tưởng tưởng tượng trong dạy học tác phẩm văn chương.
- Tư duy văn học của học sinh THPT.
- Tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao (SGK Ngữ văn 11 ban Cơ bản của GS
Phan Trọng Luận).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Các loại câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng; cách thức soạn câu hỏi liên tưởng,
tưởng tượng trong day học tác phẩm văn chương SGK Ngữ Văn ban Cơ bản
11
và việc sử dụng câu hỏi liên tưởng,tưởng tượng khi lên lớp góp phần rèn
luyện tư duy văn học cho học sinh THPT.
- Câu hỏi liên tưởng tưởng tượng và cách thức sử dụng khi dạy học tác phẩm
Chƣơng 2 : Cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện tư duy văn học cho học
sinh THPT bằng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng.
Chƣơng 3: Thiết kế và thể nghiệm dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của
Nam Cao.
13
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tƣ duy văn học
1.1.1 Tư duy
1.1.1.1.Khái niệm tư duy
Theo từ điển Tiếng Việt tư duy là "giai đoạn cao của quá trình nhận
thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những
hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí" [49,tr. 1070].
Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong những đặc tính
của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao. Về lí thuyết Karl Marx cho
rằng " Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan
được di chuyển vào và được cải tạo/ tái tạo trong đầu óc con người dưới
dạng một sự phản ánh".
Tóm lại , tư duy là quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất
bên trong của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ có tính quy luật của sự
vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.Về mặt
bản chất, kết quả của quá trình tư duy là sự phản ánh thế giới khách quan, là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. V.I.Lênin đã từng chỉ ra
rằng:"Thế giới là một sự vận động có quy luật của vật chất và nhận thức của
chúng ta- sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên- thì chỉ có thể phản ánh tính
quy luật đó mà thôi" [14, tr.17-18]
1.1.1.2.Tư duy và ngôn ngữ
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy là một câu hỏi lâu đời. Trong qúa
tàng vô tận ấy mà ngôn ngữ không chỉ giới hạn ở chỗ trao đổi tư tưởng, tình
cảm giữa con người với nhau. Trong những hoạt động của tư duy trừu tượng,
nó vẫn giữ vai trò đặc biệt cần thiết. Vì trong thực tế hằng ngày, suy nghĩ là
mình nói với mình. Trong những lĩnh vực hết sức trừu tượng như toán học,
nhà nghiên cứu cũng phải dùng đến ngôn ngữ, Einstein cũng đã thừa nhận: "
Không có nhà bác học nào suy nghĩ bằng công thức". Người ta suy nghĩ bằng
từ, bằng cái gọi là " tiếng nói bên trong". Nhờ ngôn ngữ nên những thao tác
muôn màu vẻ của tư duy mới thực hiện và phát triển được. Trong thời đại
15
ngày nay tư duy lôgic của con người đã đạt đến một trình độ hoàn thiện phi
thường trong cách phản ánh hiện thực và có thể đi trước thực tế một bước để
có những dự kiến về tương lai. Nhưng sự phát triển này không phải là bột
phát cũng không phải là độc lập, riêng rẽ. Cùng sinh ra với ngôn ngữ, tư duy
cũng phát triển song song với nó. Những hiện tượng nhân chủng học và ngôn
ngữ học lịch sử đã chứng minh điều này.
Nếu ngôn ngữ có tác dụng đến tư duy thì ngược lại tư duy cũng ảnh
hưởng đến sự phát triển của ngôn ngữ vì cả hai chỉ lập thành một đơn vị thống
nhất. Không thể quan niệm có cái này mà không có cái kia như Mác đã chỉ
ra:" Ngôn ngữ không có tư tưởng thì không thể tồn tại, còn tư tưởng thì phải
được thể hiện trong cái chất tự nhiên của ngôn ngữ". Cho nên điều tiên quyết
cho một lời nói hình thành là nó phải có nội dung. Những âm không có nghĩa
dù đẹp đẽ đến đâu cũng không thể tồn tại vì chúng không phục vụ cho một
mục đích nào cả.
Như vậy tư duy phản ánh sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp bằng
ngôn ngữ. Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ. Các quy luật, quy tắc, các
sự kiện, các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn đạt trong các
từ. Tư duy của con người gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương
giúp ta phân biệt giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác - với chất
liệu khác. Hình tượng của văn học, do thế, là hình tượng "phi vật thể", có thể
phản ánh quá trình vận động không ngừng của đời sống trong không gian và
thời gian ở bất kì giới hạn nào, có khả năng tái hiện lời nói và thế giới tư
tưởng của con người.
Từ đó có thể hiểu tư duy văn học là cách suy nghĩ dựa trên lí trí, dựa
trên cảm xúc, thẩm mĩ trước đối tượng văn học; là sự hài hoà giữa suy nghĩ, lí
trí và cảm xúc, thẩm mĩ của học sinh trước đối tượng văn học. Tư duy văn
học bắt đầu từ việc suy nghĩ trên phạm vi sử dụng và diễn đạt ngôn từ trong
tác phẩm, tính " phi vật thể " của hình tượng. Khi người giáo viên muốn dạy
tư duy văn học cho học sinh cần hướng học sinh suy nghĩ trên cấp độ ngôn
ngữ ( đơn vị ngôn ngữ được sử dụng trong tác phẩm thấp nhất là từ đến câu,
đoạn...), học sinh phát hiện triệt để các tu từ( từ, hình ảnh, chi tiết, phương
tiện biểu hiện có tính chất tu từ), tín hiện nghệ thuật được nhà văn sử dụng
những biểu tượng xuất hiện trong tác phẩm, quan niệm nghệ thuật của nhà
văn về con người, phong cách nghệ thuật, cá tính sánh tạo riêng, tư duy riêng
19
của nhà văn. Đối với từng tác phẩm, học sinh cần nắm được thông điệp nhà
văn gửi gắm. Từ đó khám phá giá trị tác phẩm sâu sắc hơn.
Mặt khác sáng tạo và tiếp nhận là hai phương diện cơ bản của tư duy
nghệ thuật. Đó cũng là hai phương diện cơ bản của tư duy văn học. Điểm này
cũng thể hiện ở năng lực tư duy văn học của học sinh trong quá trình dạy học
môn Ngữ Văn ở nhà trường phổ thông. Riêng trong trục tích hợp đọc - hiểu
văn bản văn học thì vấn đề năng lực tư duy văn học đặt ra chủ yếu trên
phương diện tiếp nhận. Trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương, người
giáo viên cần tiến hành những hoạt động, phương pháp tối ưu để nâng cao
hiệu quả trong việc tiếp nhận của học sinh. Đó cũng chính là cách giáo viên