1
Xây dựng hệ thống câu hỏi hiệu quả trong dạy học
tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao
Building effective systems questions for the teaching of evilt "Chi Pheo"
by writer Nam Cao
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 118 tr. + Vũ Thị Khánh Hòa Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lí luận và phương pháp dạy học ( bộ môn ngữ văn);
Mã số:601410
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ái Học
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Trình bày cơ sở lí luận của câu hỏi trong dạy học nói chung, dạy học nói riêng.
Nghiên cứu thực trạng dạy học văn ở một trường Trung học phổ thông (THPT), khảo sát hệ
thống câu hỏi sách giáo khoa THPT ( bộ chuẩn 2006 ) và tình hình dạy học tác phẩm Chí
Phèo. Đề xuất các biện pháp hỗ trợ giáo viên sử dụng câu hỏi hiệu quả trong dạy học tác
phẩm Chí Phèo. Tiến hành thực nghiệm sư phạm
Keywords: Văn học Việt Nam; Phương pháp dạy học; Tác phẩm văn học; Ngữ văn
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề được xã hội và nghành giáo dục đặc biệt quan tâm.
Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu
vụ chuẩn bi cho thế hệ trẻ bước vào thế kỉ XXI, chưa gắn với đời sống, với những mong mỏi của HS.
1.6. Phương pháp dạy học Văn ở Việt Nam gần đây đã có những chuyển biến tích cực.
Các nhà sư phạm đã tiếp thu những kinh nghiệm tiên tiến áp dụng vào thực tiễn dạy học ở
trường phổ thông.
1.7. Tác phẩm “Chí Phèo” là một trong những tác phẩm đặc sắc của nền văn học Việt Nam.
Đã có khá nhiều những công trình khoa học, những bài viết nghiên cứu về cách giảng dạy tác
phẩm này. Nhưng một tác phẩm hay luôn mở ra nhiều lối đi đặc biệt là một tác phẩm hay.
2. Mục đích nghiên cứu:
2.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của câu hỏi để hình thành các kỹ năng đặt câu hỏi có hiệu quả
trong giờ dạy tác phẩm văn chương.
2.2. Từ cơ sở lý luận về câu hỏi và tác phẩm tự sự áp dụng vào việc xây dựng hệ thống câu hỏi
có hiệu quả trong việc dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao.
2.3. Thiết kế một giáo án thể nghiệm.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của câu hỏi trong dạy học nói chung, dạy học nói riêng.
3
- Nghiên cứu thực trạng dạy học văn ở một trường THPT, khảo sát hệ thống câu hỏi SGK
THPT ( bộ chuẩn 2006 ) và tình hình daỵ học tác phẩm Chí Phèo.
- Đề xuất các biện pháp hỗ trợ giáo viên sử dụng câu hỏi hiệu quả trong dạy học tác phẩm
Chí Phèo.
- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của giả thuyết khoa học.
4. Giả thuyết khoa học của luận văn
Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi đề ra giả thuyết: Hệ thống câu hỏi
hiệu quả được xây dựng sẽ góp phần cải tiến cách đặt câu hỏi sáo mòn, đồng thời tạo ra một mô hình
câu hỏi mới vừa đảm bảo được đặc trưng của tác phẩm văn chương vừa phát huy được tính tích cực
chủ động sáng tạo của học sinh
5. Lịch sử vấn đề
Công trình nghiên cứu trong nước phải kể đến: giáo trình Phương pháp dạy học Văn Tập I do GS
Phan Trọng Luận chủ biên, Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học của GS Phan Trọng Luận.
8. Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần hệ thống hoá lý luận về việc xây dựng đặt câu hỏi trong giờ dạy tác phẩm văn chương.
- Xác lập được hệ thống câu hỏi trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Lời cảm ơn, Mục lục, Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ
lục, luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề câu hỏi trong dạy học Văn.
Chương 2: Những định hướng cần thiết để hình thành hệ thống câu hỏi hiệu quả trong dạy học tác
phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VẤN ĐỀ CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC VĂN
1.1 Cơ sở lí luận về câu hỏi
1.1.1 Khái niệm câu hỏi
“ Nói ra điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được trả lời” ( Từ điển tiếng
Việt – Hoàng Phê (chủ biên) )
Câu hỏi = cái đã biết + cái chưa biết.
Trong dạy học, câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi,
một mệnh lệnh mà người học cần phải giải quyết.
