MỞ ĐẦU
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII đã nhấn mạnh đến việc “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo
dục - Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư
duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học…”.
Trong “Luật giáo dục” được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 ở chương I “Những quy định
chung” đã nhấn mạnh tới yêu cầu và đổi mới phương pháp giáo dục là
“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học
sinh, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Thời đại bùng nổ thông tin khoa học kỹ thuật như hiện nay yêu cầu
con người có năng lực, trình độ nhận thức phải có tầm khái quát toàn diện
và sâu sắc. Cùng với các môn khoa học khác, môn văn có một vị trí và vai
trò quan trọng trong hệ thống giáo dục.
Muốn đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, việc giảng dạy văn học
phải tiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng của bộ môn, vừa mang bản
chất xã hội, vưà là một hiện tượng thẩm mỹ, hiện tượng nghệ thuật.
Loại thể văn học là một vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của văn
học, có liên quan khăng khít đến nội dung. Mỗi tác phẩm văn học đều tồn
tại dưới hình thức một loại thể nhất định, đòi hỏi một phương pháp, một
cách thức phân tích giảng dạy phù hợp với nó. Vì vậy, vấn đề loại thể văn
học trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông đặt ra không những như
một vấn đề tri thức mà chủ yếu còn là vấn đề về phương pháp.
- 1 -
Nói đến vấn đề loại thể trong văn học là nói đến tính chính thể trong
một tác phẩm với sự thống nhất của một nội dung nhất định trong một hình
thức nhất định. Việc tìm hiểu đặc trưng loại thể văn học càng trở nên quan
trọng hơn bao giờ hết. Đó là chìa khoá để khám phá những giá trị đích thực
của từng tác phẩm, cùng với sự vận động và phát triển của nền văn học.
dạng, phong phú. Nếu “Đời thừa”, “Lão Hạc” là một trong những đại diện
xuất sắc cho phong cách nghệ thuật Nam Cao theo kiểu kết cấu mới với
kiểu diễn biến tâm lý và một giọng điệu trữ tình khác biệt thì “Chí Phèo”,
“Sống mòn” là hiện thân khác cho một tài năng phong cách theo lối điển
hình hoá đầy kịch tính.
Với tác phẩm “Chí Phèo” trong chương trình THPT, đây là một
truyện ngắn rất hay, rất đặc sắc về đề tài người nông dân của Nam Cao.
Bên cạnh đó, còn có một số tác phẩm có cùng đề tài như: Tắt đèn (Ngô Tất
Tố), Lão Hạc của (Nam Cao)…. Nhưng khi giảng dạy, phần lớn giáo viên
chỉ đi sâu khai thác, khám phá giá trị hiện thực chung nhất mà chưa chú ý
đến chiều sâu kịch tính hiện thực của tác phẩm, chưa khai thác được chiều
sâu tư tưởng tác phẩm, giá trị nghệ thuật rất riêng của truyện.
Yêu cầu có tính cấp thiết hiện nay là phải xác định đúng “chất của
loại” trong thể khi phân tích tác phẩm văn chương. Bởi “Giảng dạy tác
phẩm văn chương theo loại thể chính là một phương diện lớn của việc
giảng dạy tác phẩm văn học trong sự thống nhất giữa hình thức và nội
dung, một sự giảng dạy đi đúng với quy luật và bản chất của văn học, đồng
thời bảo đảm hiệu quả giáo dục cao nhất” (23/44).
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài
“Hướng dạy học truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao ở nhà trường
THPT theo đặc trưng loại thể”. Hy vọng rằng từ việc ứng dụng lý luận hiện
đại trong thực tiễn giảng dạy tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao đạt kết quả
- 3 -
tốt, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học tác phẩm văn chương
trong nhà trường phổ thông. Mong muốn của chúng tôi muốn tìm ra phương
pháp, biện pháp dạy học thích hợp trong “Chí Phèo” nói riêng, từ đó áp dụng
vào dạy học các thể loại truyện ngắn khác trong nhà trường phổ thông.
II. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Sự nghiệp văn học của Nam Cao vô cùng phong phú, là một di sản
có giá trị và có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt. Tính độc đáo của tư tưởng và
Trong cuốn “Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc” in năm 1961.
