Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Khoa Giáo dục Tiểu học
------
Bài tập điều kiện
BỒI DƯỠNG KỸ
NĂNG SỬ DỤNG CÂU HỎI
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO GIÁO VIÊN
TIỂU HỌC
Người hướng dẫn: TS. Dương Thị Hương
Học viên: Võ Thị Ngọc Trâm
Lớp: CH 17 – GDTH
Hà nội, tháng 1 năm 2008
ĐHSP
HN
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
1. Môn Tiếng Việt ở nhà trường phổ thông nói chung, ở nhà trường tiểu học nói riêng
có một vị trí vô cùng quan trọng. Môn học này là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh (HS)
học tốt các môn học khác. Tiếng Việt vừa là một khoa học, vừa là công cụ, phương tiện
giúp HS lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và phát triển tư duy. Việc dạy học
môn Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học với tư cách là dạy tiếng mẹ đẻ luôn là vấn đề được
quan tâm chú ý. Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới chủ trương: “Hình thành và phát
triển ở HS các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp
trong môi trường hoạt động của lứa tuổi”. Đây cũng chính là mục tiêu cơ bản của môn
Tiếng Việt. mục tiêu đó coi trọng tính thực hành, thực hành các kỹ năng sử dụng tiếng
Việt trong những môi trường giao tiếp cụ thể. Điều này góp phần chỉ đạo việc biên soạn
nội dung chương trình, sách giáo khoa (SGK) và chi phối các nguyên tắc, phương pháp
dạy học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tiếng Việt lớp 1 nói riêng.
2. Quan điểm giao tiếp, nói cụ thể hơn là quan điểm phát triển lời nói định ra nguyên
tắc, phương hướng xây dựng chương trình môn Tiếng Việt. Mỗi phân môn, mỗi tiết học,
mỗi nội dung dạy học đều hướng tới mục đích phát triển của lời nói. Vấn đề phát triển lời
kể đến: Cuốn “Phát triển ngôn ngữ trẻ em” (Ê.I.Tikhêva, NXBGD 1977); “Dạy nói cho trẻ
trước tuổi cấp I” (Phan Thiều, NXBGD, 1979); “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời
nói của trẻ” (Cao Đức Tiến, NXBGD, 1994); “Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở
tiểu học theo hướng giao tiếp” (Nguyễn Quang Ninh, Sách bồi dưỡng thường xuyên chu
kỳ 1997 – 2000 cho GV tiểu học).
Các tài liệu này đã tập trung giải quyết những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về
phát triển ngôn ngữ cho trẻ em.
Bên cạnh đó còn có khá nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đề cập một cách trực
tiếp hay gián tiếp đến các vấn đề này như quyển Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu
học (2 tập), luận văn thạc sĩ của Đỗ Thi Thanh Vân đã nghiên cứu đã làm sáng tỏ các vấn
đề về nội dung và phương pháp dạy học luyện nói với đê tài “Nội dung và phương pháp
dạy học luyện nói trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1”.
III. Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
Nội dung luyện nói và quá trình học nội dung luyện nói trong môn Tiếng Việt 1 hiện
hành.
2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung học luyện nói cho học sinh lớp Một ở phần Luyện nói tổng hợp.
IV. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1. Mục đích nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu những nguyên nhân, những đề tài luyện tập hội thoại HS gặp khó
khăn khi học nội dung luyện nói tổng hợp để từ đó đề xuất một só giải pháp giúp HS nói
tốt hơn.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Tìm hiểu nội dung luyện nói tổng hợp trong SGK Tiếng Việt 1.
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc xây dựng nội dung luyện nói.
- Phân loại hệ thống bài tập luyện nói.
- Đánh giá hệ thống bài tập luyện nói.
- Đánh giá hướng dẫn dạy luyện nói trong SGV
2.2 Tìm hiểu những khó khăn HS có thể gặp khi thực hành luyện nói phần Luyện nói
3 quan điểm cơ bản sau:
1. Quan điểm dạy giao tiếp
Thuật ngữ “giao tiếp” dùng ở đây để chỉ hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm
xúc, … bằng ngôn ngữ nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác,… giữa các
thành viên trong xã hội.
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là xu hướng phổ biến trong các tài liệu dạy tiếng
mẹ đẻ cũng như dạy ngoại ngữ ở các nước tiên tiến hiện nay. Khác với xu hướng dạy học
theo cấu trúc, nó có tác dụng rõ rệt trong việc hình thành và phát triển ở HS kỹ năng sử
dụng ngôn ngữ (các kỹ năng giao tiếp). SGK lấy nguyên tắc giao tiếp làm định hướng cơ
bản để góp phần thực hiện một cách nhanh nhất và vững chắc nhất mục tiêu của chương
trình Tiếng Việt tiểu học: “hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe,
nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động phù hợp lứa tuổi”.
Quan điểm này thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp học. Về
nội dung, SGK Tiếng VIệt 1 dành một phần độc lập cho việc luyện nói cho HS; đồng thời
thông qua việc dạy Học vần, Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập viết, Tiếng Việt 1 tạo ra
những môi trường giao tiếp có chọn lọc, từ đó giúp HS mở rộng vốn từ theo định hướng,
trang bị những tri thức nền và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp. Về
phương pháp dạy học các kỹ năng nói trên được dạy thông qua nhiều bài tập mang tình
huống giao tiếp tự nhiên.
Ví dụ: Để dạy về Nghi thức lời nói, SGK Tiếng Việt 1 đã xây dựng bài tập: “Tập nói
lời chào của bé với mẹ trước khi vào lớp, lời chào của bé với cô giáo trước khi bé ra về”
[32; 74]. Chính việc đặt HS vào tình huống giao tiếp sẽ làm nảy sinh nhu cầu tìm hiểu,
phân tích sự kiện và bộc lộ ý kiến cá nhân của các em, tạo nên nét mới trong dạy học.
2. Quan điểm tích hợp
Tích hợp được hiểu là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí là một tiết học hay
một bài tập nhiều mảng kiến thức và kỹ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu
quả giáo dục và tiết kiệm thời gian cho người học. Có thể tích hợp theo hai hướng: chiều
ngang và chiều dọc.
Hướng tích hợp theo chiều ngang được SGK tiểu học triển khai thông qua hệ thống
các chủ điểm học tập. Các phân môn của Tiếng Việt nếu như trước đây ít gắn bó với nhau
I. Yêu cầu kỹ năng nói đối với HS lớp 1
- Phát âm
+ Phát âm đúng, rõ các âm, vần và tiếng được học (trừ các tiếng có vần khó ít dùng)
và chữa các lỗi về phát âm theo hướng dẫn của GV.
+ Phát âm liền mạch một lời nói (không lặp, không thiếu tiếng), biết nói to đủ nghe
trong giờ học tiếng Việt và các giờ học khác.