hướng dẫn học sinh trung học phổ thông xác định chủ đề tư tưởng qua việc phát hiện, phân tích, bình giá biểu tượng bóng tối và ánh sáng trong dạy học tác phẩm hai đứa trẻ của thạch lam - Pdf 24




HƢỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG XÁC ĐỊNH CHỦ
ĐỀ TƢ TƢỞNG THÔNG QUA VIỆC PHÁT HIỆN, PHÂN TÍCH, BÌNH
GIÁ BIỂU TƢỢNG BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG TRONG DẠY HỌC TÁC
PHẨM “HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2010

Mã số: 601410 Ng ƣời hƣớng dẫn khoa h ọc: Giáo sƣ tiến sĩ. Nguyễn Thanh Hùng HÀ NỘI - 2010

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin trân trọng cảm ơn các cán bộ, giảng viên
trường Đại học Giáo Dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã đã tận tình giảng
dạy, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới
GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình, chu
đáo, giúp đỡ, hướng dẫn tác giả thực hiện đề tài này.
Cuối cùng, xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp đã động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành tốt
luận văn này.

10
1.1. Biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật
10
1.1.1. Khái niệm biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật
10
1.1.2. Sự giống nhau và khác nhau giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ
thuật

14
1.1.3. Biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương
16
1.1.4. Mối quan hệ giữa biểu tượng nghệ thuật với không gian nghệ
thuật và thời gian nghệ thuật, với ý đồ sáng tạo và phong cách nghệ
thuật của nhà văn 18
1.1.5. Cách thể hiện của biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn
chương

20
1.2. Mối quan hệ giữa biểu tượng nghệ thuật trong việc xác định chủ đề
tư tưởng của tác phẩm văn chương

21
1.2.1. Vai trò của biểu tượng nghệ thuật trong việc xác định chủ đề tư
tưởng của tác phẩm văn chương

21
1.2.2. Chủ đề tư tưởng định hướng việc lựa chọn biểu tưởng nghệ thuật

2.2.3. Biểu tượng bóng tối và biểu tượng ánh sáng bổ sung, tương hỗ
nhau

35
2.3. Ý nghĩa của biểu tượng bóng tối và biểu tượng ánh sáng trong việc
xác định chủ đề tư tưởng của tác phẩm “Hai đứa trẻ”

36
2.3.1. Ý nghĩa của biểu tượng bóng tối và biểu tượng ánh sáng
36
2.3.2. Ý nghĩa của biểu tượng bóng tối và biểu tượng ánh sáng trong
việc xác định chủ đề tư tưởng của tác phẩm “Hai đứa trẻ”

37
2.4. Những biện pháp hướng dẫn học sinh Trung học phổ thông phát
hiện, phân tích, bình giá biểu tượng bóng tối và biêủ tượng ánh sáng
trong dạy học tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam 39
2.4.1. Đọc, phát hiện chi tiết nghệ thuật thể hiện biểu tượng bóng tối và
biểu tượng ánh sáng

41
2.4.2. Đọc, phân tích ý nghĩa nội dung và nghệ thuật của biểu tượng
bóng tối và biểu tượng ánh sáng

41
2.4.3. Đọc, bình giá biểu tượng bóng tối và biểu tượng ánh sáng
42

Chƣơng 3 : THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM DẠY HỌC TÁC PHẨM
“HAI ĐỨA TRẺ”

48
3.1. Thiết kế giáo án tác phẩm "Hai đứa trẻ"
48
3.1.1. Mục đích thiết kế
48
3.1.2. Nội dung thiết kế
49
3.1.3. Đánh giá thiết kế
63
3.1.4. Giải thích, hướng dẫn thực hiện thiết kế
64
3.2. Thể nghiệm dạy học
65
3.2.1. Mục đích của thể nghiệm
65
3.2.2. Đối tượng và địa bàn thể nghiệm
65
3.2.3. Phương pháp tiến hành thể nghiệm
66
3.2.4. Quy trình thể nghiệm
66
3.2.5. Đánh giá kết quả thể nghiệm
66
3.2.6. Kết luận chung về quá trình thể nghiệm
67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
68

học, văn hoá; tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng tự hào dân tộc, ý
chí tự lực tự cường, lí tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn;
giáo dục học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc
tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại”
(Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn – nhà xuất bản giáo dục).
Như vậy việc bồi dưỡng, phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh được
các nhà giáo dục đặc biệt lưu ý. Trong bối cảnh mà đạo đức của học sinh có
nhiều vấn đề đáng quan tâm, lo ngại như hiện nay thì việc giáo dục hướng học
sinh tới chân, thiện, mĩ là một trách nhiệm lớn của giáo dục, cũng như đối với
môn Ngữ văn. Tác phẩm được lựa chọn vào giảng dạy trong chương trình
phải chứa đựng những chủ đề tư tưởng lớn. Chủ đề tư tưởng đó phải phù hợp
2
với mục tiêu giáo dục và đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh. Vì vậy
việc chọn lựa tác phẩm và phương pháp giảng dạy của giáo viên phải hướng
tới bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách học sinh.
1.2. Biểu tượng nghệ thuật
Ngay từ buổi đầu tiên khi con người muốn biểu thị thông tin, gửi gắm
“thông điệp” của mình cho người khác hay cho thế hệ sau thì họ đã biết vạch
lên vách đá, lên đất sét những hình ảnh, kí hiệu. Người đời sau coi những hình
ảnh, kí hiệu ấy là những biểu tượng đầu tiên của loài người. Qua thời gian
biểu tượng càng được mở rộng và yêu cầu của cái được gọi là biểu tượng
cũng khắt khe hơn. Biểu tượng không còn là khái niệm của đời sống mà đã đi
vào văn chương nghệ thuật. Trong văn học biểu tượng nghệ thuật là một yếu
tố quan trọng làm lên thành công cho tác phẩm. Các tác giả cũng quan tâm
nhiều hơn đến việc sáng tạo biểu tượng nghệ thuật. Chính sự quan tâm này đã
tạo ra nhiều biểu tượng nghệ thuật đặc sắc trong rất nhiều tác phẩm văn học.
Những đọc giả, những nhà nghiên cứu và các giáo viên khi tiếp xúc với tác
phẩm nếu được sự dẫn đường của biểu tượng nghệ thuật sẽ cảm nhận dễ dàng
và sâu sắc chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nhờ vậy việc chuyển tải nội dung
bài học đến với học sinh cũng có nhiều thuận lợi hơn.

thuyết, truyện ngắn, bút ký và bình luận văn học. Về bút ký với “Hà Nội băm
sáu phố phường” đã được nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đánh giá “Viết về
Hà Nội chưa có cuốn nào vượt qua”. Điều đó đủ thấy sự thành công của
Thạch Lam về thể loại này bên cạnh những tên tuổi lớn. Nhưng tiểu thuyết
của ông lại không mấy thành công. Cuốn tiểu thuyết duy nhất “Theo dòng”
của ông không thu hút được sự chú ý như ông mong muốn. Bạn đọc dành
nhiều sự quan tâm hơn đến các tập truyện ngắn của Thạch Lam. Với truyện
ngắn, Thạch Lam được coi là “Một nhà văn có biệt tài về truyện ngắn” (Sách
giáo khoa Ngữ Văn 11 – Nhà xuất bản giáo dục). Nguyễn Tuân đã viết: “Nói
4
đến Thạch Lam, người ta vẫn nhớ đến truyện ngắn nhiều hơn là truyện dài”
và khẳng định về mặt nghệ thuật viết truyện ngắn “Một số truyện ngắn của
Thạch Lam có thể coi là mẫu mực được”. Và để khẳng định công lao của
Thạch Lam với văn xuôi Việt Nam ông nhấn mạnh: “ Bằng sáng tác văn học,
Thạch Lam đã làm cho tiếng nói Việt Nam gọn ghẽ đi, co duỗi thêm, mềm mại
ra, và tươi đậm hơn. Thạch Lam có đem sinh sắc vào tiếng ta”.
Tác phẩm “ Hai đứa trẻ ” là một trong những truyện ngắn xuất sắc của
nhà văn Thạch Lam. Qua rất nhiều lần cải cách, thay đổi sách giáo khoa
nhưng tác phẩm “Hai đứa trẻ” vẫn luôn được chọn giữ lại trong chương trình
Ngữ Văn Trung học phổ thông . Điều này đủ thấy đóng góp của tác phẩm và
tầm quan trọng của truyện ngắn “Hai đứa trẻ” trong cái nhìn của các nhà giáo
dục. Đây là một tác phẩm chứa đựng nhiều giá trị nên đã có rất nhiều bài
nghiên cứu. Tuy nhiên đối với tác phẩm này còn nhiều vấn đề về nội dung
cũng như hình thức nghệ thuật chưa được chú ý khai thác, đánh giá đúng
mức. Vì vậy khi nghiên cứu về Thạch Lam tôi xin đưa ra một hướng mới để
có thể tìm hiểu tác phẩm đầy đủ hơn, toàn diện hơn.
1.4. Hứng thú của giáo viên
Tôi là một giáo viên đứng lớp đã được một số năm và đã giảng dạy
tác phẩm “Hai đứa trẻ” nhiều lần. Qua quá trình giảng dạy tôi chưa thực sự
thấy toại nguyện với nội dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy bấy lâu

ý kiến đánh giá khác nhau, thậm chí có lúc trái chiều nhau nhưng tựu chung
lại đều khẳng định tài năng và giá trị văn chương lớn lao của Thạch Lam: “
Thạch Lam đã sống một đời văn quá ngắn ngủi nhưng những tác phẩm văn
chương của ông thì còn mãi. Có lẽ nhiều thế hệ bạn đọc sau này vẫn sẽ còn
đón đọc Thạch Lam bởi ở đó họ không chỉ tìm thấy những vẻ đẹp mang giá trị
vĩnh hằng mà còn tìm thấy bóng dáng của đời sống tinh thần, đời sống nội
tâm phong phú của chính mình” (Lê Dục Tú).
6
Ngoài ra còn nhiều bài báo, chuyên luận, khoá luận, luận văn thạc sĩ,
luận án tiến sĩ… của nhiều tác giả viết về Thạch Lam cũng như các tác phẩm
của ông. Và rất nhiều tham luận trong các buổi hội thảo khoa học về Thạch
Lam được các tác giả trình bày rất công phu, thể hiện sự dày công tìm tòi,
nghiên cứu về Thạch Lam.
2.2. Tác phẩm “Hai đứa trẻ”
Thứ hai là những bài viết về tác phẩm “ Hai đứa trẻ” – tác phẩm đ-
ược giảng dạy trong nhà trường. Đối với tác phẩm này đã có rất nhiều tác giả
viết bài tìm hiểu, nghiên cứu. Như “Giảng bình truyện ngắn Hai đứa trẻ” –
Văn Tâm, “Truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam” – Nguyễn Thanh
Hồng, “Phố huyện của Thạch Lam” - Đỗ Đức Hiểu v v Các tác giả trên đã
đi vào tìm hiểu những sáng tạo về nghệ thuật cũng như những thành công về
nội dung của tác phẩm. Tác phẩm này có thể nói là đã được khai thác tìm hiểu
khá kĩ lưỡng trên nhiều phương diện.
Riêng với vấn đề khai thác chi tiết nghệ thuật “ánh sáng và bóng tối”
trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, Tiến sĩ Hoàng Thị Huế –
Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Huế đã có bài viết “ Nghệ thuật sử dụng ánh
sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ”. Trong bài viết của
mình tiến sĩ đã chỉ ra những chi tiết nghệ thuật miêu tả bóng tối và những chi
tiết nghệ thuật miêu tả ánh sáng trong hai tác phẩm. Từ đó chỉ ra “ánh sáng và
bóng tối được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật nòng cốt”, “biểu hiện
cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu

về Thạch Lam và văn chương của Thạch Lam rất phong phú và đa dạng. Đặc
biệt với tác phẩm “Hai đứa trẻ” các nhà nghiên cứu đã đưa ra những công
trình rất có giá trị. Tất cả điều trên chứng tỏ Thạch Lam đã có một vị trí vững
chắc trong lòng đọc giả nhiều thế hệ. Tác phẩm của Thạch Lam đã đi sâu vào
lòng người, khơi gợi trong mỗi người những tình cảm tốt đẹp. Tuy nhiên các
8
bài nghiên cứu mới đưa ra những cái nhìn chung, khái quát hoặc đề cập đến
các phương diện khác của nội dung như chủ nghĩa nhân đạo, hiện thực, nhân
sinh …và nghệ thuật như ngôn ngữ, nhân vật, kết cấu, chất trữ tình … Vì vậy
trong đề tài của mình tôi muốn đi sâu, tìm hiểu về biểu tượng bóng tối và ánh
sáng trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng trong tác phẩm Hai đứa trẻ của
Thạch Lam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam và
đặc biệt quan tâm tới mối quan hệ giữa biểu tượng nghệ thuật và chủ đề tư
tưởng trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam có rất nhiều vấn đề để khai thác
trong phạm vi luận văn tôi chỉ nghiên cứu: xác định chủ đề tư tưởng của tác
phẩm “Hai đứa trẻ” thông qua biểu tượng bóng tối và ánh sáng.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện luận văn này tôi muốn đưa ra một hướng để tìm hiểu tác
phẩm “Hai đứa trẻ” bằng cách hướng dẫn học sinh Trung học phổ thông xác
định chủ đề tư tưởng của tác phẩm “Hai đứa trẻ” thông qua biểu tượng bóng
tối và ánh sáng.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hướng dẫn học sinh Trung học phổ thông phát hiện, phân tích, bình
giá biểu tượng bóng tối và ánh sáng trong tác phẩm “ Hai đứa trẻ” của Thạch

10
Chương 1: TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật
1.1.1. Khái niệm biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật
1.1.1.1. Khái niệm biểu tượng
Nguồn gốc từ biểu tượng (symbol) bắt nguồn từ tiếng Hy – Lạp, có
nghĩa là đồng song hành hay đồng tồn tại, giống như hai vật sánh kề nhau để
xem “kẻ nào tám lạng – người nào nửa cân”. Hay một vật được cắt làm đôi,
mảnh sứ, gỗ hay kim loại hai bên mỗi bên giữ một phần, chủ và khách, người
cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài…
Sau này lắp ráp hai mảnh lại với nhau, họ sẽ nhận ra mối dây thân tình xưa,
món nợ cũ, tình bạn ngày trước. Biểu tượng chia ra và kết lại với nhau, nó
chứa hai ý tưởng phân ly và tái hợp, nó gợi lên ý một cộng đồng đã bị chia
tách và có thể tái hình thành. Qua thời gian khái niệm về biểu tượng đã có
nhiều thay đổi và được mở rộng rất nhiều về nghĩa. Có rất nhiều quan niệm và
cách định nghĩa khác nhau về biểu tượng.
Trong triết học và tâm lí học, biểu tượng là khái niệm chỉ một giai
đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự
vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào các giác quan của
ta đã chấm dứt. Như vậy các nhà triết học và tâm lí học đã xem xét biểu tượng
như là một giai đoạn của nhận thức, của quá trình tư duy của con người.
Nhưng chúng ta không xem xét biểu tượng dưới góc độ đó mà xem xét biểu
tượng dưới góc độ của một nhà nghiên cứu văn học.
Tác giả Nguyễn Duy Lẫm trong cuốn Biểu trưng (Nhà xuất bản từ
điển Bách Khoa) phân biệt biểu tượng với biểu trưng. Biểu trưng: “là những
kí hiệu và hình ảnh, có chức năng thông tin, truyền đạt thông điệp qua kênh
thị giác, để biểu thị một đối tượng hoặc một ý niệm nào đó trong đời sống xã
hội”. Cho nên biểu trưng thường là kí hiệu để nhận biết, có thể phai mòn theo
năm tháng. Nhưng biểu tượng là một hình thức tín hiệu có nội hàm phong phú
11

biết hay bị che giấu đối với chúng ta”.
Trong cuốn “ Cẩm nang Mỹ học – Nghệ thuật – Thơ ca – Phê bình”
do tác giả Nguyễn Hoàng Đức tuyển dịch (theo Bách khoa New Catholic -
Nhà xuất bản Văn hoá nghệ thuật) đã quan niệm: “Biểu tượng là cái chất
trên vai một trọng trách – qua đó chúng ta tìm thấy một hình thù – cái chứa
đựng một sức văng vô giới hạn hay một tiềm năng tự siêu vượt khỏi thân
hình”. Biểu tượng mang trong mình trọng trách thể hiện những ý nghĩa khác,
vượt khỏi bản thân của biểu tượng. Và ý nghĩa mà biểu tượng biểu thị có
một “sức văng vô giới hạn” – ý nghĩa của nó rất phong phú, đa dạng. Có lẽ
ngay khi hình thành biểu tượng các tác giả - những cha đẻ của biểu tượng
cũng không hình dung hết được ý nghĩa mà nó mang lại có thể nhiều và
phong phú đến vậy.
Các tác giả dù có quan niệm như thế nào về biểu tượng thì nó vẫn có
một nét nghĩa chung xuất phát từ ý nghĩa của từ gốc. Nó là dấu hiệu để ta có
thể nhận biết, hiểu hơn về một đối tượng khác mà giữa chúng có một sợi dây
liên kết. Đó có thể là mối tương quan rất tự nhiên hoặc một liên kết nào đó về
mặt ý nghĩa. Mối quan hệ đó thường được đem so sánh với ẩn dụ và hoán dụ.
Sách “Từ điển thuật ngữ văn học” (Nhà xuất bản giáo dục) khẳng định:“Biểu
tượng giống với ẩn dụ, hoán dụ, biểu tượng cũng được hình thành trên cơ sở
đối chiếu, so sánh các hiện tượng, đối tượng có những phương diện, khía
cạnh, những đặc điểm gần gũi, tương đồng, nhằm làm nổi bật bản chất, tạo
ra một ý niệm cụ thể, sáng tỏ về hiện tượng hay đối tượng đó”. Và khác nhau
ở chỗ “Biểu tượng không loại bỏ ý nghĩa cụ thể, cảm tính của vật tượng trưng
hoặc của hình tượng nghệ thuật. Trong khi đó ẩn dụ, hoán dụ có xu hướng
làm mờ đi ý nghĩa biểu vật trực quan của lời nói.” Nếu như ý nghĩa của ẩn
dụ, hoán dụ chỉ có ý nghĩa trong ngữ cảnh cụ thể của từng văn bản, thì ý
13
nghĩa của biểu tượng tồn tại ở cả ngoài văn bản. Ví dụ như trường hợp, khi Tố
Hữu viết:
“Áo chàm đưa buổi phân li

tác giả. Biểu tượng nghệ thuật gắn liền với những sáng tạo về nghệ thuật và
thường hướng tới chân, thiện, mĩ Thể hiện quan điểm thẩm mĩ về cái đẹp,
cái cao cả của tác giả.
1.1.2. Sự giống nhau và khác nhau giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật
1.1.2.1. Sự giống nhau giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật
Ở phần trên ta đã tìm hiểu khái niệm của biểu tượng và biểu tượng
nghệ thuật cũng như đã phân tích các khía cạnh khác nhau của khái niệm.
Khái niệm về biểu tượng ra đời trước và biểu tượng nghệ thuật ra đời sau,
cùng với sự xuất hiện của các ngành nghệ thuật. Biểu tượng nghệ thuật ra đời
sau và là một bộ phận nhỏ thuộc về cái riêng được chia tách từ cái chung là
biểu tượng nên giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật có những điểm
chung nhất định.
Giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật đều có tính hai mặt. Nó
luôn bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Tức là lấy cái này biểu đạt ý
nghĩa khác. Biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật đều mang trong mình ý
nghĩa lớn lao vượt ra ngoài bản thân nó.
Mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là mối quan hệ có
lí do. Hay nói như tác giả cuốn “Biểu tượng văn hoá thế giới” : “Biểu tượng
có sự đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực
năng động tổ chức”. Mối quan hệ này là một sự gắn bó rất mật thiết.
1.1.2.2. Sự khác nhau giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật
Giữa biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật nói riêng có điểm chung
nhưng cũng có những nét khác biệt nhất định. Sự khác biệt này là do đặc
trưng của lĩnh vực nghệ thuật qui định lên.
15
Trong quá trình phát triển của mình biểu tượng luôn có xu hướng
được bổ sung ý nghĩa. Có thể ban đầu biểu tượng chỉ biểu thị một ý nghĩa nào
đó nhưng sau đó nó được bổ sung thêm một số ý nghĩa mới . Chẳng hạn như
con chim bồ câu ban đầu là một con vật biểu tượng cho sự trong sáng, chất
phát, thuần khiết, là biểu tượng cho nền hoà bình. Qua thời gian, chim bồ câu