Hà Minh Đức đã chỉ ra nét độc đáo trong tác phẩm của ông và cho rằng:
Nam Cao thiên về phân tích những biểu hiện nội tâm của nhân vật. Do đó
hầu hết các tác phẩm của Nam Cao thường kết cấu theo lối tâm lý. Và
Phong Lê trong bài “Đặc trưng bút pháp hiện thực Nam Cao” cũng đã có
những nhận định sâu sắc: “Nói bút pháp Nam Cao là nói một bút pháp hiện
thực nghiêm ngặt. Một bút pháp chủ trương lách vào tận đáy sâu sự thật.
Lách vào từng ý nghĩ, từng suy tính cùng cực chi lý”. Còng trong bài viết
này tác giả Phong Lê chỉ ra bút pháp hiện thực Nam Cao qua các sáng tác:
“Đọc Nam Cao ta có dịp phanh phui so đi lặp lại đến tận đáy sâu sự thật, và
qua đó chiêm nghiệm sự đa dạng, đa thanh của cuộc đời. Bên cái sống là
cái chết. Bên cái chết thật có cái chết mòn. Bên cái chết đói có cái chết no.
Bên cái khùng điên có cái nhẫn nhục. Bên người lương thiện là kẻ lọc lõi.
Bên người bình thường có loại dị dạng. Bên cái thuận có cái nghịch. Bên
cái bi là cái hài. Bên sự tĩnh lặng là biết bao ồn náo”.
Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn “Nhà văn – tư tưởng và phong cách”
(NXB ĐHQG, H, 2001) đã chỉ ra vẻ đẹp tư tưởng nhân đạo trong tác phẩm
của Nam Cao: Nam Cao là người hay quan tâm đến vấn đề nhân phẩm và
lương tâm. Trong hầu hết các tác phẩm của Nam Cao, một câu hỏi không
- 5 -
ngừng được vang lên: “Con người có được làm người, có bản lĩnh hồn cho
quỷ dữ hay không? Chính những lúc con người suy ngẫm nhớ thương thì
vấn đề này hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết”. Và trong bài “Nhớ Nam Cao
và những bài học của ông”, Nguyễn Đăng Mạnh đã có nhận định sắc sảo:
“Nam Cao là người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh
trọng đối với con người. Ông thường dễ bất bình trước tình trạng con người
bị lăng nhục chỉ vì bị đày đoạ vào cảnh nghèo đói cùng đường”.
Nguyễn Văn Hạnh với bài “Nam Cao và khát vọng một cuộc sống
lương thiện” nhận xét: “Với quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình, có thể
nói trong văn học ta nửa đầu thế kỷ XX, hơn bất kỳ một nhà văn nào khác,
nhiều nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm chú ý: Nhìn chung tất cả các ý
kiến nhận định đánh giá hầu như đều thống nhất với nhau ở quan điểm:
Truyện ngắn Nam Cao là truyện viết rất Ýt sự kiện, Ýt nhân vật và chủ yếu
là truyện xoay quanh cuộc sống đời thường, kết cấu truyện thường là kết
cấu tâm lý bỏ ngỏ, kết cấu vòng tròn. Nguyễn Đăng Mạnh trong bài “Nhớ
Nam Cao và những bài học của ông”. “Chân dung văn học – 1990” in lại
trong “Nam Cao tác gia và tác phẩm” NXBGD – 1998 có nhận xét: “Một
trong những đặc sắc của ngòi bút Nam Cao là đã mạnh dạn đưa cái “hàng
ngày” vào văn học nghĩa là chẳng cần sự kiện gì quan trọng, chẳng cần gì
kịch tính lớn lao”. Tác giả cũng nhấn mạnh: viết được như thế thực là khó,
nếu như vẫn muốn trung thành với chủ nghĩa hiện thực. Trần Đăng Suyền
trong “Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn”
cũng đã đưa ra ý kiến gần với quan điểm trên khi cho rằng: “Đối với Nam
Cao, cái quan trọng hơn cả trong nhiệm vụ phản ánh chân thật cuộc sống là
cái chân thật của tư tưởng, của nội tâm nhân vật. Xét cho tới cùng, cái quan
trọng nhất trong tác phẩm không phải là bản thân sự kiện, biến cố tự thân
mà là con người trước sự kiện, biến cố”.