1.1.2 Bản chất của câu hỏi
Quan điểm triết học cho rằng: Mọi sự vật hiện tượng khách quan đều được phản ánh vào
ý thức con người. Quá trình phản ánh đó thực chất là các hoạt động nhận thức, mà chủ yếu là giải
quyết các mối quan hệ giữa mâu thuẫn khách quan với mâu thuẫn chủ quan. Vì mâu thuẫn là động
lực chủ yếu của quá trình phát triển của mọi sự vật, nên mâu thuẫn cũng là động lực chủ yếu của
5
nhận thức, học tập. Như vậy, có hai loại mâu thuẫn ứng dụng vào dạy học, có giá trị về mặt nhận
thức, đó là mâu thuẫn khách quan và mâu thuẫn chủ quan:
- Hệ thống câu hỏi hình dung tưởng tượng tái tạo
Nhóm 3:Hệ thống câu hỏi hiểu biết về nội dung và hình thức của tác phẩm
6
- Hệ thống câu hỏi hiểu biết về nội dung của tác phẩm văn học
- Hệ thống câu hỏi hiểu biết về hình thức tác phẩm văn học
c. Câu hỏi đặt ra khi kiểm tra kết quả thực hiện mục tiêu bài học.
- Câu hỏi để kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức đã học.
- Câu hỏi kiểm tra sự nắm vững bản chất của kiến thức nghĩa là hỏi giải thích nội dung kiến thức đã
lĩnh hội.
- Câu hỏi kiểm tra khả năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết nhiệm vụ nhận thức mới.
- Câu hỏi kiểm tra sự nắm vững giá trị của kiến thức nghĩa là xác định được vai trò, ý nghĩa của
kiến thức trong lí luận và trong thực tiễn.
- Câu hỏi kiểm tra thái độ, hành vi của người học sau khi kết thúc một chủ đề nào đó.
d. Câu hỏi để hình thành phát triển năng lực nhận thức
e. Xây dựng câu hỏi dựa vào các khâu của quá trình dạy học
f. Phân loại câu hỏi dựa vào cách trả lời
g. Phân loại câu hỏi dựa vào nội dung mà câu hỏi phản ánh
h. Phân loại câu hỏi dựa vào mức độ tích cực trong dạy học
1.1.5. Những yêu cầu sư phạm đối với hệ thống câu hỏi trong quá trình dạy tác phẩm văn
chương ở nhà trường phổ thông
1.1.5.1. Đảm bảo tính khoa học, hệ thống
1.1.5.2. Bảo đảm tính sư phạm và phát triển
1.1.5.3. Thông qua hoạt động và khuyến khích sáng tạo
1.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề câu hỏi trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo”
1.2.1. Mục đích khảo sát:
1.2.2. Đối tượng, phạm vi, địa bàn khảo sát
Đối tượng, phạm vi khảo sát: đó là những câu hỏi trong bài soạn giảng tác phẩm “Chí Phèo” cũng
như khi giảng văn trên lớp của GV THPT.
Địa bàn khảo sát: trường THPT Đinh Tiên Hoàng, trường THPT Nguyễn Gia Thiều Hà Nội.
2.2.2.2. Câu hỏi phải định hướng vào ván đề trung tâm của tác phẩm.
2.2.2.3. Câu hỏi phải thể hiện được đặc trưng thi pháp của tác phẩm.
2.2.2.4. Xây dựng hệ thống câu hỏi phải phù hợp với năng lực tiếp nhận của HS.
a. Câu hỏi mang tính vừa sức.
b. Câu hỏi phải khơi gợi cảm xúc, tình cảm trong tâm hồn HS.
2.2.2.5. Câu hỏi phải phù hợp với tiến trình lên lớp của giờ dạy.
2.2.2.6. Hệ thống câu hỏi phải phản ánh năng lực thiết kế bài học của người giáo viên.
2.2.2.7. Hệ thống câu hỏi phải đặt trong mối tương quan hợp lí với các phương pháp khác trong
khuôn khổ giờ dạy tác phẩm văn chương.
2.2.2.8. Câu hỏi phải đa dạng hóa hoạt động của học sinh
a. Hệ thống câu hỏi nêu vấn đề kích thích tư duy văn học
b. Hệ thống câu hỏi phục vụ cho giờ học đối thoại
2.2.2.9. Nhận thức đúng và vận động sáng tạo hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo
khoa và hệ thống câu hỏi trong giờ dạy TPVC.
8
2.3. Xây dựng hệ thống câu hỏi tác phẩm “Chí Phèo” theo hƣớng tiếp cận đồng bộ
2.3.1. Tiếp cận đồng bộ là hướng tiếp cận khoa học, tối ưu xuất phát từ bản chất văn học và quy
luật tiếp nhận
2.3.1.1. Một số hướng phát triển nghiên cứu lí luận và phương pháp dạy học tác phẩm trong nhà
trường phổ thông.
- Nghiên cứu lí luận và phương pháp dạy học tác phẩm theo quan điểm tích hợp
- Nghiên cứu và thể nghiệm những hình thức hoạt động thúc đẩyHS tích cực sáng tạo trong giờ
văn theo triết lí “lấy học sinh là trung tâm” vẫn đang là đề tài thu hút sự quan tâm và nỗ lực
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và đông đảo giáo viên bộ môn.
- Nghiên cứu lí luận và phương pháp dạy học tác phẩm theo hướng tiếp cận lí thuyết tiếp nhận
hiện đại, nhất là thuyết đáp ứng người học hiện đang là vấn đề có tính thời sự khoa học và có
ý nghĩa sư phạm to lớn nhằm làm cho học sinh thực sự là một bạn đọc sáng tạo, một chủ thể
2.3.2. Xây dựng câu hỏi dựa trên hướng tiếp cận lịch sử phái sinh.
Cuộc sống sản sinh ra nhà văn và tác phẩm.Tác phẩm – cuộc sống – thời đại có mối lien hệ gắn
bó, chặt chẽ. Chính vì vậy khi đi tìm hiểu tác phẩm chúng ta không thể không quan tâm tới thời điểm
ra đời của nó, không phụ thuộc vào “cuộc sống lớn” của nó bao gồm hoàn cảnh lịch sử xã hội, tác
giả…để nghiên cứu điển hình cuộc sống.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh: “hoàn cảnh lớn và hoàn cảnh nhỏ” có một sự chi
phối đối với tư tưởng nghệ thuật của nhà văn.Hoàn cảnh ấy chính là gia đình, nơi sống, thời đại, là
trào lưu văn học đương thời…Chúng tôi đồng quan điểm với giáo sư.
Đọc “Chí Phèo” người ta thấy rõ không khí của làng xã Việt Nam trước cách mạng tháng
Tám và thấy rõ cái căng thẳng của mâu thuẫn giai cấp (nông dân và địa chủ, phong kiến tay sai).
Làng Đại Hoàng – làng của Nam Cao ( nguyên mẫu của làng Vũ Đại trong tác phẩm) có một nguồn
gốc đặc biệt.
Làng Đại Hoàng những năm trước Cách mạng tháng Tám có đến năm cánh cường hào: cánh
Nghị Bính, cánh Đội Tụ tức Bát Tụ, cánh Bát Ngọ ( Bát Ngọ đi lính khố đỏ, đóng cai, sau trở thành
một tên tướng cướp), cánh Nghị Hợp tức Nhất Hợp, và cánh Lí Bật. Năm cánh này chia thành năm
khu vực để ức hiếp bóc lột nhân dân, đồng thời cũng luôn gằm ghè, mâu thuẫn nhau. Bọn cường hào
địa chủ dung rất nhiều thủ đoạn.
Bọn cường hào lí dịch càng giàu có bao nhiêu, thì ngược lại, người nông dân lao động càng khổ
cực bấy nhiêu. Người nông dân phải nộp tô thuế nặng nề, làm phu sai tạp dịch. Nhiều người nồn dân
ở đây phải làm nghề phụ như nghề dệt vải. Những năm trước Cách mạng họ mua vé sợi của nhà máy
sợi Nam Định. Gần như cả làng dệt vải. Một số không ít phải chạy chợ. Mang hoa quả xuống Nam
Định bán. Làng Đại Hoàng là đất bồi nên có kinh tế vườn, đặc sản là mía gà và chuối ngự. Nông dân
ở Đại Hoàng phải đi tha phương cầu thực.Nhu cầu bức thiết bậc nhất ở đây là cái ăn, nhiều người
phải bán hết tài sản của mình để cứu đói.
Nhân vật trong tác phẩm cũng có rất nhiều nguyên mẫu ở làng Đại Hoàng:
10
Nhân vật mà Nam Cao đặt tên là Chí Phèo vốn là một nông dân ngụ cư ở làng Đại Hoàng,
không ai biết tên tuổi, tung tích. Hắn sống hòa nhập với phân số nông dân lưu manh hóa ở nhiều
dạng khác nhau.
Quan niệm về truyện ngắn (kiến thức lí luận văn học)
11
Trên phương diện này GV nên khai thác những câu hỏi thể hiện sự độc đáo của tác phẩm.
- Qua phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo, em thấy nhân vật này có những điểm nào
giống và khác so với những hình tượng người nông dân cùng thời (như Chị Dậu trong
tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, anh Pha trong “Bước đường cùng” của Nguyễn
Công Hoan)?
- Là truyện ngắn, nhưng Nam Cao đã đề cập đến nhiều vấn đề mang tầm lớn lao của thời
đại. Đó là những vấn đề gì?
- Nhiều người coi những lần Chí Phèo đến nhà Bá Kiến như những cái mốc phát triển
quan trọng trong sự vận động tính cách Chí Phèo. Theo trình tự câu chuyện, em hãy cho
biết CP đến nhà Bá Kiến mấy lần và sau mỗi lần Chí Phèo thay đổi tính cách ra sao?
- Miêu tả một anh nghiện rượu làm tất cả những điều ác trong lúc say, phải chăng tác
phẩm muốn phê phán thói nghiện rượu?
- Tại sao nói Chí Phèo vừa là con quỷ dữ của làng Vũ Đại lại vừa là nạn nhân khốn khổ
của bọn cường hào ác bá?
- Nguyên nhân Chí Phèo tới nhà Bá Kiến lần 1? Chí Phèo có thực hiện được mục đích của
mình không?Vì sao?Qua đó em nhận xét gì về hai nhân vật Bá Kiến và Chí Phèo? (gợi ý:
cách Bá Kiến giải quyết tình huống cho em suy nghĩ gì về bản chất, tính cách của nhân
vật này; Việc làm và suy nghĩ của Chí lúc đến nhà Bá Kiến và sau khi ở đó về khiến em
suy nghĩ gì về Chí?)
- Sau khi đến nhà Bá Kiến lần một, Chí Phèo rất “hả hê”, liệu có phải Chí Phèo đã hoàn
thành được mục đích ban đầu nên anh rất mãn nguyện. Em đánh giá gì về Bá Kiến và Chí
Phèo qua tình huống ấy?
- Trong bài viết của mình trên tạp chí văn nghệ số 4, Huệ Chi và Phong Lê có viết rằng:
“7,8 năm tù tội nung nấu trong long anh – Chí Phèo – thứ ý thức căm thù giai cấp không
nguôi”. Em có đồng ý với ý kiến trên? Vì sao?
b. Tình huống truyện “Chí Phèo” tạo điều kiện nảy sinh câu hỏi trong giờ dạy TPVC.
Vai trò của tình huống truyện.Tác phẩm tự sự thường được xây dựng với những tình huống có
cơ bản của sáng tác nghệ thuật…kết cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng
nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm không
bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm” ( Lí luận văn học – Phương Lựu,
Trần Đình Sử )
Trong tác phẩm tự sự, kết cấu làm nhiệm vụ sắp xếp hệ thống sự kiện, nhân vật, tình tiết, chi
tiết các lớp cảnh, chương hồi một cách logic hữu cơ để cốt truyện bộc lộ được chủ đề tác phẩm. Làm
nhiệm vụ tổ chức cốt truyện, kết cấu còn sắp xếp cả những yếu tố ngoài cốt truyện để hôc trợ, bổ
sung cho cốt truyện đồng thời góp phần làm phong phú nội tâm, tính cách nhân vật. Có thể nói, kết
cấu luôn là phương tiện tổ chức hình tượng nghệt huật và khái quát tư tưởng cảm xúc. Lựa chọn một
kết cấu nào, nhà văn bao giờ cũng nhằm nâng cao sức biểu hiện của đề tài và chủ đề, tăng cường sức
tác động nghệ thuật, phục vụ tối đa cho nhiệm vụ nghệ thuật và tư tưởng tác phẩm.
Để khai thác được nét độc đáo này GV nên cho HS trả lời câu hỏi:
13
- Chi tiết cái lò gạch xuất hiện ở đầu tác phẩm và lại trở lại ở cuối tác phẩm đã tạo nên một
kết cấu đặc biệt cho tác phẩm. Em suy nghĩ gì về kết cấu này và ý nghĩa của chi tiết cái lò
gạch trong truyện ngắn “Chí Phèo”?
- Hoặc: Cách kết cấu tác phẩm của Nam Cao chứa đựng nhiều nhức nhối, hãy nói suy nghĩ
của em?
- Vì sao ở cuối tác phẩm, Nam Cao để cho Chí Phèo giết chết Bá Kiến , sau đó lại tự kết liễu
cuộc đời mình bằng một cái chết đau đớn đến quằn quại ?
- Hoặc: Cách hành xử của Chí Phèo ở cuối tác phẩm là tích cực hay tiêu cực?
- Có người nói lưỡi dao trong tay Chí Phèo đã kịp thời lóe sáng để soi tỏ bộ mặt kẻ thù
nhưng tại sao Chí Phèo lại phải chết sau khi đã giết chết kẻ thù của mình?
- Đưa đoạn văn Chí Phèo say và chửi lên đầu tác phẩm, Nam Cao có dụng ý gì?
Hay
- Có người nói đoạn văn mở đầu tác phẩm “Chí Phèo” nghe có vẻ chua chát và Chí Phèo
hiện lên như một trò hề mua vui cho mọi người, em nghĩ sao?
- Hương cháo hành mong manh hư ảo mà sao nó lại có sức cảm hóa lớn lao đến vậy?
- Trong cả đoạn miêu tả diễn biến tâm lý của Chí Phèo dài ba trang giấy tác giả chỉ dành
trung vào văn học, qua một loạt những nhân vật như Chí Phèo, Binh Chức, Năm Thọ ( trong Chí
Phèo) như Trạch Văn Đoành ( trong Đôi móng giò ), như Trương Rự (trong Nửa đêm),…Tiếp theo
các nhân vật nông dân đã được miêu tả trong văn học như chị Dậu (Tắt đèn của Ngô Tất Tố), anh
Pha (Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan) nhân vật Chí Phèo của Nam Cao cũng là một điển
hình góp phần làm cho hệ thống các điển hình nông dân trong văn học hiện thực nước ta giai đoạn
1930 – 1945 càng thêm phong phú
Từ đó giáo viên có thể đặt câu hỏi:
- Những kẻ lưu manh ở làng Vũ Đại không chỉ có Chí Phèo mà còn có Binh Chức, Năm
Thọ…miêu tả những con người này nhà văn muốn khái quát lên hiện thực nào ở làng quê
Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám?
- Miêu tả Bá Kiến, các bà vợ và Lí Cường, con trai Bá Kiến, nhà văn đã nói lên hiện thực
nào ở làng quê Việt Nam trước cách mạng tháng Tám?
- Tại sao nói Nam Cao đã xây dựng lên một hoàn cảnh xã hội điển hình và những hình
tượng nhân vật mang tính điển hình?
2.3.4. Dựa vào hướng tiếp cận theo lịch sử chức năng để đặt câu hỏi khi dạy tác phẩm “Chí Phèo”
- Có người cho rằng tính thiện là cái gốc của con người. Nó không bao giờ mất đi. Từ câu
chuyện của anh Chí làng Vũ Đại em có đồng tình với ý kiến trên?
- Nhân vật Chí Phèo đáng thương hay đáng trách?
- Câu chuyện khiến người đọc cảm nhận được sức cảm hóa mãnh
liệt của tình thương. Trong cuộc sống hiện đại với nhiều sự cám dỗ , em nghĩ lẽ sống ấy có đủ sức
mạnh để giúp con người vượt qua những cạm bẫy?
15
CHƢƠNG 3
THỰC NGHIỆM
3.1. Những vấn đề chung
3.1.1. Yêu cầu thực nghiệm
Hướng dẫn học sinh kể sáng tạo thông qua tình huống
Gặp người hàng xóm của Chí Phèo, nghe bà ta kể về cuộc đời Chí
Hoặc: cô Nụ ở làng Vũ Đại một lần đi gánh nước về qua đoạn sông nhà Chí Phèo con đã gặp hắn
đang thổ một trận ở trong vườn chuối. Cô dìu hắn vào nhà, chăm sóc hắn, tới khi hắn tỉnh cô kể cho
hắn nghe về cuộc đời của cha hắn.
Hướng dẫn học sinh đọc một vài đoạn
Hãy nói về cảm giác của em khi đọc văn bản? ( CH cảm xúc vật chất )
Hoạt động 3: Hƣớng dẫn học sinh tìm hiểu hình ảnh làng Vũ Đại
II. Đọc hiểu văn bản
1. Hình ảnh làng Vũ Đại
Em hãy tìm những chi tiết (nằm rải rác trong tác phẩm) thể hiện hình ảnh làng Vũ Đại?