thuật ngoài tồn tại trong môi trường thời đại, nó còn tồn tại trong một môi
trường không bao giờ mất đi: chỉnh thể tác phẩm. Thời đại, môi trường văn
hoá xã hội có thể không cùng hiện hữu nhưng tác phẩm thì luôn tồn tại. Biểu
tượng sẽ luôn tồn tại cùng với rất nhiều yếu tố khác trong tác phẩm và chính
những yếu tố đó sẽ là những gợi ý để người tiếp nhận có thể hiểu được biểu
tượng dù đang ở thời đại nào.
Biểu tượng luôn hướng đến những ý nghĩa chung, khái quát. Như trên
đã nói nó thường hướng đến một ý nghĩa cố định sau một thời gian phát triển.
Nhưng biểu tượng nghệ thuật lại đa dạng, phong phú, luôn phát triển sinh
động điều này tuỳ thuộc vào văn cảnh tác phẩm. Mà trong văn cảnh tác phẩm
luôn có ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp. Ngữ cảnh rộng là toàn bộ hoàn cảnh
lịch sử mà tác phẩm ra đời cũng như hoàn cảnh lịch sử mà tác phẩm nói tới. Còn
ngữ cảnh hẹp là môi trường trong chính tác phẩm, nơi biểu tượng nghệ thuật tồn
tại. Không chỉ có ngữ cảnh ở đó còn có nhân vật, sự kiện, chi tiết, ngôn ngữ…
Chính những thông tin mà tác phẩm đưa lại đó sẽ giúp cho thế hệ sau dễ dàng
tìm ra ý nghĩa của biểu tượng. Một trong những đặc điểm của nghệ thuật là tính
đa nghĩa. Và trong những hoàn cảnh lịch sử mới người ta có thể lí giải được
nhiều ý nghĩa mới của tác phẩm mà trước đó bị khuất lấp đi. Tương tự như vậy
biểu tượng nghệ thuật luôn có thêm những ý nghĩa phát sinh.
1.1.3. Biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương
Theo tác giả cuốn “ Cẩm nang Mỹ học – Nghệ thuật – Thơ ca – Phê
bình” (Nhà xuất bản Văn hoá nghệ thuật) thì vào cuối thế kỉ XIX, “những thi
17
sĩ phái tượng trưng Pháp đã vượt xa những thi sĩ ở mọi thời đại trong lịch sử
văn chương trong việc tìm tòi xác định một biểu tượng ứng dụng trong thi ca.
Mallarme chỉ ra rằng, sự sử dụng biểu tượng trong thi ca là cung cấp một
kiến giải riêng biệt về thế giới”. Tôi thiết nghĩ nhận định này có phần đề cao
các thi sĩ của phái tượng trưng Pháp. Bởi biểu tượng được các tác giả chú ý
xây dựng trong tác phẩm của mình từ trước đó rất nhiều. Ngay trong các tác
phẩm văn học dân gian, khi chưa có văn học viết ra đời các tác giả vô danh đã

Không có gì tồn tại ngoài không gian và thời gian, con người cũng
không nằm ngoài qui luật đó. Con người chính là tâm đối xứng mà thời gian,
không gian là hệ trục toạ độ để từ vị trí đó con người phóng tầm mắt cảm
nhận hết sự cao sâu, thăm thẳm của không gian và sự vô cùng của thời gian.
Vì vậy không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế
giới nghệ thuật.
Trong triết học thời gian là hình thức tồn tại của vật chất, có tính liên
tục, độ dài, hướng, nhịp độ, có ba chiều quá khứ, hiện tại, tương lai và có tính
chất không thể đảo ngược. Nhưng thời gian nghệ thuật lại có những đặc trưng
riêng do tính chất nghệ thuật tạo ra. Thời gian nghệ thuật tồn tại trong thế giới
nghệ thuật do nhà văn sáng tạo ra để phản ánh cuộc sống và biểu hiện tư
tưởng, tình cảm của mình. Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể
chiêm nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục và độ dài của
nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với các chiều thời gian hiện tại, quá khứ hay
tương lai.
Thời gian nghệ thuật vừa phản ánh thời gian tự nhiên nhưng mặt khác
còn thể hiện hư cấu tưởng tượng của tác giả. Cho nên, trong tác phẩm nhiều
khi ta không thể cảm nhận thời gian như trong đời sống. Bởi thời gian nghệ
thuật là một sáng tạo độc đáo của nhà văn. Nó là thời gian mang tính chủ
19
quan, có giới hạn, không tuyến tính, đa chiều, thời gian tâm lí, nó phụ thuộc
vào quan niệm của nhà văn và tình cảm của con người trong tác phẩm. Trong
tác phẩm ta có thể thấy thời gian nhanh, chậm, có thể đảo ngược trật tự giữa
qua khứ, hiện tại, tương lai. Tác giả dùng thời gian để biểu đạt những ý nghĩa
nhất định, phục vụ cho việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Vì vậy
thời gian nghệ thuật trở thành biểu tượng nghệ thuật.
Xuân Diệu là một trong những nhà thơ rất chú trọng đến quan niệm
về thời gian. Thời gian với Xuân Diệu là biểu tượng cho sự sống, cho sự hiện
hữu, có giới hạn. Con người sống trong thời gian ấy phải sống hết mình đến
từng phút giây để tận hưởng, để làm lên cuộc sống có ý nghĩa. Nhất là tuổi trẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status