- 7 -
Xem xét ở một bình diện nữa trong phong cách và tài năng của Nam
Cao còng thu hút nhiều nhà nghiên cứu, phê bình. Đó chính là bình diện
sáng tạo đầy tài năng qua ngôn ngữ, giọng điệu trong các tác phẩm. Phong
Lê trong bài “Cấu trúc và ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao”(Văn nghệ quân
đội số tháng 10 – 1987) nhận xét: “Có một ngôn ngữ tác giả mang chất
giọng riêng của Nam Cao, giàu suy nghiệm triết lý, có thể xem là âm chủ,
nhưng chất giọng đó không lấn át, không che khuất ngôn ngữ nhân vật.
Bích Thu trong bài “Sức sống của một sự nghiệp văn chương” đã khẳng
định: “Có thể nói, nét độc đáo tạo nên phong cách Nam Cao là sự pha trộn
tài tình các giọng điệu trong mỗi tác phẩm của ông. Người đọc nhận ra trên
những trang viết của Nam Cao giọng khách quan lạnh lùng xen lẫn đồng
cảm, sẻ chia, giọng trữ tình đầy chất thơ hoà lẫn trong giọng văn xuôi phàm
tác phẩm của mình. Từ không gian nhà ở, căn buồng, không gian nghệ
thuật của Nam Cao còn vươn tới các không gian khác kể cả không gian tâm
tưởng”. Hà Minh Đức có bài “Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác
phẩm của Nam Cao” (in trong Nam Cao đời văn và tác phẩm – NXBVH,
H, 1997) đã chỉ ra: “Điều đáng quý, đáng được trân trọng ghi nhận là đã có
sự thống nhất sâu xa ở Nam Cao giữa hoàn cảnh nhỏ, hẹp, với hoàn cảnh
rộng lớn. Nam Cao đã có thể nói về xã hội bằng những đơn vị nhỏ, lấy vi
mô để nói về cái vĩ mô”.(28/316).
Bên cạnh những bài nghiên cứu, tìm hiểu về Nam Cao và giá trị các
tác phẩm của ông, giới nghiên cứu, phê bình đã mở rộng tầm nhìn, phạm vi
nghiên cứu để khẳng định một cách khách quan, đúng đắn về tài năng của
người nghệ sĩ Nam Cao qua việc so sánh, đối chiếu những nét tương đồng
của Nam Cao với các nhà văn tên tuổi trên thế giới. Trần Ngọc Dung với
bài: “Gặp gỡ giữa M.Gorki và Nam Cao” (in trong cuốn: “Nghĩ tiếp về
Nam Cao – NXB Hội nhà văn, H, 1992) đã nhấn mạnh: “Đây là sự gặp gỡ
- 9 -
ngẫu nhiên giữa hai tư tưởng nghệ thuật lớn. Chúng ta có căn cứ để kết
luận như vậy: M.Gorki cũng như Nam Cao đều là hai nhà nhân đạo chủ
nghĩa lớn, đều chú ý đến những con người cùng khổ, bất hạnh, bị xã hội áp
bức, bóc lột, đày đoạ đến mức từ nhân tính đến nhân hình, đều phát hiện ở
những loại người “dưới đáy” của xã hội cũ, không chỉ có nỗi khổ về vật
chất, mà còn có nỗi đau đớn về tinh thần do bị xã hội khinh bỉ, lăng nhục”.
Đào Tuấn Ảnh cũng có bài “Tsêkhôp và Nam Cao – một sáng tác hiện thực
kiểu mới” (in trong “Nghĩ tiếp về Nam Cao” – NXB Hội Nhà văn, H,
1992) đã viết: Điều đầu tiên đập vào mắt độc giả khi đọc tác phẩm của
Tsêkhôp và Nam Cao là cả hai đều viết về những điều vặt vãnh của đời
sống hàng ngày. Và tác giả bài viết nhấn mạnh: “Dưới thần bút của hai nhà
văn, “bi kịch đời thường” đã nâng thành bi kịch của vĩnh cửu bởi họ bắt
những điều vặt vãnh nhất cũng phải nói lên tiếng nói của mình về ý nghĩa
cuộc sống con người. Chính điều này làm chúng ta không ngần ngại xếp
biệt là của các nhà nghiên cứu chuyên ngành phương pháp. Trong mấy
chục năm qua, nhất là khoảng mười năm trở lại đây đã có nhiều nhà
phương pháp với nhiều kinh nghiệm, nhiều thầy cô giáo đầy tâm huyết đã
mở ra nhiều hướng nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh cùng với những
tìm tòi phát hiện đầy mới mẻ nhằm tìm ra hướng dạy, phương pháp, biện
pháp dạy học những tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông
sao cho đạt hiệu quả tốt nhất, nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn ở
trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
Về tài liệu hướng dẫn giảng dạy và học tập: Bên cạnh các sách giáo
khoa, sách giáo viên và sách tham khảo cũng có một số cuốn sách tham
khảo và hướng dẫn của một số nhà phương pháp như: Cuốn “Nam Cao –
một đời văn” của Lê Tiến Dũng (Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.
HCM phát hành năm 2001); “Phân tích tác phẩm Nam Cao trong nhà
- 11 -
trường” của Nguyễn Văn Tùng (NXBGD, H, 1997) “Nhà văn và tác phẩm
trong nhà trường – Nam Cao” Văn Giá tuyển chọn và biên soạn (NXBGD,
H, 1999); “Phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương theo loại thể”
Nguyễn Viết Chữ (NXB ĐHSP 2002); … Có thể nói đây là những tài liệu
bổ Ých và thiết thực cho công việc giảng dạy và học tập về các tác phẩm
của Nam Cao trong nhà trường phổ thông.
Trong truyện ngắn “Đôi mắt” của Nam Cao đã có nhiều nhà phương
pháp đưa ra các cách tiếp cận và giảng dạy như: Giáo sư Phan Trọng Luận
trong cuốn “Văn học – xã hội – nhà trường” (NXB ĐHQG ‘HN – 1996) đề
ra hướng khai thác và giảng dạy truyện ngắn này theo quan điểm lịch sử
nhằm hướng đến cho học sinh những giá trị nhân văn cao cả và đúng đắn,
tránh khuynh hướng xã hội học dung tục trong dạy học văn ở nhà trường
hiện nay vẫn còn tồn tại. Nguyễn Thanh Hùng có bài “Sống với đôi mắt
mở” (Báo văn nghệ số 24 – 1992) và in trong cuốn “Đến với Nam Cao”
của nhiều tác giả. Tác giả bài viết đặt ra vấn đề: Dạy học tác phẩm “Đôi
mắt” của Nam Cao, người dạy cũng như người đọc phải phân tích, nhìn
3. Tình hình nghiên cứu về truyện ngắn “Chí Phèo”.
“Chí Phèo” là tác phẩm xuất sắc nhất của Nam Cao viết về đề tài
người nông dân. Tên tuổi của Nam Cao gắn liền với truyện ngắn “Chí
Phèo”. Tác phẩm này đã được giới nghiên cứu phê bình văn học và đông
đảo bạn đọc mấy thập kỷ qua, đánh giá là tác phẩm nổi bật nhất, không chỉ
đối với toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nam Cao mà đối với cả trào lưu văn
học hiện thực 1930-1945 và được coi là một kiệt tác bất hủ của nền văn học
dân tộc. Nhiều nhà nghiên cứu đã có những nhận xét rất xác đáng về giá trị
của tác phẩm. Là một kiệt tác bất hủ, đồng thời “Chí Phèo” còn là một tác
phẩm có vị trí văn học sử đặc biệt. Đây vừa là tác phẩm mở đường của nhà
- 13 -
văn lớn Nam Cao lại vừa được coi như là cột mốc đánh dấu bước phát triển
của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trước 1945.
“Chí Phèo” là truyện ngắn có sức thu hút kỳ lạ đối với giới nghiên
cứu phê bình văn học và đông đảo bạn đọc. Tính đến nay, theo số liệu
thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, đã có tới hơn bốn mươi bài trực tiếp
viết về Chí Phèo và hàng trăm công trình, bài viết nghiên cứu về Nam Cao,
trong đó có nói đến Chí Phèo ở nhiều góc độ, phương diện, khía cạnh khác
nhau. Song có thể nói, chưa có công trình hay bài viết nào trực tiếp đề cập
đến hướng dạy truyện ngắn này theo đặc trưng thi pháp loại thể truyện
ngắn hiện thực nhiều kịch tính và sâu sắc.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Chí Phèo được xem xét theo hai thời kỳ:
trước và sau cách mạng Tháng Tám 1945.
3.1. Trước Cách mạng Tháng Tám:
Mặc dù là một kiệt tác, Chí Phèo chỉ được một bài viết phê bình giới
thiệu của Lê Văn Trương trong lời “Tựa đôi lứa xứng đôi” (NXB Đời mới,
1941 - được in trong “Nam Cao tác gia và tác phẩm” NXBGD, H, 1998).
Tác giả bài viết tỏ ra thích thú với “Lối văn mới” của Nam Cao mà không
quan tâm đến ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm. Ông viết … “Giữa lúc người
ta đang đắm mình trong những truyện tình mơ mộng và hùa nhau “phục
Bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh: “Lưỡi dao Chí
Phèo là ánh chớp trước cơn giông tố” viết năm 1980 in lại trong “Nhà văn
tư tưởng và phong cách, NXB ĐHQG, H, 2001 nêu lên dự cảm hiện thực
của Nam Cao: “Qua tác phẩm, dường như nhà văn đã cảm nhận được cái
không khí khủng hoảng dữ dội của xã hội thuộc địa, của chế độ cường hào
địa chủ ở nông thôn”. Về hành động giết Bá Kiến của Chí Phèo đó là ánh
chớp báo trước một cơn giông tố dữ dội sẽ quét sạch chế độ thực dân
cường hào địa chủ trên đất nước ta”.
- 15 -
Trong bài góp một cách hiểu truyện ngắn “Chí Phèo” in trên báo
giáo viên nhân dân, ngày 9/2/1987, in lại trong đến với Nam Cao, NXB
Thanh niên 1988, ông Lê Di không chấp nhận cách hiểu chủ đề Chí Phèo
trong SGK Văn học 10 (cũ) là “Số phận bi thảm của người nông dân lương
thiện, ở đây là người cố nông bị bọn địa chủ, cường hào và chế độ thực dân
nửa phong kiến xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi không lối thoát”.
Ông đưa ra cách hiểu mới về chủ đề tác phẩm: “Đây là câu chuyện bi thảm
về số phận của một nông dân đã tha hoá, ngược dòng trong xã hội thực dân
phong kiến và tuyệt vọng trên con đường tìm về lương thiện”. Cách hiểu
này không sai, nhưng chưa phải hoàn toàn chính xác.
“Tính chất lưỡng hoá trong nhân vật Chí Phèo là bài viết của Nguyễn
Quang Trung, đăng trên tập san THPT sè 1/ 1988 (in lại trong Nam Cao về
tác gia và tác phẩm, NXB, 1998). Nhà nghiên cứu đã nêu lên sự khác nhau
cơ bản của tính cách chị Dậu, Anh Pha, Chí Phèo. Ông viết: “Anh Pha, Chị
Dậu là con người tốt thuần nhất, họ thăng trầm về số phận nhưng khá tĩnh
tại về tính cách. Chỉ đến Chí Phèo, Nam Cao mới thật sự tạo ra một cái
nhìn phức tạp hơn, phong phú hơn và vì vậy cũng sâu sắc hơn về con
người. Nhờ thế, ông đã trình bày một loạt nhân vật mới, một kiểu tính cách
mới trong hình ảnh con người vừa đánh mất vừa đi tìm nhân cách”.
(106/208)
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh trong bài phân tích truyện ngắn
III. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nếu khám phá ra được chiều sâu giá trị tác phẩm, chất kịch tính bộc
lộ qua các phương diện: kết cấu cốt truyện, nhân vật, giọng điệu trần thuật
trong tác phẩm “Chí Phèo” thì sẽ nhìn nhận rõ cấu trúc đối thoại đầy kịch
tính đặc biệt của truyện. Vậy khẳng định đây là một truyện ngắn xuất sắc
đầy kịch tính, sự đan xen của nhiều nhân vật, nhiều giọng điệu, nhiều tính
- 17 -
cách. Luận văn trên cơ sở đó sẽ là điều kiện để làm nổi bật được chiều sâu
tác phẩm cũng như việc tìm ra các phương pháp, biện pháp tối ưu để giảng
dạy thành công tác phẩm này. Từ đó có thể ứng dụng vào dạy học những
truyện ngắn khác của tác gia Nam Cao cũng như truyện ngắn của các tác
giả khác trong chương trình THPT.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để tiến hành nghiên cứu và giải quyết đề tài này, chúng tôi sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau:
1. Phương pháp so sánh, đối chiếu.
2. Phương pháp khảo sát, thực nghiệm, thống kê, phân tích.
3. Phương pháp khái quát, hệ thống hoá: nghiên cứu tiếp thu có chọn
lựa các công trình, tài liệu có liên quan đến luận văn, góp phần định hướng
phục vụ cho yêu cầu của đề tài.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm ra hướng dạy học truyện ngắn
“Chí Phèo” theo đặc trưng thi pháp loại thể, nhằm nâng cao chất lượng và
hiệu quả của việc dạy học truyện ngắn này trong chương trình THPT. Đề
tài giải quyết các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu thi pháp tư tưởng của Nam Cao trong truyện ngắn “Chí
Phèo” theo hướng tình huống kịch tính của truyện ngắn giàu giá trị hiện thực.
Qua đó khám phá giá trị hiện thực, chiều sâu nghệ thuật, tư tưởng của tác
phẩm.
Khảo nghiệm thực trạng dạy và học tác phẩm “Chí Phèo” hiện nay
Cao và trong nhà trường THPT.
Chương II:
Tình hình dạy học truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam
Cao ở nhà trường THPT.
Chương III:
Những phương pháp và biện pháp dạy học truyện ngắn
“Chí Phèo” của Nam Cao.
NỘI DUNG
- 19 -
CHƯƠNG I
VỊ TRÍ CỦA TRUYỆN NGẮN “CHÍ PHÈO” TRONG SÁNG TÁC
CỦA NAM CAO VÀ TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT.
I. XÁC ĐỊNH LOẠI THỂ VĂN HỌC LÀ VẤN ĐỀ MẤU CHỐT KHI DẠY
HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG.
1. Loại và thể loại tác phẩm văn chương.
Để việc tiếp nhận đúng hướng, chính xác và giảng dạy đạt hiệu quả
một tác phẩm văn chương thì sự hiểu biết những kiến thức về loại thể là rất
cần thiết. Bởi lẽ, có những hiểu biết kiến thức đúng về loại thể chúng ta
mới có những căn cứ để xác định được những tính chất của loại ở trong
một thể nhất định nào đó và khai thác “trúng” “đúng” trọng tâm nội dung
tác phẩm và tư tưởng của nhà văn gửi gắm ở trong tác phẩm đó.
Song có thể nói đây là vấn đề khá phức tạp và xung quanh còn nhiều
ý kiến chưa đi đến thống nhất. Ở đây, chúng tôi xin được hiểu vấn đề này
theo cách truyền thống và phổ biến hiện nay. Chúng tôi không có ý định
tìm hiểu mọi vấn đề thuộc loại thể, mà chỉ cố gắng tập trung làm rõ vấn đề:
loại và thể tác phẩm văn chương; mối quan hệ của chúng trong tác phẩm,
để từ đó nhận ra tính chất khác nhau về loại trong thể truyện ngắn.
Việc xác định loại thể tác phẩm văn chương trong dạy học văn
truyền thống đặt trong mối quan hệ với phương pháp giảng dạy văn vốn đã
được định hình. Đặc trưng của loại trong thể đã có những phương pháp và
tác phẩm văn chương như vậy là dựa trên sự phân loại được Arixtot nêu ra,
sau này Hegel rồi Belinski tiếp tục phát triển. Trong tác phẩm “Nghệ thuật
thơ ca”, Arixtot nêu ra sự tồn tại của các tác phẩm văn chương với ba
phương thức “mô phỏng, hiện thực, hoặc kể về một sự kiện, coi như một
cái gì tách biệt với mình…”. Ba phương thức đó là: tự sự – trữ tình – kịch.
- 21 -
Tự sự có nghĩa là kể chuyện, theo Arixtot thì “nhà thơ tự sự kể về
các sự kiện như một cái gì ở bên ngoài mình”. Những tác phẩm tự sự
thường “tái hiện trực tiếp hiện thực khách quan như một cái gì tách biệt, ở
bên ngoài, đối với tác giả, thành một câu chuyện có sự diễn biến của sự
việc, của hoàn cảnh, có sự phát triển tâm trạng, tính cách hành động của
con người” (35/186).
Trong tác phẩm tự sự phải có lời trần thuật của người trần thuật, nó
là sợi dây dẫn, liên kết các yếu tố trong truyện với nhau. Người trần thuật là
người biết tất cả, người đứng ngoài. Khách quan mà thuật lại câu chuyện,
tư tưởng, tình cảm của họ gửi gắm một cách kín đáo qua cốt truyện. Tác
phẩm tự sự phải có cốt truyện mà kể chuyện thì ắt phải có chuyện, chuyện
đó được sắp xếp thành cốt truyện. Đó là sự phát triển của hành động, tiến
trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm. Dệt lên cốt truyện là hành
động của các nhân vật (hành động là sự thể hiện các xúc cảm, ý nghĩ, ý
định của con người vào các hành vi, hoạt động, lời nói, cử chỉ, điệu bộ, nét
mặt… của nhân vật. Trong đó có cả hành động bên trong và hành động bên
ngoài. Nhờ sự phát triển của cốt truyện mà nhân vật luôn có những mâu
thuẫn (xung đột) và xu hướng vận động giải quyết các mâu thuẫn. Cốt
truyện được kết cấu bằng trình tự liên tiếp trước và sau của các sự kiện,
tình tiết hoặc luôn tạo ra những tình tiết mới gây bất ngờ, hấp dẫn với bạn
đọc.
Tác phẩm tự sự có khả năng thể hiện nhân vật đa dạng, tuỳ theo cách
kể mà nhân vật tự sự có thể được miêu tả rất cụ thể, tỉ mỉ hoặc có thể gây
nên những Ên tượng sâu sắc nhất trong một phần hoặc toàn bộ cuộc đời với
những đặc điểm hình thức đã thấm nhuần những hàm nghĩa nhất định: kết
cấu, hình tượng, ngôn từ, tiết tấu…
- 23 -
2. Những biểu hiện của loại trong thể truyện ngắn:
Truyện ngắn nói chung không phải vì truyện của nó ngắn mà vì cách
nắm bắt cuộc sống của thể loại, tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc
hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh
hay đời sống tâm hồn con người. Truyện ngắn thường rất Ýt nhân vật, Ýt
sự kiện phức tạp. Từ khi xuất hiện, tồn tại và phát triển cho tới ngày nay,
đã có nhiều cách quan niệm và phân loại thể truyện ngắn mà ở đó tuỳ vào
việc căn cứ nội dung hay hình thức của tác phẩm văn chương. Dựa vào nội
dung phân chia ra truyện ngắn sử thi (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành;
số phận một con người – M.Sôlôkhôp); truyện ngắn thế sự (Vũ Trọng
Phụng – Nguyễn Công Hoan); truyện ngắn đời tư (Nam Cao, Thạch Lam).
Dựa vào khuynh hướng cảm xúc phân chia ra: truyện ngắn trào phúng
(Nguyễn Công Hoan); truyện ngắn trữ tình (Thạch Lam). Dựa vào cốt
truyện phân chia thành: truyện ngắn sự kiện (Nguyễn Công Hoan); truyện
ngắn tâm lý (Nam Cao)…
Trên cơ sở dựa vào nội dung – hình thức của tác phẩm mà có nhiều
cách phân chia loại trong thể truyện ngắn như vậy. Song chóng ta cũng cần
hiểu rằng: truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự, cái chính của truyện
ngắn không phải là ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời.
Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã
hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người. Cốt truyện của
truyện ngắn thường hấp dẫn nhưng chức năng của nó la để nhận ra một
điều gì, cái chính của truyện ngắn là gây ra mét Ên tượng sâu đậm về tình
người. Yếu tố có ý nghĩa bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng
lớn và hành văn mang nhiều Èn ý. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao
trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi.
Tác phẩm tự sự: