ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ CỦA ĐỊA DANH - Pdf 26

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ CỦA ĐỊA DANH
CÓ NGUỒN GỐC TIẾNG CƠ TU Ở THỪA THIÊN HUẾ
Trần Văn Sáng
( Trường Đại học Phú Xuân - Huế
Nghiên cứu sinh Viện Ngôn ngữ học)

1. Dẫn nhập
1.1. Ở Việt Nam, vấn đề địa danh từ lâu đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học, dân tộc
học, địa lý học quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu về địa danh từ những góc độ khác
nhau của các tác giả tiêu biểu như Hoàng Thị Châu, Trần Trí Dõi, Đinh Xuân Vịnh,
Nguyễn Văn Âu, Lê Trung Hoa, đã có những đóng góp nhất định trong việc hệ thống tri
thức địa danh học Việt Nam. Đặc biệt, đã có một số luận án tiến sĩ ngôn ngữ học nghiên
cứu về địa danh
1
. Đây là những công trình nghiên cứu có những đóng góp đáng trân trọng
khi tiếp cận địa danh học dưới ánh sáng của ngôn ngữ học. Tuy nhiên, nghiên cứu địa
danh dân tộc từ góc nhìn ngôn ngữ học vẫn là một khoảng trống trong các công trình địa
danh học. Cho đến nay, ngoài các bài viết gần đây của chúng tôi
2
, chưa có một công trình
nào đề cập đến các địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên Huế
một cách hệ thống.
1.2. Nghiên cứu địa danh ở Thừa Thiên Huế nói chung, địa danh có nguồn gốc
ngôn ngữ dân tộc thiểu số nói riêng, là một hướng tiếp cận liên ngành ngôn ngữ-văn hoá
về một vùng địa lý hội tụ nhiều lớp, nhiều tầng văn hóa có sự giao thoa, tiếp biến giữa
các dân tộc chung sống trên địa bàn cư trú (Kinh, Chăm, Cơtu, Pacô-Taôi). Trong quá
trình hình thành và chuyển biến, địa danh không chỉ chịu tác động bởi các yếu tố ngôn
ngữ mà còn cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ. Các yếu tố này làm cho địa danh trở thành
những “trầm tích sống” bằng ngôn ngữ, ký thác nhiều thông tin tư liệu quý giá đối với
các ngành khoa học hữu quan: ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hoá học, lịch sử và khảo
cổ học.

Huế. Nghiên cứu bình diện ngôn ngữ-văn hoá của địa danh có nguồn gốc tiếng Cơtu trên
địa bàn là một cánh cửa rộng mở cho việc tiếp cận bước đầu bức tranh văn hoá-tộc người
đầy sinh động và giàu màu sắc trong đời sống của các dân tộc thiểu số định cư trên dải
Trường Sơn Bắc này.
2.Đặc điểm cấu tạo và ý nghĩa của các địa danh có nguồn gốc tiếng Cơtu
2.1. Khảo sát, thống kê 2.248 địa danh ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi tiến hành
phân loại chúng theo hai tiêu chí sau:
Căn cứ vào ngôn ngữ tạo địa danh, các địa danh ở Thừa Thiên Huế được phân
thành hai nhóm chính: a) Nhóm các địa danh tiếng Việt, bao gồm Hán Việt và thuần
Việt(1763 địa danh); b) Nhóm các địa danh tiếng dân tộc thiểu số (485 địa danh).
Căn cứ vào đối tượng địa lí mà địa danh phản ánh, chúng tôi chia địa danh Thừa
Thiên Huế thành ba nhóm chính: a) Nhóm các địa danh hành chính-cư trú (1327 địa
danh, chiếm 59%); b) Nhóm các địa danh công trình xây dựng (382 địa danh, chiếm
17%); c)Nhóm các địa danh chỉ đối tượng địa hình tự nhiên (539 địa danh, chiếm 24%).
Trong số 485 địa danh dân tộc thiểu số thu thập được, nhóm địa danh có nguồn
gốc tiếng Pacô- Taôi và Cơtu chiếm đa số; nhóm các địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ
dân tộc khác như Bru-Vân Kiều, Chăm cổ chiếm một phần nhỏ và một số địa danh hiện
vẫn chưa xác định được rõ ràng nguồn gốc ngôn ngữ tạo nên chúng.
Địa danh tiếng Cơtu ở Thừa Thiên Huế chủ yếu được phân bố ở huyện Nam Đông
và một số xã của huyện A Lưới có dân tộc Cơtu sinh sống như Hương Lâm, Hương
Nguyên, Hồng Hạ.
Sự có mặt đầy đủ các loại hình địa danh và sự phong phú về ngôn ngữ tạo địa
danh qua số liệu thống kê ở trên cho thấy rõ: Thừa Thiên Huế là một vùng đất có bề dày
lịch sử văn hoá và giàu bản sắc. Bức tranh ngôn ngữ văn hoá tộc người giàu bản sắc ấy,
trước hết, được thể hiện qua hệ thống địa danh. Mỗi địa danh là một “vật dẫn văn hoá” về
vùng đất mà nó chào đời.
2.2. Đặc điểm cấu tạo của địa danh có nguồn gốc tiếng Cơtu
2.1. Các địa danh tiếng Cơtu có cấu tạo đơn
Kiểu cấu tạo đơn trong địa danh là kiểu cấu tạo chỉ có một từ đơn (đơn tiết hoặc đa
tiết). Do vậy, các địa danh đơn có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số Cơtu được cấu tạo từ