Em đánh giá như thế nào về không gian sống ấy
Nam Cao đã làm nổi bật mối xung đột giai cấp âm thầm mà quyết liệt ở nông thôn. Đấy chính
là hình ảnh thu nhỏ của nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám hoàn cảnh điển hình
Hoạt động 4: Hƣớng dẫn học sinh tìm hiểu nhân vật Bá Kiến
2. Hình tượng nhân vật Bá Kiến:
Nhà văn đã xây dựng được một hệ thống nhân vật điển hình.Bá Kiến là điển hình của giai cấp
thống trị. Hắn vừa mang những nét chung của bọn phong kiến tay sai: tham lam độc ác lại vừa mang
nét riêng đó là sự xảo quyệt đến “chuyên nghiêp”, hắn là kẻ gian hùng; cộng thêm tính ghen tuông
bệnh hoạn.
Hoạt động 5: hƣớng dẫn HS tìm hiểu nhân vật Chí Phèo.
3. Hình tượng nhân vật Chí Phèo:
Quá trình tha hóa:
a. Từ người nông dân lương thiện
b. Thành kẻ lưu manh
c. Đến con quỷ dữ làng Vũ Đại:
Tiết 2:
Hoạt động 1: GV dẫn dắt HS tìm hiểu nỗi niềm khao khát hoàn lƣơng và bi kịch của
nhân vật.
Khao khát hoàn lương và bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người:
Câu hỏi đóng một vai trò quan trọng đặc biệt, là “xương cốt” của bài giảng. Câu hỏi giúp GV
xây dựng được một phương án dạy tối ưu.
Xây dựng hệ thống câu hỏi nói chung và trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” nói riêng sẽ giúp
GV “đo” được khoảng cách thẩm mĩ giữa tác giả và HS, tạo điều kiện cho HS tự bộc lộ hướng
tiếp nhận, phát triển nhân cách, cá tính, tạo những xúc cảm thẩm mĩ, bộc lộ ý kiến chủ quan,
tham gia “đồng sáng tạo”.
2. Đề xuất:
Hệ thống câu hỏi trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo”
3. Khuyến nghị:
18
- Đối với GV: Giữa các giáo viên nên có sự thống nhất để hình thành bộ giáo án chuẩn và đặc
biệt chú ý đến việc xây dựng hệ thồng câu hỏi trong từng giáo án
Chú ý xây dựng câu hỏi trên cả hai phương diện : nội dung và nghệ thuật.
- Đối với HS: Tìm đọc nguyên tác
Tìm hiểu đặc trưng của truyện ngắn và trào lưu sáng tác hiện thực phê phán
- Đối với nhà soạn sách: Không nên lược phần CP và TN gặp gỡ nhau ở vườn chuối
Những phần lược nội dung nhà soạn sách có thể in nghiêng trong sách
để HS tiện theo dõi.
References.
* Tài liệu tra cứu tác giả trong nƣớc:
1. Nguyễn Viết Chữ (2001) , Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Trần Thanh Đạm (1970) , Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, Nhà xuất bản Giáo
dục.
3. Hà Minh Đức (1996), Lí luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục.
4. Nguyễn Ái Học ( 2010), Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học văn, Nhà xuất bản Giáo dục.
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội.
25. Lê – vi – tốp. N.Đ (1970), Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm, Nhà xuất bản Giáo dục.
26. I.F. Kharlamop (1978), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, Nhà xuất bản
Giáo dục.
27. I.Ia Lecne1(997), Dạy học nêu vấn đề , Nhà xuất bản Giáo dục.
28. Richard Beach, James Marshall, Giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông.
* Bài viết trên tạp chí:
29. Nguyễn Thanh Hùng(2006), “Đa dạng và hiệu quả của câu hỏi trong dạy học Văn, Nghiên cứu
giáo dục (148)
30. Nguyễn Thị Hồng Nam( 2006), “ Thiết kế câu hỏi dạy học văn – một thử thách với GV, Tạp chí
Giáo dục (147)
31. Đỗ Huy Quang (1995) , “Giờ học đối thoại, con đường giải quyết một nghịch lý trong giảng
văn”, Nghiên cứu giáo dục (2).