Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Phân tích đánh giá chỉ tiêu lợi nhuận và các biện pháp nâng cao lợi nhuận của Công ty Hoá chất vật liệu điện và vật tư khoa học kỹ thuật ( CEMACO )" - Pdf 95

z

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Phân tích đánh giá chỉ tiêu lợi nhuận và các biện
pháp nâng cao lợi nhuận của Công ty Hoá chất
vật liệu điện và vật tư khoa học kỹ thuật
( CEMACO )

G
G
i
i
á
á
o
ov
v
i
i
ê
ê
n
n



T
T
r
r


n
nH
H
ò
ò
e
e

S
S
i
i
n
n
h
h



:
:
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, yếu tố cạnh tranh được đặc biệt chú ý. Các
doanh nghiệp với nhiều hình thức sở hữu khác nhau cạnh tranh khốc liệt với
nhau để giành chỗ đứng trên thị trường và cùng nhau đạt đến một mục tiêu là lợi
nhuận. Lợi nhuận là đòn bảy kinh tế, là yếu tố cơ bản quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Lợi nhuận luôn là động cơ để các doanh nghiệp
phấn đấu.
Mặt khác, lợi nhuận được tạo ra là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, đó
là sự kết hợp hài hoà giữa các yếu tố đầu vào, là sản phẩm của sự tìm tòi, sáng
tạo và mạo hiểm. Nó đòi hỏi ở mỗi nhà kinh doanh những kỹ năng toàn diện khả
năng tư duy nhạy bén và sự năng động. Vì thế nghiên cứu về lợi nhuận giúp cho
những người có tham vọng về kinh doanh và quản lý
bước đầu tìm hiểu về
thực tiễn để có cái nhìn toàn diện hơn trong công việc kinh doanh sau này.
Làm thế nào để một doanh nghiệp hoạt động có lợi nhuận và có các biện
pháp tăng lợi nhuận?. Đó là một vấn đề bức bách và có tính thời sự cho bất kỳ ai
muốn đi vào lĩnh vực kinh tế.
Công ty hoá chất vật liệu điên và vật tư khoa học kỹ thuật –
(CEMACO) là doanh nghiệp loại I trực thuộc bộ Thương mại được thành lập và
đi vào hoạt động 8 năm, bước đầu gặp rất nhiều khó khăn song tập thể cán bộ
công nhân viên Xí nghiệp đã không ngừng cố gắng lao động sáng tạo, hoạt động

2
Chương I:

LỢI NHUẬN VÀ YÊU CẦU NÂNG CAO LỢI NHUẬN TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

I. BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN.
1. Khái niệm.
Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của rất nhiều thành phần kinh
tế khác nhau tạo môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp. Do đó để
DN tồn tại và phát triển trên thương trường đòi hỏi tất yếu là các DN đó phải
kinh doanh có hiệu quả cụ thể là phải có lợi nhuận. Vậy lợi nhuận là gì?
Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của các DN. Nó là khoản thu nhập đem lại so với các khoản chi
phí đã bỏ ra để đạt được thu nhập đó trong một thời kỳ nhất định.
Lợi nhuận được biểu thị bằng công thức:
P = I - F
Trong đó:
P: Là tổng lợi nhuận DN đạt được trong một thời kỳ nhất định
I. Là tổng thu nhập DN thu được trong kỳ
F. Tổng chi phí DN phân bổ cho hàng tiêu thụ trong kỳ

tốt các nguồn lực của mình để tăng lợi nhuận DN lại phải thực hiện tốt các mặt
hoạt động kinh doanh và cứ như vậy theo những chu trònh mục tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của DN nó có ảnh hưởng đến
tình hình tài chính của DN. Khi DN kinh doanh có lợi nhuận có nghĩa là DN
không những bảo toàn được vốn kinh doanh mà còn có một khoản lợi nhuận bổ
sung nguồn vốn kinh doanh. Có vốn DN có cơ hội thực hiện các dự án kinh
doanh lớn nâng cao uy tín chất lượng và sự cạnh tranh trên thường trường của
DN. từ đó DN sẽ nâng cao hơn nữa lợi nhuận của mình.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng giúp DN đầu tư chiều sâu mở rộng
quy mô sản xuất kinh doanh, là điều kiện để củng cố thêm sức mạnh và uy tín
của DN trên thương trường. Thật vậy, lợi nhuận của DN sau khi đã thực hiện
nghĩa vụ đối với Nhà nước và chai cho các chủ thể tham gia liên doanh Phần
còn lại phân phối vào quỹ đầu tư phát triển kinh doanh và quỹ dự phòng tài
chính các quỹ này được DN dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Thay
đổi trang thiết bị máy móc, vì DN muốn ngày càng phát triển thì luôn phải mở
rộng quy mô kinh doanh và nâng cao năng suất lao động.
*Đối với người lao động: Nếu như mục đích của DN là lợi nhuận thì mục
đích của người lao động là tiền lương, tiền lương có hai chức năng đối với DN
nó là một yếu tố chi phí còn đối với người lao động nó là thu nhập là lợi ích kinh
tế của họ.

4
Khi người lao động họ được trả lương thoả đáng họ sẽ yên tâm lao động,
phát huy khả năng sáng tạo của mình và năng suất lao động sẽ tăng lên, đây
cũng là một biện pháp để DN nâng cao lợi nhuận. Chính vì thế mà DN làm ăn
phát đạt và mong muốn lợi nhuận của DN ngày càng tăng vì nó gắn liền với lợi
ích của người lao động.
*Đối với nhà nước: Lợi nhuận là một nguồn thu ngân sách cho Nhà nước,
nâng cao phúc lợi xh, từ đó Nhà nước có vốn để đầu tư phát triển xã hội, tạo sự
phát triển cho nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thuận lợi để Nhà nước thực

Tổng mức
lợi nhuận
=
Lợi nhuận từ hoạt
động SXKD
+
Lợi nhuận từ
hoạt động TC
+
Lợi nhuận từ hoạt
động bất thường

- Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: Là khoản chênh lệch giữa tổng
doanh thu bán sản phẩm hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ và chi phí của toàn bộ sản
phẩm hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ đó.
Hoạt động kinh doanh bao gồm hoạt động kinh doanh chính và hoạt động
kinh doanh phụ. Vì thế lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm lợi
nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính và lợi nhuận từ hoạt động sản
xuất kinh doanh phụ.
Lợi nhuận
từ hoạt
động
SXKD
=
Tổng
doanh
thu
-
Các khoản
giảm trừ

Chi phí từ hoạt
động tài chính

- Lợi nhuận từ hoạt động bất thường: Là khoản lợi nhuận mà DN thu được
ngoài dự tính hoặc có dự tính đến, nhưng ít có khả năng thực hiện hay là những
khoản lợi nhuận thu được không mang tính chất thường xuyên nhưng khoản lợi
nhuận này thu được có thể hoặc khách quan đem lại.
Như vậy lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bất thường chính là khoản
chênh lệch giữa thu và chi từ các hoạt động bất thường. Nó được xác định như
sau:

Lợi nhuận từ hoạt
động bất thường
=
Doanh thu từ hoạt
động bất thường
-
Chi phí từ hoạt
động bất thường * Lợi nhuận là chỉ tiêu tuyệt đối đánh giá chất lượng của toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh của DN tuy nhiên, ta không thể coi lợi nhuận là chỉ

6
tiêu duy nhất và cũng thể chỉ dùng nó để đánh giá hiệu quả hoạt động của
SXKD của DN, bởi vì:
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố. Trong quá trình hoạt động SXKD các DN luôn đứng trước nhiều tình
huống phát sinh ảnh hưởng đến hoạt động SXKD làm cho lợi nhuận giảm. Các

đắn và phù hợp với thực tế kinh doanh của DN.
- Lựa chọn cơ cấu mặt hàng kinh doanh hợp lý. Việc lựa chọn đúng đắn
mặt hàng kinh doanh là một yếu tố mang lại sự thành công cho DN. Bởi lẽ mặt
hàng kinh doanh trực tiếp đem lại doanh thu cho DN.
- Tổ chức tốt mạng lưới kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp tới việc đẩy mạnh khối lượng
sản phẩm tiêu thụ tăng doanh thu, thị trường tiêu thụ sản phẩm không những
mang lại nguồn lợi nhuận to lớn mà nó thực sự tạo dựng sự thành công cho DN.
- Lựa chọn và tổ chức các phương án bán hàng hợp lý. Tuỳ thuộc vào đặc
điểm của từng DN và từng mặt hàng KD của DN mà lựa chọn các phường thức
bán hàng thích hợp trong các phương thức bán buôn, bán lẻ, bán trả góp
Phương thức bán hàng tốt nhất là phương thức biết kích thích khai thác nhu cầu
đang tiềm ẩn trong mỗi khách hàng, kích thích tối đa sự ham muốn mua của
khách hàng đối với hàng hoá của DN.
- Cần có một chính sách định giá bán hợp lý, mềm dẻo, linh hoạt dựa theo
các mục tiêu mà DN đang theo đuổi.
- Tổ chức công tác thanh toán và thu hồi công nợ: một phương thức thanh
toán nhanh, gọn, đơn giản sẽ góp phần tạo sự thoải mái cho khách hàng. Tuy
nhiên khi áp dụng các DN cần phải tính đến mức độ rủi ro mà phương thức
thanh toán đó có thể gây ra. Do vậy DN luôn phải chú ý đến sự biến động của
các khoản công nợ để có các biện pháp xử lý kịp thời tránh thất thoát vốn.
- Ngoài ra để đẩy mạnh khối lượng hàng bán, tăng doanh thu thì DN luôn
phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng và đổi mới hình thức mẫu mã sản
phẩm hàng hoá hấp dẫn người mua.
3.2. Nhóm các biện pháp giảm chi phí.
Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, DN cũng phải bỏ ra những chi phí về
bao gói sản phẩm, vận chuyển bảo quản, tiếp thị, quảng cáo Những khoản chi
phí này đều là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của DN. Do đó trong
quá trình hoạt động SXKD các DN luôn phải quan tâm đến các công tác quản lý
chi phí. Do đó cần hiểu thực chất của nhóm các biện pháp làm giảm chi phí đó là

Chương II:
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU LỢI NHUẬN VÀ CÁC BIỆN
PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CEMACO

I. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI
CÔNG TY CEMACO.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Công ty CEMACO được thành lập theo quyết định số 679B-BTM-TCCB
của Bộ Thương mại và quyết định số 7131/QQMDN ngày 14/8/1995 của Chính
phủ trên cơ sở hợp nhất văn phòng Tổng Công ty Hoá chất vật liệu điện và dụng
cụ cơ khí và Công ty vật tư khoa học kỹ thuật. Công ty là một doanh nghiệp Nhà
nước loại I trực thuộc Bộ Thương mại thực hiện việc kinh doanh sản xuất chế
biến dịch vụ và xuất nhập khẩu hàng hoá vật tư:
Tên công ty: Công ty hoá chất vật liệu điện và vật tư khoa học kỹ thuật
Tên tiếng Anh:
CHEMICALS - ELICTRICAL and SCIENTIFIC
TECHNOLOGYCAL MATERIAL COMPANY
Tên viết tắt: CEMACO
Trụ sở Công ty đặt tại: 70 Hàng Mã - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty.
Công ty CEMACO có chức năng kinh doanh về hoá chất, vật liệu điện và
vật tư khoa học kỹ thuật về các loại hoá chất công nghiệp, các loại thiết bị
phương tiện và dụng cụ đo lường hoá chất thí nghiệm phục vụ cho nhu cầu
nghiên cứu, thí nghiệm của các trường, viện nghiên cứu, trung tâm khoa học kỹ
thuật và các nhà máy, xí nghiệp sản xuất theo nguyên tắc kinh doanh có lãi thực
hiện nghĩa vụ thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nước.

3. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
3.1. Đặc điểm hoạt động sản xuât kinh doanh.
Công ty CEMACO là một Doanh nghiệp Nhà nước loại I thuộc Bộ

Công ty có rất nhiều bạn hàng trên thế giới đặc biệt là Trung Quốc. Hàng
nhập từ Trung Quốc chiếm tới 60% hàng nhập, còn lại là các nước Đức, Đài
Loan, Hàn Quốc trong quan hệ buôn bán đã hình thành sự tin cậy lẫn nhau.
Công ty có một đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn
cao, năng động sáng tạo, có khả năng tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật
tiên tiến vào sản xuất kinh doanh đồng thời Công ty còn đáp ứng kịp thời nhu
cầu của thị trường.
* Khó khăn:

11

12
Là Công ty hoạt động trong lĩnh vực ngoại thương nên các khách hàng của
Công ty ở các nước trên thế giới cách xa về địa lý nên Công ty gặp khó khăn
trong việc vận chuyển hàng hoá tròng quá trình thanh toán diễn ra phức tạp, chu
kỳ kinh doanh kéo dài.
Đối thủ cạnh tranh: Hiện nay trên thị trường xuất hiện thêm nhiều đối thủ
cạnh tranh cùng kinh doanh một mặt hàng, như Công ty Xăng dầu, Công ty hoá
chất Bộ Công nghiệp, Công ty Bao bì xuất khẩu. Các Công ty tư nhân cũng
bung ra nhiều, họ dùng nhiều biện pháp để cạnh tranh dành thị trường từ việc
thu thập thông tin nguồn hàng, giá cả, trốn thuế đến việc gian lận trong kinh
doanh tạo nên một môi trường kinh doanh không bình thường gây khó khăn rất
nhiều trong việc kinh doanh của Công ty.
4. Cơ cấu tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Tổ chức bộ máy của Công ty bao gồm ban giám đốc, các phòng ban tham
mưu và các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh:
- Phòng tổ chức hành chính
- Phòng kế toán tài chính
- Phòng kế hoạch tổng hợp
- Phòng xuất nhập khẩu

số 4
Cửa
hàng
số 8
Chi
nhán
h Cần
Thơ
Chi
nhán
h
Bình
Định
XN
gỗ
XN

Nội
Trun
g tâm
dịch
vụ kỹ
thuật
Chi
nhán
h Đà
Nẵng
Chi
nhán
h Hải

lao động của Nhà nước ban hành.
Giúp việc cho giám đốc có các phó giám đốc được phân công phụ trách
theo từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Cụ thể mỗi phó giám đốc được phụ
trách từng phòng ban và các cơ sở sản xuất kinh doanh.
+ Phòng tổ chức hành chính nghiên cứu xây dựng hoàn thiện mô hình tổ
chức của Công ty đào tạo sắp xếp cán bộ công nhân viên xây dựng quỹ tiền
lương định mức lao động tổng hợp ban hành các quy chế quản lý và sử dụng lao
động giải quyết các chế độ lao động theo quy định của Nhà nước.
+Phòng kế toán tài chính chịu trách hiệm về công tác tài chính kế toán
trong toàn Công ty và hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh báo cáo Nhà nước
theo đúng quy định.
+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu điều hành các hoạt động kinh doanh,
hoạt động xuất nhập khẩu trong Công ty, tổ chức tiêu thụ sản phẩm quản lý cung
ứng hàng hoá cho các đơn vị trực thuộc cơ quan.
+ Phòng tổng hợp kế hoạch nghiên cứu xây dựng tổ chức lập kế hoạch sản
xuất kinh doanh cho từng cửa hàng xí nghiệp có liên quan tổng hợp để xác định
tình hình các chi nhánh xí nghiệp thực hiện nhiệm vụ dự trữ hàng hoá vật tư
kinh doanh mua bán các dịch vụ môi giới, lắp giáp bảo hành vật tư thiết bị điện
và các mặt hàng thuộc phạm vi kinh doanh của Công ty.
III. PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU
LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CEMACO.
1. Một số kết quả mà Công ty đã đạt được trong năm qua.
Bảng1: kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty
Đơn vị tính 1.000đ

14
Mức biến động 01/02 Mức biến động

216291 160000 187162 -56291 -26.0255859 27162 16,9
4. Lợi nhuận
sau thuế
2643596 340000 397720 75644
28.6144441
6
57720 16,9
5. Thu nhập
bình quân
650 650 680 0 0 30 4,6
6. Vốn kinh
doanh bình
quân

1676100
0
1678891
0
16761000 27910 0,16
- Vốn cố định 4242000 4243344 4242000 1344 0,03
- Vốn lưu động
1251900
0
1251922
3
12519000 223 0.00

Nhìn vào số liệu ở bảng trên ta thấy một số kết quả mà Công ty đã đạt
được trong các năm 2001, 2002, 2003. Có thể nói năm 2003 là năm Công ty sản
xuất kinh doanh đạt hiệu quả coa nhất. Điều này thể hiện qua chỉ tiêu doanh thu

động bất thường
-
1072370
-
191,4%
-
487309
-83,3% 585061 54,5%
Tổng lợi nhuận
trước thuế
503.416 100% 584882 100% 52473 4,5%
Thuế thu nhập 160000 187162 27162 16,9%
Lợi nhuận sau thuế 340000 397720 57.720 16,3%

3. Đánh giá chung về tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận.
Theo bảng số liệu bảng thống kê trên ta thấy tình hình chung thực hiện chỉ
tiêu lợi nhuận của Công ty trong hai năm 2002 và 2003 nhìn chung năm 2003
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có cao hơn năm 2002 được phản ánh qua
việc thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận năm 2003 cao hơn năm 2002 cụ thể là tổng lợi
nhuận trước thuế năm 2003 coa hơn năm 2002 là 25.473.000đ tương ứng với tỷ
lệ tăng là 4,5% tổng lợi nhuận tăng là do các bộ phận lợi nhuận sau cấu thành.
+ Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2003 so với năm 2002
giảm 36.771.000đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 7,3%.
+ Tuy nhiên lợi nhuận từ hoạt động bất thường năm 2003 tăng so với năm
2002 là 58.506.100đ tương ứng với tỷ lệ tăng 54,5% làm cho tổng lợi nhuận của
Công ty tăng lên tương ứng.
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính của Công ty năm 2003 so với năm 2002
giảm đáng kể với mức giảm là 522.817.000đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 46,2%.
Tuy nhiên, do mức lợi nhuận từ hoạt động tài chính chiếm tỉ trọng rất lớn
trong tổng mức lợi nhuận (2002 bộ phận lợi nhuận này chiếm 203,3% và năm

2002 2003
Số tiền Tỷ lệ %
1 Doanh thu từ hoạt động kinh
doanh
2.071.000 2.126.000 55.000 2,65%
2 Thuế doanh thu, XK 794.860 685.250 -109.610 -13,7%
3 Các khoản giảm trừ doanh thu 112.924 350.715 237.791 209%
- Giảm giá 40.736 899 -39.837 -97%
- Hàng bán bị trả lại 72.187 34.647 -37.540 -52%
4 Doanh thu thuần 164.000 231.730 67.730 41,2%
5 Giá vốn hàng bán 154.980 219.702 64.722 41,7%
6 Lãi gộp 90.200 120.280 30.080 33,3%
7 Chi phí bán hàng 7.520 10.790 3.270 43,5%
8 Chi phí quản lý DN 1.000.000 744.628 -225.372 -22,5%

17
9 Lợi nhuận từ sản xuất kinh
doanh
500.000 463.299 -36.771 -7,3%

Hoạt động sản xuất kinh doanh các loại hoá chất mang lại lợi nhuận chủ
yếu trong tổng mức lợi nhuận của Công ty vì thế nó ảnh hưởng rất lớn đến chỉ
tiêu lợi nhuận mà Doanh nghiệp thực hiện được theo số liệu trên thì ta thấy lợi
nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng hoá chất
năm 2003 so với năm 2002 giảm 36.771.000đ tương ứng với tỷ lệ giảm 7,3%
điều này chứng tỏ năm 2003 hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty giảm sút
đáng kể, xem xét từng chỉ tiêu cụ thể ta thấy được nguyên nhân tại sao lợi nhuận
từ hoạt động sản xuất kinh doanh nhập khẩu năm 2003 giảm.
chất năm 2003 so với năm 2002.
3.1.2 Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của Công ty.
Trong điều kiện kinh tế thị trường để tận dụng trang thiết bị máy móc, lao
động, các tài nguyên sẵn có và nhờ đó mà tăng tổng lợi nhuận của Công ty do đó
hiện nay các Doanh nghiệp bên cạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh chính
còn thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh phụ. Tuy nhiên công ty còn
khá dè dặt trong việc đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh phụ nên doanh
thu tăng lên không đáng kể vì thế lợi nhuận thu được từ hoạt động này còn rất
nhỏ.
3.2 Tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tài chính của
Công ty.
Đơn vị tính: 1.000đ
Mức biến động
Năm
Chỉ tiêu
2002 2003
Số tiền Tỷ lệ (%)
1. Doanh thu từ hoạt động
tài chính
1.646.189 1.349.801 - 296.388 - 18%
2. Chi phí hoạt động tài
chính
514.408 740.838 226.430 44%
3. Lợi nhuận từ hoạt động
tài chính
1.131.780 608.963 - 522.745 - 47%

Doanh thu từ hoạt động tài chính năm 2003 so với năm 2002 giảm
296.388.000đ tương ứng với tỷ lệ giảm 18% do chi phí hoạt động tài chính tăng
44% là 226.430.000đ lợi nhuận từ hoạt động tài chính giảm 47% tương ứng là

Hoá chất và các thiết bị vật tư không phải là mặt hàng tiêu thụ hàng ngay
như: quần áo, thực phẩm vì thế thị trường tiêu thụ của các ngành hàng này hẹp
hơn các hàng hoá khác rất nhiều. Người mua là các xí nghiệp, nhà máy sử dụng
hoá chất. Để tìm được thị trường tiêu thụ hoá chất và các thiết bị vật tư khoa học
là cả một vấn đề khó khăn đối với công ty, Công ty phải tìm ra các giải pháp
nhằm tăng doanh thu.
* Tiền hành hoạt động nghiên cứu thị trường, hoạt động nghiên cứu thị
trường là bước đầu tiên tạo điều kiện thuận lợi cho công việc lựa chọn và xâm
nhập được vào thị trường mới. Vì vậy công ty cần thực hiện hoạt động nghiên
cứu thị trường một cách kỹ lưỡng và thường xuyên bằng những công việc sau:
Tìm kiếm những thị trường mới có nhu cầu về mặt hàng hoá chất, đánh
giá các thị trường cũ về tất cả các mặt như kinh tế, chính trị, đối thủ cạnh tranh

20
đã và sẽ có trên thị trường đó, cập nhật và phân tích các thông tin về dung lượng
thị trường và sự biến động của thị trường.
Từ việc tìm kiếm thị trường mới sau đó sẽ tiến hành phân tích đánh giá thị
trường tìm ra các đoạn thị trường mà công ty có khả năng xâm nhập và mở rộng
thị phần của công ty.
Cuối cùng là việc hoạch định các chiến lược thâm nhập giữ vững và mở
rộng thị trường.
* Tăng cường chính sách giao tiếp khuếch trương, quảng cáo sản phẩm
hàng hoá.
Muốn như vậy công ty phải tham gia vào các hội trợ triển lãm, hội thảo
chuyên ngành và có chính sách quảng cáo giới thiệu rộng rãi về công ty, thông
qua đó công ty sẽ thiết lập được mối quan hệ với các thương vụ và bạn hàng mới
đồng thời khẳng định uy tín với bạn hàng cũ.
1. Thay đổi cơ cấu tỷ trọng các mặt hàng kinh doanh.
Trong những năm qua công ty đã áp dụng các biện pháp đa dạng hoá mặt
hàng sản xuất kinh doanh đồng thời thay đổi tỷ trọng trong một số mặt hàng sản

Để làm được điều này công ty cần phải hiểu rõ năng lực của từng lao động
trong công ty để sắp xếp công việc phù hợp nhất với khả năng của mỗi người, từ
đó tạo điều kiện thuận lợi để họ phát huy thế mạnh của mình hoàn thành tốt
công việc của công ty. Hiện nay nhân tố con người có vai trò quyết định đến
tăng năng suất, hiệu quả công việc nâng cao lợi nhuận cho công ty Sử dụng tốt
yếu tố này là một chìa khoá để công ty thành công trong kinh doanh, vấn đề này
ngoài việc công ty có hệ thống khen thưởng bằng vật chất và tinh thần thì đòi
hỏi giám đốc phải biết bồi dưỡng trình độ cho cán bộ công nhân viên, quan tâm
đến đời sống điều kiện làm việc của mỗi công nhân trong công ty, biết động viên
một cách kịp thời và thoả đáng.
3. Đầu tư chiều sâu, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc đầu tư chiều sâu mua sắm các thiết bị đổi mới quy trình công nghệ
tạo tiền đề cho việc tăng năng xuất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, từ đó
tăng lợi nhuận cho công ty. Đầu tư chiều sâu là biện pháp lâu dài cần phải thực
hiện. Nếu công ty muốn phát triển Công ty có thể sử dụng biện pháp tăng đầu tư
chiều sâu bằng cách liên kết với viện hoá học, viện công nghệ thông tin. Đưa
máy móc trang thiết bị mà các viện này đã chế tạo được vào sản xuất các mặt
hàng của công ty.
4. Tăng cường công tác quản lý và sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh.
4.1. Khai thác nguồn vốn trong và ngoài công ty.
Với đặc điểm là công ty xuất nhập khẩu nên trong quá trình hoạt động
công ty cần lượng vốn lớn nhưng theo phân tích ở trên ta thấy hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh của công ty nhìn chung còn thấp do đó trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh công ty luôn phải kiểm tra nguồn vốn dẻ tìm ra các biện
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Công tác huy động vốn kinh
doanh công ty sử dụng chủ yếu dưới hình thức vay ngắn hạn ngân hàng mà
không khai thác nguồn vốn nội bộ và các khoản vốn có thể chiếm dụng một cách

22
thường xuyên như nợ định mức do đó dông ty nên áp dụng phương thức huy

Trên đây là một số biện pháp nhằm nâng cao lợi nhuận tại Công ty hoá chất
vật liệu điện và vật tư khoa học kỹ thuật được đề xuất dựa trên tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên để các biện pháp trên có thể
thực hiện được cần có những chính sách vĩ mô của Nhà nước tạo điều kiện cho

23
hoạt động xuất nhập khẩu hoá chất vật tư. Nhà nước cần phải có một quy định rõ
ràng và khuyến khích để ngành hàng này phát triển hơn.
Chương III:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG
TY HOÁ CHẤT VẬT LIỆU ĐIỆN VÀ VẬT TƯ KHOA HỌC
KỸ THUẬT.

I. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ MỤC TIÊU
LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚI.
1. Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Nhận thức rõ vị trí và vai trò của thị trường tiêu thụ sản phẩm đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh và là nhân tố tạo doanh thu và lợi nhuận cho Công ty
để đảm bảo giữ vững thị trường truyền thống và không ngừng mở rộng xâm
nhập vào thị trường mới để đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ tăng doanh thu trong
những năm qua Công ty đã áp dụng các biện pháp sau: Công ty tiến hành hoạt
động quảng cáo giới thiệu mặt hàng của Công ty qua các thương vụ, văn phòng
đại diện của Việt Nam ở nước ngoài để tìm nguồn hàng.
Tăng cường trang bị hệ thống thông tin qua Internet cập nhật thông tin từ
thị trường thế giới. Hiện nay thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế
hoạch và gia quyết định kinh doanh nhất là đối với Công ty ngoại thương để có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status