Cơtu) ở Thừa Thừa Thiên Huế so với địa danh tiếng Việt(thuần Việt, Hán Việt) qua mấy
đặc điểm sau:
1) Địa danh có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số thuộc nhóm Katuic, những ngôn
ngữ thuộc ngữ hệ Môn-Khơme, có loại hình đơn lập không triệt để nên từ đơn đa tiết
chiếm ưu thế trong cấu tạo các địa danh. Điều này đã phản ánh đúng đặc điểm cấu tạo từ
trong ngôn ngữ này( Pacô-Taôi, Cơtu): Trong vỏ ngữ âm của từ (từ ngữ âm-âm vị học)
còn tồn tại nhiều cấu trúc đa tiết, trong đó âm tiết cuối từ (còn gọi là âm tiết chính) là âm
tiết mang trọng âm từ. Ví dụ: núi A Hô(ahốq: há miệng, “a” là một tiền âm tiết, “hốq” là
âm tiết chính), núi A La(ala: chiếc lá, “a” là một tiền âm tiết, “la” là âm tiết chính), núi A
Vi(aviq: cơm, gạo, lúa, trong đó “a” là tiền âm tiết, “viq’ là âm tiết chính),…
2) Địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số nhóm Katuic (tiếng Pacô-
Taôi, Cơtu) trên địa bàn Thừa Thiên Huế hầu hết đã được Việt hóa, Hán Việt hoá theo
phiên âm quốc ngữ nên hiện tượng những âm tiết tồn tại độc lập, vô nghĩa trong địa danh
trở nên phổ biến. Quá trình quốc ngữ hoá các địa danh tiếng dân tộc ở đây chủ yếu là
song tiết hoá, đáng chú ý hơn cả là quá trình âm tiết hoá các tổ hợp phụ âm đầu trong các
địa danh. Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy hầu hết các tổ hợp phụ âm có trong địa danh
Cơtu đều được song tiết hoá bằng các âm thuần Việt hoặc Hán Việt. Chẳng hạn, thôn Ga
Hinh(grahing: tên dòng họ), thôn Ap Rung(aprung: cái bẫy cung, tên dòng họ), khe Vi
Linh(vleenh: trêu chọc, đùa giỡn), núi A Pi Lát(aplat: hình dạng lép không bình thường),

Đặc điểm này cũng tìm thấy phổ biến ở các địa danh tiếng Pacô-Taôi: thác Ra Ka
(ơrka: một loại cá suối), suối Lơ Tin (ltưng: theo dòng chảy), núi Ba Ràng ( prang: đến
tận nơi), suối Pa Leng (pleng: thiêng liêng), sông Kà Luông (kluông: chiếc đùi), thôn Cô
Lênh (kléng: ngọt ngào),…
Quả thật, nếu không có sự hiểu biết sâu sắc về đặc điểm ngữ pháp-ngữ nghĩa ngôn
ngữ dân tộc thiểu số trên địa bàn nghiên cứu(Cơtu, Bru-Vân Kiều, Pacô-Taôi) thì rất khó
có thể biết rõ được các âm tiết có mối quan hệ ngữ pháp hay ngữ nghĩa gì với nhau trong
mỗi địa danh đa tiết. Đây cũng là những khó khăn thường gặp phải khi tìm hiểu mối quan
hệ ngữ pháp-ngữ nghĩa giữa các yếu tố trong cấu tạo các địa danh phức. Từ đó cho thấy
việc nghiên cứu địa danh không thể không bắt bầu bằng con đương ngôn ngữ học.

Ka Nôn, A so, Dak, Toom,… đảm nhận yếu tố chính, còn 1,2, Krông, Rôn,… đảm nhận
yếu tố phụ, có chức năng hạn định yếu tố chính.
Đặc điểm vị trí này có sự tương đồng với các địa danh thuần Việt kiểu: thôn Cây
Si, thôn Đá Bàn, thôn Bến Mưng, (ở Quảng Trị); thôn Bến Củi, thôn Hói Mít, thôn Rú
Hóp, thôn Khe Su,…(ở Thừa Thiên Huế) nhưng lại có vị trí ngược lại với đa số các địa
danh Hán Việt, kiểu như: làng Mỹ Xá, Đặng Xá, Thủy Điền, Tây Thành, (ở Thừa Thiên
Huế). Đặc biệt, kiểu cấu tạo địa danh theo quan hệ chính phụ với một số công thức điển
hình như “X + Xá”, “Kẻ + X”, “Vạn + X” thường gặp trong địa danh tiếng Việt, Hán Việt
lại rất hiếm khi bắt gặp trong mô hình cấu tạo các địa danh có nguồn gốc tiếng dân tộc
thiểu số trên địa bàn Thừa Thiên Huế.
b)Về các địa danh có cấu tạo phức theo quan hệ đẳng lập:
Các địa danh có cấu tạo phức theo quan hệ đẳng lập chiếm một số lượng hạn chế
trong cấu tạo địa danh có nguồn gốc tiếng dân tộc nói chung, tiếng Cơtu nói riêng. Theo
quan hệ đẳng lập, các yếu tố có vai trò bình đẳng với nhau về mặt ý nghĩa cũng như việc
tham gia vào các vị trí trong địa danh. Đa số các địa danh có cấu tạo theo quan hệ đẳng
lập đều rơi vào nhóm các địa danh hành chính Hán Việt: thôn Phú Xuân, thôn Phú
Thượng, xã Hồng Hạ, xã Hồng Quảng, …Trường hợp địa danh Pacô-Taôi cấu tạo ghép
đẳng lập kiểu như làng Quảng Mai ở xã A Ngo do hai làng Quảng Thọ và Karmai(cái vá)
nhập làm một mà thành chỉ gặp đúng một lần.
4
Địa danh có nguồn gốc tiếng Cơtu cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Qua
khảo sát, chúng tôi chỉ xác định được một số trường hợp, chẳng hạn, thôn Bá Tang do
ghép thôn Chi Tang(chitang: cây nứa bọp bọp) với thôn La Pa(lapar: lá trầu); thôn Ra
Đàng do ghép thôn A Ra(ara: một loại cá) với thôn Ba Đang(bhadang: cây lá lốt), thôn
Rung Gềnh do ghép thôn Tu Karung(ngọn sông) với thôn Gêêng(tên dòng họ), thôn Ga
Hinh có cấu trúc bằng cách ghép thôn Grhing(tên dòng họ) với thôn Yahin(tên dòng họ).
So với các địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc, nhóm các địa danh làng xã
Hán Việt có cấu tạo theo kiểu ghép đẳng lập này lại là hiện tượng phổ biến trong lối định
danh của địa danh Việt Nam nói chúng, ở Thừa Thiên Huế nói riêng: Phước Phú =
Phước Tích+ Phú Xuân; Bình Điền = Bình lợi + Thuận Điền; Lại Lộc = Vĩnh Lại +

hợp với thành tố tên riêng B(tức các địa danh đích thực) có nguồn gốc tiếng dân tộc cho
thấy có sự đan xen, giao thoa văn hoá-ngôn ngữ giữa các dân tộc qua việc gọi tên các địa
danh trên địa bàn cư trú.
2.3.Đặc điểm ý nghĩa các địa danh có nguồn gốc tiếng Cơtu
3
Về địa danh Tây Nguyên, xem thêm: Nguyễn Tố Uyên, Hoàng Thị Châu, Khảo sát địa danh tiếng dân tộc thiểu số
trên bản đồ vùng Tây Nguyên, trong "Tiến tới chuẩn hóa cách viết tên riêng tiếng dân tộc thiểu số trong văn bản
tiếng Việt", đề tài của Liên hiệp các hội khoa học kĩ thuật Việt Nam, 2001; Trần Văn Dũng, Đặc điểm về cấu tạo
của địa danh ở Dak Lăk, Tạp chí Ngôn ngữ số 03, 2005, tr. 71-79; Lê Trung Hoa, Địa danh học Việt Nam, Nxb
KHXH, TP. Hồ Chí Minh, 2006.
4
Về địa danh vùng Tày Nùng, xem thêm: Lê Trung Hoa, Địa danh học Việt Nam, Nxb KHXH, TP. Hồ Chí Minh,
2006; Hoàng Văn Ma, Về địa danh vùng Tày Nùng, trong "Những vấn đề ngôn ngữ học", Hà Nội, Viện Ngôn ngữ
học, 2002, tr. 202-213.
5
2.3.1. Địa danh là một bộ phận trong từ vựng. Nó được xuất phát từ vốn từ chung và
mang theo chức năng định danh. Chức năng định danh của địa danh là một dạng của chức
năng biểu vật mà mỗi từ mang trong nó. Về bản chất, địa danh là những từ ngữ lấy trong
vốn từ vựng của ngôn ngữ, nó hoạt động và chịu tác động của qui luật ngữ âm, từ vựng
và ngữ pháp của ngôn ngữ đó. Nghiên cứu của các yếu tố cấu tạo địa danh cũng là nghiên
cứu mặt nghĩa của đơn vị từ. Vì thế, “khi tìm hiểu những đặc điểm về ý nghĩa của các yếu
tố cấu tạo nên địa danh phải bám chắc vào nghĩa của từng yếu tố, từng từ ngữ này và phải
đặt chúng trong ngữ cảnh, hoàn cảnh mà địa danh xuất hiện”[Từ Thu Mai, 2004, tr.98].
Đối với các địa danh nói chung, nghĩa của địa danh chính là nghĩa của từng yếu tố cấu
tạo địa danh đó. Mỗi tên riêng “tạo nên trong trí óc ta sự liên hệ đến một thực thể. Đó là
chức năng ý nghĩa của tên riêng"[Nguyễn Kiên Trường, 1996, tr.90].
Như vậy, nghiên cứu đặc điểm ý nghĩa các địa danh chính là chỉ ra các phương
thức định danh và giá trị phản ánh hiện thực của các địa danh. Bởi lẽ, phương thức định
danh là cách thức đặt tên cho đối tượng địa lí; còn đặc điểm phản ánh hiện thực chính là
nói tới ý nghĩa của các thành tố, của từng địa danh và hệ thống các địa danh.

núi có hình dạng như cái đầu hói), núi Muen(Mooqơơn: núi có hình tròn trịa), núi Cha
Vung(chagung, chibhung: cong queo, quắp), núi Tre Gong(chagong: nhô mặt phía trước).
6
Địa danh gọi theo kích thước của đối tượng: khe Ba Tang(patang: rộng, bằng
phẳng), núi A Tây Luật(atilượt: vượt quá, đi quá), …
Địa danh gọi theo tính chất và màu sắc của đối tượng: núi Bò Kỳ Hạ(pók: màu
trắng), thôn Poi Ting(poiring: một cách thấu đáo), thôn A So(aso: đỏ hồng), thôn Ka
Nôn(kanông: cái nôi màu hồng), núi Ka Năm(kanăm; bóng tối do cây che phủ), đèo La
Hi(lahi lapar: không có chi hết, mất hết),…
Địa danh gọi theo vị trí, địa điểm hình thành đối tượng:
Ví dụ: Núi Bơ Lạch(parleech: điểm cuối), đồi Cha Lét(charlét: điểm đi qua), khe
Tu Tôm(tu: ngọn, điểm bắt đầu), núi Cho(chóh: điểm cắm mốc), núi A Rum Cà
Lưng(arum karrứm: dưới mặt trăng), …
j) Các địa danh có nguồn gốc tiếng Cơtu còn được đặt theo phương thức chuyển
hoá. Đặc điểm này phản ánh nét phổ biến và dễ thấy trong cách định danh của các địa
danh của những vùng miền khác nhau. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các địa danh
thường được chuyển hoá theo các phương thức sau:
* Chuyển hoá giữa các địa danh thuộc cùng một loại hình địa danh, chẳng hạn, núi
Bơ Lạch(parleech)- khe Bơ Lạch(parleech); đồi Cha Lét(charlét)- đầm Cha Lét(charlét);
núi Tre Linh(charléenh)- sông Che Linh(charléenh),…
* Chuyển hoá giữa các địa danh khác loại hình địa danh với nhau. Phương thức
chuyển hóa này thường là từ địa danh chỉ đối tượng địa lí tự nhiên chuyển hóa thành địa
danh cư trú-hành chính. Chẳng hạn, núi A Sáp - thôn A Sáp; đồi A So- thôn A So, núi Ba
Lạch- thôn Ba Lạch, núi Ta Lu- thôn Ta Lu; núi A Tin- thôn A Tin; khe Ta Rình- thôn Ta
Rinh;…
* Chuyển hoá từ thành tố chung A(danh từ chung) thành thành tố B(tên riêng, tức
địa danh). Phương thức này phổ biến ở địa danh Hán Việt và thuần Việt, cũng như địa
danh tiếng dân tộc khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Chúng tôi nhận thấy các địa danh có
nguồn gốc tiếng dân tộc ở Thừa Thiên Huế nói chung, tiếng Cơtu nói riêng ít được hình
thành bằng lối định danh chuyển hoá này, chỉ bắt gặp ở một vài trường hợp tiêu biểu,

Huế, đặc biệt vùng cao nguyên Trung Trường Sơn. Cư dân các dân tộc thiểu số chủ yếu
định cư ở miền Tây Thừa Thiên Huế, với đặc điểm địa hình núi non hiểm trở, nhiều đèo
nhiều suối nằm chênh vênh giữa núi rừng heo hút. Đặc điểm địa lí tự nhiên nổi bật này
được phản ánh rõ nét qua nghĩa của các địa danh. Những từ ngữ được chọn dùng để đặt
tên núi tên sông trong địa danh Cơtu đã phản ánh một cách hiện thức nhất đặc điểm địa
hình ở đây: ngọn núi hình tổ ong(núi A Sáp), hói đầu(núi Ka Lương), há miệng(núi A
Hô), nhô lên phía trước(núi Tre Gong), cong queo(núi Cha Vung), đầu ngọn suối(khe Tu
Tôm), dưới mặt trăng(núi A Rum Cà Lưng),…
Về thế giới thực vật, việc dùng tên cây cỏ để đặt địa danh là một hiện tượng phổ
biến bởi thực vật là yếu tố tự nhiên gần gũi với con người, trực quan và thường được
nhận biết sớm. Thế giới thực vật được phản ánh một cách phong phú nhất qua địa danh
có nguồn gốc tiếng Cơtu đã tạo nên một nét văn hoá thực vật trong lối định danh của cư
dân bản địa về vùng đất mà mình sinh sống. Đó phần lớn là những loại cây cỏ hết sức đặc
trưng cho vùng đất mà tộc người Cơ Tu cư trú được chọn để gọi tên các đối tượng địa lí
có trên địa bàn: cây bồ kết (taraq), cây mây(kire), môn tía(kăm: môn tía), cơm gạo(Aviq),
cây nứa(Chitang), cây tầm vông(rirang), cây đoác(tivac),… Những loại cây cỏ này đều
đã được hoá thân thành địa danh, tạo nên những trầm tích văn hoá đặc sắc về một vùng
cao nguyên miền Trung.
Về thế giới động vật, các địa danh có nguồn gốc tiếng Cơtu phản ánh văn hoá dân
dã về lối ứng xử với môi trường tự nhiên qua thế giới loài vật. Dân tộc Cơtu đã biết lựa
chọn những động vật quen thuộc, gắn với đời sống sinh hoạt của cộng đồng để đặt tên
cho sông, núi, khe, suối, thôn bản của mình như: nai rừng(joóng), chim sáo(yong), thằn
lằn (tilu), kỳ nhông(kajoong), con rùa(hacop), con thạch sùng(atuq trên),…
Như vậy, môi trường tự nhiên hội đủ các đặc điểm về tính chất và địa hình vùng
đất, một thế giới động-thực vật phong phú gắn với đặc trưng vùng cao nguyên miền
Trung, tất cả đều được “hoá thân” thành địa danh, qua đó khắc hoạ rõ nét nhất một không
gian văn hoá của các tộc người ở Thừa Thiên Huế giàu bản sắc. Sinh tụ trên dạng môi
trường đặc thù, các dân tộc ít người nơi đây đều xem rừng núi, cây cỏ, sông suối như bà
mẹ lớn, không chỉ nơi cung cấp thức ăn, thức uống, nguyên liệu làm nhà mà còn là chốn
nuôi dưỡng đời sống tâm linh, tinh thần, khởi nguồn cho mạch sống văn hoá. Con người

tin về văn hoá-tâm lí của một tộc người, cũng như nguồn gốc dân cư với tư cách là những
chủ thể của một vùng văn hoá, chủ thể tạo nên các địa danh.
Đối với các địa danh thuần Việt và Hán Việt, chúng phản ánh tên các dòng họ có
công khai canh khai khẩn lập làng. Sự có mặt tên các dòng họ qua địa danh đã để lại
những “dấu tích” về thời điểm lịch sử hình thành làng xã của cư dân trên địa bàn cư trú:
Văn Xá, Lê Xá, Cao Xá, Võ Xá, Lê Xá Đông, Lê Xá Tây, Cao Xá Hạ, Cao Xá Thượng,…
Theo các nhà nghiên cứu, loại địa danh “X + Xá”
6
có thể hình thành từ một trong hai lí
do sau: một dòng họ chiếm địa vị độc tôn hoặc đa số trong một khu dân cư; hoặc một
dòng họ vốn nổi tiếng nhất trong khu vực ấy. Đối với các địa danh có nguồn gốc tiếng
Cơtu ở Thừa Thiên Huế, nhờ các địa danh mà tên một số dòng họ của người Cơtu đã đổi
theo họ người Kinh nhưng vẫn còn được bảo lưu cho đến tận ngày nay. Chẳng hạn, tên
thôn được đặt theo một dòng họ kiêng ăn thịt con trút: thôn MùNú (munuq), dòng họ có
vật tổ phải kiêng là cái bẫy hầm chông: thôn Ap Rung(aprung),…Rõ ràng, mỗi dòng họ
đều thờ những vật tổ của mình và đó cũng là những con vật kiêng đối với cả cộng đồng
thôn bản. Mỗi địa danh mang tên dòng họ đều ký thác trong mình những câu chuyện cổ
tích mang đậm dấu ấn văn hoá của dân tộc mình.
Bên cạnh đó, địa danh dân tộc thiểu số được đặt theo tên người đã góp phần phản
ánh đặc điểm văn hoá của chủ thể văn hoá là cư dân Môn-Khơ Me sống trên mảnh đất
Thừa Thiên Huế. Phần lớn các địa danh dân tộc đặt theo tên những vị anh hùng của cộng
đồng, là nhân vật trong các truyền thuyết, sử thi hay những người có công khai phá làng
bản thôn xóm. Chẳng hạn, các địa danh Pacô-Taôi: đồi Pơ Rok (Prók: tên một nhân vật
tiêu biểu trong làng ở xã A Đớt), núi Quỳnh Trên (Koonh Trên: tên nhà cách mạng, nhà
lãnh đạo huyện A Lưới), thôn A Lưới (Alơaiq: nhân vật anh hùng của cộng đồng trong sử
thi), thác A Nô (Anôr: nhân vật lịch sử trong sử thi). Địa danh Cơtu đặt theo tên người
cũng phản ánh rõ nét đặc điểm văn hóa của tộc người Cơtu trong cách đặt tên. Dân tộc
Cơtu không chỉ ghi nhớ những người tốt, có công lao với thôn bản như: núi Ong(tên
6
Mô hình địa danh “X + Xá” là một kiểu đặt địa danh mang đặc trưng cho quá trình tự cư lập làng của

riêng(B), tức địa danh, như thường xảy ra trong các địa danh dân tộc thiểu số ở các vùng
khác. Mỗi tên núi, tên sông, tên làng, là những cách định danh không lặp lại ở các yếu
tố, ở các loại hình địa danh khác nhau. Chính đặc điểm chế định ngôn ngữ tạo địa danh
cũng như các lớp từ ngữ được dùng để đặt tên đã làm nên tính đặc trưng trong văn hoá
địa danh tiếng Cơtu.
4.3.Việc tìm hiểu ý nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực của các địa danh có nguồn
gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số đi liền với việc chỉ ra các phương thức định danh của địa
danh; đồng thời chỉ ra được những đặc điểm văn hoá tộc người thể hiện qua mỗi đơn vị
địa danh. Ý nghĩa các địa danh dân tộc nơi đây không “chuyển tải” nhiều ước vọng cao
xa, lí tưởng, khát vọng, những mĩ từ tượng trưng ước lệ như trong các địa danh Hán Việt
hay thuần Việt mà qua đó, thể hiện một lối tư duy dân dã, lối sống hoà hợp với thiên
nhiên, cây cỏ, gắn liền với đời sống lao động cộng đồng bền chặt, thiêng liêng nhằm khắc
hoạ những đặc trưng văn hoá tộc người Cơtu, cư dân Môn-Khơ Me bản địa của vùng cao
nguyên Trường Sơn ở Thừa Thiên Huế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Tiếng Việt
1. Dương Văn An (2001), Ô châu cận lục, (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc hiệu
đính và dịch chú), Nxb Thuận Hoá, Huế.
2. Nguyễn Tài Cẩn (2001), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo), tái bản,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
10
3. Hoàng Thị Châu (1966), “Mối liên hệ về nguồn gốc cổ đại ở Đông Nam Á qua
một vài tên sông”, Thông báo khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 2, Nxb Giáo dục.
4. Trần Trí Dõi(1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
5. Trần Trí Dõi(2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội, Nxb Văn hoá thông
tin, Hà Nội.
6. Phạm Đức Dương (2007), Bức tranh ngôn ngữ-văn hoá tộc người ở Việt Nam và
Đông Nam Á, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Lê Quí Đôn (1977), Phủ biên tạp lục, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp,

20. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế(2005), Địa chí Thừa Thiên Huế: phần lịch sử, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
B. Tiếng Anh
1. Anderson, John. M (2007), The Grammar of Names, Oxford University Press,
New York
2. Trask.R.L, 1999, Key concepts in language and linguistics, Routledge, London
and New York.
11
3. Mark J. Alves, 2006, A grammar of Pacoh:a Mon-Khmer language of the central
highlands of Vietnam, Pacific Linguistics, Research School of Pacific and Asian Studies,
The Australian National University.
4. Paul Sidwell, 2006, A Mon- Khmer comparative dictionary, Pacific Linguistics,
Research School of Pacific and Asian Studies, The Australian National University.
5. Richart L. Watson(1969), “pacoh names”, Mon-Khmer Studies III, The Linguistic
Circle of Saigon & The Summer Institute of Linguistic, 77-88.
6. Watson K. (1964), “pacoh phonemics”, Mon-Khmer Studies I, The Linguistic
Circle of Saigon & The Summer Institute of Linguistic, 135-148.
7. Wanllance J.M(1966), “Katu phonemes”, Mon-Khmer Studies I, The Linguistic
Circle of Saigon & The Summer Institute of Linguistic, 55-68.
12
SUMMARY NATIONAL CONFERENCE 2011
THE LANGUAGE - CULTURE CHARACTERISTICS OF THE PLACE-NAMES
WITH THE ORIGINAL KATU IN THUA THIEN HUE
Tran Van Sang
(University of Phu Xuan - Hue)
To study the characteristics of the language-culture place-names derived from the katu language
in Thua Thien Hue province, based on fieldwork resources in the area, we initially showed the following
characteristics: 1)Consider the location in terms of pronunciation (only the local laws of the session
moved into the nation's reputation script); 2) See terms of local structural units in the nation's reputation;
3)Considering semantic units address national reputation in the area surveyed and 4) Point out the ways


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status