ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐINH THỊ THANH THỦY
RÈN KĨ NĂNG LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG TRONG DẠY HỌC
TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐINH THỊ THANH THUỶ
RÈN KĨ NĂNG LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG TRONG DẠY HOC
TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGHÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: T.S Nguyễn Trọng Hoàn
2.1.2. Mục đích liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ đọc văn……….…42
2.1.3. Phương thức liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ đọc văn…….44
2.1.4. Cơ chế liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ đọc văn…................47
2.1.5. Giới hạn của liên tưởng, tưởng tượng và vấn đề định hướng thẩm mỹ cho
học sinh…………………………………………………………………...……….49
v
2.2. Điều kiện để thực hiện một số biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng
trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12……………………………………….51
2.2.1. Chuẩn bị của giáo viên………………………………………………….….51
2.2.2. Chuẩn bị của học sinh…………………………………………………..…. 56
2.3. Một số biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm
thơ trữ tình lớp 12…………………………………………………………………59
2.3.1. Khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh………...…………59
2.3.2. Xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo…………………........ 67
2.3.3. Đa dạng hóa các hình thức luyện tập sáng tạo của học sinh……………… 71
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM………………………………...…….79
3.1. Các vấn đề chung…………………………………………………………..…79
3.1.1. Mục đích thực nghiệm………………………………………………….…..79
3.1.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm………………………………………....79
3.1.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm…………………………………....80
3.1.4. Chọn giáo viên dạy thực nghiệm………………………………………..….81
3.2. Tiến hành thực nghiệm…………………………………………………...…..82
3.2.1. Quy trình tiến hành thực nghiệm……………………………………...……82
3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm…………………………………………..…..82
3.3. Kết quả thực nghiệm và xử lý kết quả thực nghiệm………………..……….103
3.3.1. Kết quả thực nghiệm……………………………………………………....103
Bảng 1.2
Th
Bảng 1.3
Th
Bảng 3.1
Ph
Bảng 3.2
Tổ
Bảng 3.3
Th
Bảng 3.4
Ph
Bảng 3.5
Gi
iii
kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá IX khi nói về giáo dục đào tạo đã nhấn mạnh
“Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương
pháp dạy và học phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh,
sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn…”(Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia 2001, tr.108, 109).
Như vậy trên con đường hội nhập với thế giới, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt
chú trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, trong đó yêu cầu phải
đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy là vấn đề then chốt.
Gần đây nhất, trong lần thay sách giáo khoa Ngữ văn 2006 cấp THPT,
1
việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi mới
phương pháp dạy học. Chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy và học chúng ta
mới có thể tạo được sự đổi mới sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp
người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều
nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
1.2. Môn Ngữ văn vừa nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân
văn, bộ môn thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ, vừa là một bộ môn có tính chất
công cụ. Những ưu điểm và hạn chế của việc thực hiện chương trình Ngữ văn
phổ thông đòi hỏi cần có phương pháp dạy học đặc thù, dạy học phải hướng vào
hoạt động sáng tạo của HS - HS không còn là khách thể mà giữ vai trò chủ thể
sáng tạo trong khám phá và chiếm lĩnh giá trị tác phẩm. Tiếp nhận TPVH trong
nhà trường trở thành quá trình đồng sáng tạo. Trong quá trình tiếp nhận TPVH
nói chung và tác phẩm thơ trữ tình nói riêng liên tưởng, tưởng tượng có vai trò
quan trọng. “Liên tưởng là đầu mối của những rung động thẩm mĩ…” và “tưởng
tượng như chiếc cầu nối giữa người đọc với người viết” [16, tr. 90]. Liên tưởng,
tưởng tượng được xác định là năng lực quan trọng trong quá trình TNVH. Liên
tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS góp phần chuyển hóa tác phẩm của tác
giả thành tác phẩm trong hành trang tinh thần của HS. Trong dạy học TPVH, liên
Khoa học nghiên cứu phương pháp dạy học văn đã được hình thành trên cơ
sở ứng dụng thành tựu của các khoa học liên ngành: Tâm lý học, Tâm lý học
sáng tạo văn học nghệ thuật, Lịch sử văn học, Lý thuyết cảm thụ và tiếp nhận
văn học, Tâm lý học hoạt động học tập của HS... Vấn đề liên tưởng và tưởng
tượng nghệ thuật nói chung từng thu hút sự quan tâm không chỉ giới sáng tác mà
còn là vấn đề hấp dẫn đối với các nhà khoa học sư phạm, bởi nó có mối quan hệ
3
đặc biệt sâu sắc với hoạt động học của HS trong nhà trường. Trong đó có thể kể
đến những luận điểm nổi bật sau:
Liên tưởng, tưởng tượng có một vai trò quan trọng trong TNVH, có thể kể
đến như: Cảm thụ và giảng dạy văn học của tác giả Phan Trọng luận NXB Giáo
dục (1983); Dạy văn dạy cái hay cái đẹp của tác giả Nguyễn Duy Bình, NXB
Giáo dục (1983); Giảng văn, nhiều tác giả, Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí
Minh (1981)...
Giáo sư Phan Trọng luận cho rằng: "Liên tưởng là đầu mối của những rung
động thẩm mỹ... Liên tưởng không những là cần thiết để lĩnh hội được bề trong
của hình tượng, mà còn giúp mở rộng và đào sâu sự sống chứa đựng trong đó",
và "tưởng tượng như chiếc cầu nối người đọc với người viết. Tưởng tượng nâng
tâm hồn, suy nghĩ người đọc đến gần với người viết. Thiếu năng lực tưởng tượng
thì làm sao hiểu được ý tình nằm sâu kín trong giấy trắng mực đen, chữ viết.
Đằng sau và bên dưới từng trang giấy, từng nét chữ, có tiếng nói, hơi thở, nhịp
tim của nhà văn, có sức hoạt động của các nhân vật" [16, tr. 90- 95]. Năng lực đó
có thể được xem như sự biểu hiện và dấu hiệu đặc trưng của cảm thụ văn học;
nếu không có nó, việc lĩnh hội tác phẩm thực sự sẽ gặp phải những khó khăn.
Vai trò của liên tưởng và tưởng tượng trong dạy học văn cũng được tác giả
Nguyễn Duy Bình khẳng định: "Quá trình dạy tác phẩm văn học chỉ có thể thực
hiện một cách có hiệu lực thật sự khi nào nội dung tác phẩm được tái hiện trong
đọc trong nhà trường thông qua hai yếu tố trung gian là văn bản tác phẩm và sự
tổ chức, hướng dẫn nhận thức của GV. Dường như dưới hình thức nào, hoạt động
dạy học văn vẫn có những "cuộc giao tiếp im lặng" giữa bạn đọc và nhà văn,
trong đó trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng có vai trò “chìa khóa” mở ra thế
giới nghệ thuật phong phú mà nhà văn tạo dựng.
6
Liên tưởng, tưởng tượng trong mối quan hệ với hoạt động tích cực của bạn
đọc - HS. Trong cuốn Phương pháp dạy học văn do Z. Ia. Rez chủ biên, NXB
Giáo dục (1983) đã dưa ra quan điểm coi HS là một thành viên chính thức trực
tiếp tham gia xây dựng nội dung kiến thức trong quá trình phân tích tác phẩm
văn học, thông qua quá trình đồng thể nghiệm nghệ thuật góp phần hình thành
phẩm chất của bạn đọc HS trong nhà trường.
Trong báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học đổi mới Phương Pháp dạy học văn
theo hướng “HS là trung tâm” Giáo sư Phan Trọng Luận kết luận: Tiêu chí cao
nhất là tri thức, cảm xúc được hình thành bằng cách nào đó có phải tự HS chiếm
lĩnh thông qua những việc làm, những thao tác để rồi tự HS thực sự tự phát triển
(về mọi mặt kiến thức, tâm hồn, kỹ năng...). Đó là bản chất của đổi mới phương
pháp dạy học văn, trong đó khả năng tư duy sáng tạo thể hiện bằng con đường
liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật được xem như những hoạt động hướng nội,
hoạt động bên trong của chủ thể HS.
Vai trò của liên tưởng, tưởng tượng trong cấu trúc hoạt động TNVH của HS
được đề cập tới trong cuốn Phương pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ
biên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (1996); Phương pháp tiếp cận tác phẩm
văn học của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương, NXB Giáo dục (1998).
Giáo sư Phan Trọng Luận xác định vị trí, vai trò quan trọng của liên tưởng,
tưởng tượng của HS qua mô hình về quá trình thâm nhập một tác phẩm văn học
đọc âm vang (bình diện 1, hình ảnh bậc 1), đọc // hồi ức // liên tưởng (bình diện
2, hình ảnh bậc 2), đọc // tưởng tượng (bình diện 3, hình ảnh bậc 3), đọc // suy
nghệ thuật của HS lớp 12 trong quá trình tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình trong
8
SGK lớp 12, chương trình chuẩn. Bao gồm hoạt động tổ chức hướng dẫn nhận
thức của GV và hoạt động học của HS trên cùng một đối tượng thẩm mỹ là tác
phẩm thơ trữ tình lớp 12.
Đối tượng nghiên cứu là năng lực liên tưởng, tưởng tưởng nghệ thuật của HS
lớp 12 trong quá trình tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình trong SGK lớp 12, chương
trình chuẩn không thể tách rời và biệt lập với những nghiên cứu về vai trò của
liên tưởng, tưởng tượng trong hoạt động tâm lý cũng như trong sáng tạo nghệ
thuật. Bởi lẽ đó là tiền đề cho việc nghiên cứu năng lực liên tưởng, tưởng tưởng
nghệ thuật của HS trong quá trình TNVH.
Hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của HS không phải là hoạt động mang
tính đơn nhất, biệt lập trong giờ dạy học TPVH. Vì vậy, nghiên cứu hoạt động
này phải trên cơ sử nghiên cứu mối quan hệ với những hoạt động khác của HS
như: đọc, kể, tóm tắt, phân tích, so sánh, ….
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi cụ thể là 5 tác phẩm thơ trữ tình trong
SGK lớp 12, chương trình chuẩn.
-
-
Bài 1: Tây Tiến (Quang Dũng)
-
Bài 2: Việt Bắc (Đoạn trích - Tố Hữu)
Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn của hoạt động liên tưởng,
tưởng tượng nghệ thuật của HS trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình.
-
Đề xuất một số biện pháp để rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật
của HS thông qua các tác phẩm thơ trữ tình lớp 12, chương trình chuẩn.
-
Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo hướng phát huy năng lực liên tưởng,
tưởng tượng nghệ thuật của HS để khẳng định tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
5.
Giả thuyết khoa học
Trong bối cảnh dạy học tác phẩm văn chương còn mang tính thụ động, nếu
hình thành được kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật cho học sinh khi tiếp
nhận tác phẩm thơ trữ tình sẽ phát huy được năng lực tự học, tư duy sáng tạo của
học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tác phẩm thơ trữ tình.
6.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Hệ thống hoá, tổng hợp, vận dụng các kiến
thức làm sáng rõ bản chất của của hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của HS
trong hoạt động tâm lý cũng như trong sáng tạo nghệ thuật và quá trình TNVH
- tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình.
10
TNVH cũng là cả một quá trình. TNVH là một quá trình lâu dài, có nhiều cấp độ.
Đó là quá trình tri giác ngôn ngữ, phân tích, cắt nghĩa, hồi tưởng, liên tưởng, tưởng
tượng, so sánh, tổng hợp, quá trình cụ thể hóa và khái quát hóa. TNVH là một quá
trình tâm lí phức tạp vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan.
1.1.1.1.Tính chủ quan trong tiếp nhận văn học
Chủ quan trong tiếp nhận là một thuộc tính bởi vì quá trình tiếp nhận là quá
trình diễn ra trong tư duy, tình cảm, tâm lí, sinh lí của con người, nó hoàn toàn
phụ thuộc vào thị hiếu của bạn đọc. Vì vậy, trước một TPVH, một vấn đề, một sự
kiện văn học... mỗi bạn đọc lại có cách tiếp nhận khác nhau.
Sự TNVH ở mỗi bạn đọc nông sâu khác nhau, nó phụ thuộc vào tư chất cá
nhân mỗi con người, vào đặc điểm tâm lý, khả năng phát triển, thiên hướng, đời
sống nội tâm của người tiếp nhận, vào trình độ năng lực tiếp nhận, vốn sống, sự
hiểu biết về văn học nghệ thuật và sự tác động nhất định của dư luận xã hội cũng
như xu thế thời đại. Bởi thế, TNVH cũng đòi hỏi người đọc không chỉ có khả
năng tâm lý sáng tạo mà còn những phẩm chất riêng. Ở cấp độ cá nhân, tiếp nhận
văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp và trước hết bởi cấu tạo chức năng của các giác
quan lành mạnh (con mắt, lỗ tai, sự trực cảm, tư duy...) và khả năng tri giác ngôn
ngữ, lưu giữ hình ảnh, hình thành biểu tượng, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh,
khái quát... Bên cạnh đó, với người đọc vấn đề tiếp nhận còn tùy thuộc hứng thú
thẩm mỹ, ước mơ, khát vọng, thiên hướng và khả năng phát triển...trong bối cảnh
riêng tư và những đòi hỏi bức xúc của nhu cầu khẳng định bản thân.
12
Sự năng động chủ quan và tính chất "tự do" của chủ thể tiếp nhận trong quá
trình "đối thoại" với nhà văn thông qua tác phẩm vừa thể hiện xu hướng "đồng
nhất thẩm mỹ" vừa tạo nên "khoảng cách thẩm mỹ". Đó là tính đặc thù đồng thời
là quy luật của TNVH. Người đọc có thể đồng tình hay không đồng tình với cách
đặt vấn đề cũng như sự lý giải (tư tưởng nghệ thuật) của nhà văn; người đọc
của tác giả cũng như tác phẩm.
1.1.1.2. Tính khách quan trong tiếp nhận văn học
TPVH là thế giới tinh thần của nhà văn, nó tồn tại khách quan và độc lập với
bạn đọc, nó mang trong mình lớp nghĩa hàm ngôn và hiển ngôn. Tính khách quan
trong TNVH được quy định bởi nội dung ý nghĩa khách quan của TPVH. Dù muốn
hay không khi sáng tác nhà văn phải có sự liên hệ hữu cơ với trào lưu tư tưởng xã
hội nhất định. Vì vậy tiếp nhận chủ quan của bạn đọc cũng phải căn cứ vào ý nghĩa
khách quan của hiện tượng trong văn bản. Tính chủ quan chỉ là một phương diện
của hoạt động cảm thụ. Tính chủ quan chỉ được giải thích trong mối quan hệ với
tính khách quan. Xác định tính khách quan trong TNVH là chấp nhận mối quan hệ
giữa tồn tại và ý thức, xã hội và cá nhân. Con người là tổng hòa của nhiều quan hệ
xã hội, làm sao mỗi chủ thể lại là một đơn vị biệt lập không chịu ảnh hưởng những
tác nhân lịch sử xã hội mà chính họ dù muốn hay không vẫn cần phải tắm mình
trong đó. Chính những điều kiện lịch sử, giai cấp, thời đại đã tạo nên khuynh
hướng, chiều hướng khách quan của cảm thụ văn học nghệ thuật cá nhân. Thường
cảm hứng lịch sử, không khí tâm lí thời đại quy định một cách rất đậm nét tâm lí
người cảm thụ và hiệu suất cảm thụ. Không hòa nhập vào không khí lịch sử thời đại
của TPVH không thể hiểu được vẻ đẹp của nó. Xét trong mối quan hệ giữa bạn đọc
và tác phẩm, chúng ta thấy rằng bản thân tác phẩm sẽ quy định chiều hướng và hiệu
suất cảm thụ của người đọc. Tính khác quan
14
của TNVH còn phụ thuộc vào sự khác nhau của thể loại và phương diện thể
hiện. Tuy nhiên nói đến tính chủ quan và tính khách quan trong TNVH là hai
phương diện, hai mặt của một quá trình thống nhất. Tuyệt đối hóa chủ quan là sa
vào con đường duy tâm chủ quan, phủ nhận vai trò của tồn tại đối với ý thức.
Ngược lại chỉ thấy phương diện khách quan mà loại trừ gạt bỏ tính năng động
chủ quan của chủ thể thì rơi vào nhận thức máy móc. Hai yếu tố khách quan và
nhớ để hồi cố những ký ức tình cảm và vốn sống, vốn văn học… trong việc xây
dựng biểu tượng. Mỗi lần có sự nhớ lại thì lại không phải là sự sao chép đúng
hoàn toàn cái đã xảy ra khi tri giác nên biểu tượng được nhớ lại trong trí nhớ
cũng không phải sự sao chép hoàn toàn những tri giác đã có trước đây, mà có sự
biến dạng ít nhiều. Về hiện tượng này, A.Ruđích lý giải: "Bất kỳ sự ghi nhớ hay
học thuộc nào cũng đòi hỏi phải thiết lập các mối liên hệ thần kinh tương ứng
hay còn gọi là liên tưởng" [24, tr. 293]
Hoạt động liên tưởng. „„Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa các yếu tố tâm lý, nhờ
đó sự xuất hiện của một yếu tố này trong những điều kiện nhất định gây nên một
yếu tố khác liên quan với nó ” [11, tr. 24]. Tâm lý học phân biệt ba loại liên tưởng:
Liên tưởng gần nhau: diễn ra theo cơ chế tác động hệ quả, thể hiện mối liên
hệ lôgích thứ tự hô ứng do ký ức tự gợi ra.
Liên tưởng giống nhau (hay còn gọi là liên tưởng tương đồng): dựa vào các mối
liên hệ thần kinh do hai đối tượng giống nhau gây nên. Chúng xảy ra trong trường
hợp sự tri giác về một vật thể nào đó sẽ gây nên trong trí nhớ sự nhớ lại một vật thể
tương tự ngay cả lúc nó không được tri giác đồng thời hay bên cạnh vật thứ nhất.
Hiện tượng liên tưởng này có ý nghĩa tích cực vì nó tạo cho chủ thể có cơ sở so
sánh, đồng thời làm cho việc ghi nhớ có chủ đích đạt hiệu quả tốt hơn.
Liên tưởng tương phản: có hình thức gần với liên tưởng giống nhau, nhưng
16
ở đây sự tri giác một vật thể nào đó lại gây nên trong trí nhớ hồi ức về một vật
thể khác có những dấu hiệu (đặc điểm, tính chất) hoàn toàn ngược lại. So với
liên tưởng giống nhau, loại liên tưởng này giúp cho con người có khả năng tư
duy so sánh rõ hơn.
Hoạt động tưởng tượng. Có thể xem "tưởng tượng là một quá trình tâm lý
phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây