Đề Tài : Đặc trưng ngôn ngữ văn hóa của địa danh Thanh Hóa - Pdf 14

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ THẮNG
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA
CỦA ĐỊA DANH THANH HÓA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2014
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ THẮNG
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA
CỦA ĐỊA DANH THANH HÓA
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62 22 02 40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS. PHẠM TẤT THẮNG
2. TS. NGUYỄN ĐĂNG SỬU
HÀ NỘI – 2014
LI CAM OAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận án là trung thực, có nguồn
gốc xuất xứ rõ ràng.
Tỏc gi lun ỏn
V Th Thng
DANH MC CC T VIT TT V QUY C TRèNH BY
I. QUY C VIT TT
1. Quy ước viết tắt địa danh các huyện, thị xã, thành phố và ví dụ
Chữ viết tắt Được viết đầy đủ
B.T Bá Thước

CTVH Địa danh công trình văn hóa
CTDS Địa danh công trình dân sinh
VĐNPDC Địa danh vùng đất nhỏ phi dân cư
3. Quy ước viết tắt trong các bảng biểu về nguồn gốc địa danh
Chữ viết tắt Được viết đầy đủ
HV Hán - Việt
TTH Tiếng Thanh Hóa
TVTD Tiếng Việt toàn dân
TV+HV Thuần Việt và Hán Việt
TV + TT Thuần Việt và tiếng Thái
TV + TM Thuần Việt và tiếng Mường
TT + TM Tiếng Thái và tiếng Mường
KR Không rõ
DTTS Dân tộc thiểu số
II. QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
1. Quy ước về cách dùng kí hiệu phiên âm
- Những phụ âm khi xuất hiện ở vị trí đầu âm tiết sẽ được kí hiệu bằng một dấu nối
đặt sau kí hiệu phiên âm âm vị. Ví dụ: /b-/
- Những phụ âm và bán âm khi xuất hiện ở vị trí cuối âm tiết sẽ được kí hiệu bằng
một dấu nối đặt trước kí hiệu phiên âm. Ví dụ: /-i/, /-n/
2. Quy ước về kí hiệu Tài liệu tham khảo
- Kí hiệu Tài liệu tham khảo được để trong [ ], gồm: số thứ tự của tài liệu theo trật
tự ở phần Tài liệu tham khảo; trang. Nếu nhiều trang thì số trang được ngăn cách
bằng dấu gạch ngang hoặc dấu phẩy. Ví dụ: [1; 15] hoặc [3; 12-23] hoặc [56; 23 -
25, 34 - 35]
MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 6
DANH M C B NGỤ Ả 8
DANH M C S Ụ ƠĐỒ 9
M UỞĐẦ 1

B ng 2.2: Ngu n g c ng nguyên c a th nh t chung trong a danhả ồ ố ữ ủ à ố đị
Thanh Hóa 56
2.3.2. c i m c u t o c a th nh t chungĐặ để ấ ạ ủ à ố 57
B ng 2.3: T ng h p t n s xu t hi n các ki u c u t o c a th nh t chungả ổ ợ ầ ố ấ ệ ể ấ ạ ủ à ố
57
2.3.4. V kh n ng chuy n hóa v k t h p c a th nh t chungề ả ă ể à ế ợ ủ à ố 58
2.4. C I M THÀNH T RIÊNG TRONG A DANH THANH HÓAĐẶ ĐỂ Ố ĐỊ 66
2.4.1. c i m chungĐặ để 66
B ng 2.4: T ng h p t n s xu t hi n các ki u c u t o c a th nh t riêngả ổ ợ ầ ố ấ ệ ể ấ ạ ủ à ố
66
2.4.2. c i m ngu n g c ngôn ng c a các y u t trong th nh t riêngĐặ để ồ ố ữ ủ ế ố à ố
66
2.4.3. c i m c u t o c a th nh t riêngĐặ để ấ ạ ủ à ố 70
2.4. Ti u k tể ế 78
CH NG 3.ƯƠ 80
CÁC PH NG TH C NH DANH TRONG A DANH THANH HÓAƯƠ Ứ ĐỊ ĐỊ 80
3.1. D N NH PẪ Ậ 80
3.2. CÁC PH NG TH C NH DANH TRONG A DANH THANH HÓAƯƠ Ứ ĐỊ ĐỊ
81
3.2.1. c i m chungĐặ để 81
B ng 3.1: T ng h p t n s xu t hi n c a các ph ng th c nh danhả ổ ợ ầ ố ấ ệ ủ ươ ứ đị 81
3.2.2. nh danh b ng ph ng th c t t oĐị ằ ươ ứ ự ạ 82
3.2.3. nh danh b ng ph ng th c chuy n hóaĐị ằ ươ ứ ể 100
3.2.4. nh danh b ng ph ng th c vay m nĐị ằ ươ ứ ượ 102
3.2.5. Các a danh ch a xác nh c lí dođị ư đị đượ 104
3.3. Ti u k tể ế 104
CH NG 4.ƯƠ 106
CÁC C TR NG NGÔN NG - V N HÓAĐẶ Ư Ữ Ă 106
TRONG Ý NGH A VÀ S BI N I C A A DANH THANH HÓAĨ Ự Ế ĐỔ Ủ ĐỊ 106
4.1. D N NH PẪ Ậ 106

nhiên 44
B ng 1.1: B ng t ng h p t n s xu t hi n c a các nhóm a danhả ả ổ ợ ầ ố ấ ệ ủ đị 45
B ng 1.2b: Ngu n g c ng nguyên c a th nh t riêng trong a danhả ồ ố ữ ủ à ố đị
mi n núiề 46
1.4. Ti u k tể ế 46
CH NG 2ƯƠ 48
C U T O C A A DANH THANH HÓAẤ Ạ Ủ ĐỊ 48
2.1. D N NH PẪ Ậ 48
2.2. KHÁI QUÁT V C U T O A DANHỀ Ấ Ạ ĐỊ 49
2.2.1. Mô hình c u t o a danhấ ạ đị 49
B ng 2.1: Mô hình c u t o a danhả ấ ạ đị 50
2.2.2. V các th nh t trong c u t o a danhề à ố ấ ạ đị 51
2.3. C I M THÀNH T CHUNG TRONG A DANH THANH HÓAĐẶ ĐỂ Ố ĐỊ 55
2.3.1. c i m chungĐặ để 55
2.3.2. c i m ngu n g c ngôn ng c a th nh t chungĐặ để ồ ố ữ ủ à ố 56
B ng 2.2: Ngu n g c ng nguyên c a th nh t chung trong a danhả ồ ố ữ ủ à ố đị
Thanh Hóa 56
2.3.2. c i m c u t o c a th nh t chungĐặ để ấ ạ ủ à ố 57
B ng 2.3: T ng h p t n s xu t hi n các ki u c u t o c a th nh t chungả ổ ợ ầ ố ấ ệ ể ấ ạ ủ à ố
57
2.3.4. V kh n ng chuy n hóa v k t h p c a th nh t chungề ả ă ể à ế ợ ủ à ố 58
2.4. C I M THÀNH T RIÊNG TRONG A DANH THANH HÓAĐẶ ĐỂ Ố ĐỊ 66
2.4.1. c i m chungĐặ để 66
B ng 2.4: T ng h p t n s xu t hi n các ki u c u t o c a th nh t riêngả ổ ợ ầ ố ấ ệ ể ấ ạ ủ à ố
66
2.4.2. c i m ngu n g c ngôn ng c a các y u t trong th nh t riêngĐặ để ồ ố ữ ủ ế ố à ố
66
2.4.3. c i m c u t o c a th nh t riêngĐặ để ấ ạ ủ à ố 70
2.4. Ti u k tể ế 78
CH NG 3.ƯƠ 80

CH NG 1.ƯƠ 14
C S L THUY T V A DANH VÀ M T S V N Ơ Ở Í Ế ỀĐỊ Ộ Ố Ấ ĐỀ 14
V A BÀN THANH HÓAỀĐỊ 14
1.1. D N NH PẪ Ậ 14
1.2. C S L THUY T V A DANHƠ Ở Í Ế ỀĐỊ 15
1.2.1. Khái quát v a danhềđị 15
1.2.2. Phân lo i a danhạ đị 19
1.2.3. V m i quan h gi a a danh v v n hóaề ố ệ ữ đị à ă 21
1.2.4. V nh danh trong ngôn ng v trong a danhềđị ữ à đị 27
1.2.5. V v n ý ngh a c a a danhề ấ đề ĩ ủ đị 31
1.3. M T S V N V A BÀN THANH HÓAỘ Ố Ấ ĐỀ ỀĐỊ 34
1.3.1. S l c v c i m a b n Thanh Hóaơ ượ ềđặ đ ể đị à 34
1.3.2. S l c v c i m ph ng ng Thanh Hóaơ ượ ềđặ đ ể ươ ữ 42
1.3.3. S l c v a danh Thanh Hóaơ ượ ềđị 43
S 1.1: Phân lo i a danh Thanh Hóa theo tiêu chí t nhiên/không tơđồ ạ đị ự ự
nhiên 44
B ng 1.1: B ng t ng h p t n s xu t hi n c a các nhóm a danhả ả ổ ợ ầ ố ấ ệ ủ đị 45
B ng 1.2b: Ngu n g c ng nguyên c a th nh t riêng trong a danhả ồ ố ữ ủ à ố đị
mi n núiề 46
1.4. Ti u k tể ế 46
CH NG 2ƯƠ 48
C U T O C A A DANH THANH HÓAẤ Ạ Ủ ĐỊ 48
2.1. D N NH PẪ Ậ 48
2.2. KHÁI QUÁT V C U T O A DANHỀ Ấ Ạ ĐỊ 49
2.2.1. Mô hình c u t o a danhấ ạ đị 49
B ng 2.1: Mô hình c u t o a danhả ấ ạ đị 50
2.2.2. V các th nh t trong c u t o a danhề à ố ấ ạ đị 51
2.3. C I M THÀNH T CHUNG TRONG A DANH THANH HÓAĐẶ ĐỂ Ố ĐỊ 55
2.3.1. c i m chungĐặ để 55
2.3.2. c i m ngu n g c ngôn ng c a th nh t chungĐặ để ồ ố ữ ủ à ố 56

4.2. CÁC BÌNH DI N NGÔN NG - V N HÓA TRONG Ý NGH A C A A Ệ Ữ Ă Ĩ Ủ ĐỊ
DANH THANH HÓA 107
4.2.1. Các y u t a - v n hóa trong a danhế ốđị ă đị 107
4.2.2. Các y u t có m i liên h v i l ch s , v n hóa, xã h i trong aế ố ố ệ ớ ị ử ă ộ đị
danh 113
4.2.3. Các y u t liên quan n c tr ng ph ng ng trong a danhế ố đế đặ ư ươ ữ đị 124
4.3. S BI N I C A A DANH THANH HÓAỰ Ế ĐỔ Ủ ĐỊ 132
4.3.1. S bi n i c a a danh t nhiênự ế đổ ủ đị ự 132
4.3.2. S bi n i c a a danh nhân v nự ế đổ ủ đị ă 137
4.4. TI U K TỂ Ế 143
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Địa danh là một loại đơn vị từ vựng. Những lí thuyết về địa danh đã được
công bố trên thế giới trước đây chủ yếu có đối tượng nghiên cứu là địa danh ở các
ngôn ngữ biến hình. Trong khi đó, sự tồn tại và vận động của địa danh trong mỗi
ngôn ngữ bị chi phối mạnh mẽ bởi những quy luật nội tại của chính ngôn ngữ đó.
Vì thế, khi vận dụng các lí thuyết trên vào nghiên cứu địa danh ở các ngôn ngữ phi
hình thái như tiếng Việt đã nảy sinh một số vấn đề không phù hợp về cấu tạo, các ý
nghĩa ngữ pháp về giống, số, cách trong địa danh, sự biến đổi của địa danh, Do
đó, việc nghiên cứu địa danh của các địa phương trong các ngôn ngữ cụ thể sẽ góp
phần làm sáng tỏ những vấn đề lí thuyết địa danh trong ngôn ngữ không biến hình
nói chung và trong tiếng Việt nói riêng. Đây là một việc làm rất cần thiết trong hiện
tại. Hơn nữa, nghiên cứu địa danh của từng địa phương, từng vùng còn có ý nghĩa
thiết thực góp phần bổ sung cho bức tranh toàn cảnh về địa danh Việt Nam.
1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa từ lâu đã được khẳng định. Đó là
mối quan hệ hữu cơ giữa một bên là những giá trị vật chất và tinh thần của một dân
tộc và bên kia là phương tiện giao tiếp chung của dân tộc ấy. Kết quả nghiên cứu
của các nhà khoa học đã khẳng định: những đặc trưng của văn hóa dân tộc có ảnh
hưởng và được thể hiện khá rõ trong ngôn ngữ. Ngôn ngữ, vì thế, không chỉ là
phương tiện giao tiếp của cộng đồng mà còn là phương tiện bảo lưu những đặc

của Ban Cố trong Hán Thư (32 - 92 sau Công nguyên), của Lệ Đạo Nguyên (466? -
527) trong Thuỷ Kinh Chú [155; 12]. Ở phương Tây, trong Thánh kinh của Thiên
Chúa giáo cũng đã thu thập rất nhiều địa danh với các nguồn khác nhau. Sự thu thập
đó chủ yếu nhằm mục đích truyền giáo cho cư dân trên các châu lục, các quốc gia,
các vùng miền khác nhau. Những ghi chép đó như là những công trình đầu tiên,
khởi nguyên cho hướng nghiên cứu địa danh ở góc độ địa lí học lịch sử.
Đến thế kỷ XIX, địa danh học mới trở thành một khoa học ở Tây Âu với các
tên tuổi cùng các công trình: T.A. Gibson (1835) có Địa lí học từ nguyên: hướng
đến một danh sách phân loại về các từ ngữ thường gặp, như tiền tố hoặc hậu tố,
trong các phức thể của tên địa lí; Issac Taylor (1864) có Từ và các địa điểm hay sự
2
minh hoạ có tính nguyên lai về lịch sử, dân tộc học và địa lí học; J. J. Eghi (1872)
có Địa danh học; J.W. Nagh (1903) có Địa danh học, Những công trình này ban
đầu đã đưa ra các hướng nghiên cứu lí thuyết làm tiền đề cho khoa học địa danh
phát triển trong thế kỷ XX. Cũng ở giai đoạn này, nhiều cuộc hội thảo có tính chất
khu vực và quốc tế đã được tổ chức ở Mỹ, Australia, Anh. Nhiều tổ chức nghiên
cứu về địa danh được thành lập. Năm 1890, Uỷ ban địa danh Mỹ được thành lập.
Uỷ ban địa danh Thụy Điển cũng được thành lập năm 1902. Năm 1925, ở Đức đã
có tạp chí chuyên ngành Nghiên cứu địa danh [155,12].
Sang thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã đưa địa danh học lên một bước phát
triển mới: vừa nghiên cứu theo hướng lí thuyết vừa nghiên cứu theo hướng ứng
dụng. Tiêu biểu là các công trình: Các tên gọi, một khảo sát về việc đặt tên địa điểm
của George R. Stewart (1958), Thực hành địa danh học của P. E. Raper, Địa danh
học, kho tri thức, các quy tắc và ngôn ngữ của Naftali Kadmon,… Đi đầu trong
nghiên cứu hệ thống lí thuyết về địa danh là các học giả Xô viết. Từ những năm 60
của thế kỷ trước, hàng loạt các công trình địa danh học ra đời. Đó là các tác giả: E.
M. Murzaev với Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học, Iu. A. Kapenko
với Bàn về địa danh học đồng đại (1964), A. I. Popov với Những nguyên tắc cơ
bản của công tác nghiên cứu địa danh, N. I. Nikonov với Các khuynh hướng
nghiên cứu địa danh .v.v [92], [155].

Những công trình khảo sát công phu phải kể đến là: Tên làng xã Việt Nam đầu thế
kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ An trở ra) do Dương Thị The và Phạm Thị Thoa
dịch và biên soạn, Danh mục các làng xã Bắc Kỳ (Nomenclature des communues
du Tonkin) của Ngô Vi Liễn (1928), Những công trình này là những tập hợp đơn
giản, thuần tuý các địa danh hành chính, rất thuận tiện cho việc tra cứu. Từ đó cho
đến nay, hàng loạt các tài liệu về địa danh được tập hợp dưới dạng sổ tay địa danh.
Có thể xem đây là nguồn tư liệu quý giá về địa danh Việt Nam theo hướng nghiên
cứu của địa danh học ứng dụng.
Đến những năm 50 - 60 của thế kỷ XX, địa danh Việt Nam mới được xem xét,
nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học. Năm 1966, Hoàng Thị Châu với bài viết Mối
liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông đã là người đưa
“nhát cuốc” đầu tiên khai phá vùng đất hứa hẹn nhiều tài nguyên của địa danh Việt
4
Nam dưới góc độ ngôn ngữ học. Bằng phương pháp nghiên cứu so sánh - lịch sử,
với những dẫn liệu xác đáng, tác giả đã đưa ra những luận điểm thuyết phục về việc
lí giải nguồn gốc các địa danh sông Việt Nam. Theo đó, các yếu tố có mặt trong một
số địa danh sông ở Việt Nam và Đông Nam Á đều có nghĩa liên quan đến nước [46;
130]. Từ đó có thể suy rộng ra, không chỉ có những địa danh khảo sát trong bài viết
mà cả hệ thống địa danh sông ở Việt Nam nói chung đều có nghĩa liên quan đến
nước dù nguồn gốc ngữ nguyên của chúng khác nhau. Điều đó có nghĩa là những
địa danh sông ngày nay có thể đều được chuyển hóa từ những danh từ chung (thành
tố chung) có nghĩa là nước mà thành.
Năm 1976, Trần Thanh Tâm với bài Thử bàn về địa danh Việt Nam [116] đã
sơ lược hình dung về bức tranh địa danh ở Việt Nam từ góc độ địa - văn hóa. Từ
góc nhìn này, tác giả đề cập đến các vấn đề như là những gợi ý ban đầu cho một
hướng nghiên cứu về địa danh: sơ lược nghiên cứu địa danh ở Việt Nam, quy luật
phát triển của địa danh, các loại hình địa danh và mấy đặc điểm về địa danh Việt
Nam. Đáng chú ý là ở nội dung về quy luật phát triển của địa danh, tác giả đã nêu ra
một số nguyên nhân ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của địa danh. Tuy
nhiên, ở nội dung phân loại, do không xây dựng tiêu chí rõ ràng nên sự phân chia

(2012) khảo sát và mô tả địa danh Hà Tĩnh trên cơ sở kế thừa những vấn đề lí luận
của các công trình đi trước. Trần Văn Sáng (2013) lần đầu tiên nghiên cứu “địa
danh có nguồn gốc DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế”.
Ngoài những công trình trên, một số đề tài các cấp của một số tác giả đã tiến
hành nghiên cứu địa danh ở các địa phương khác như Nghiên cứu địa danh Quảng
Nam. Trong công trình này, trên cơ sở những lí thuyết của các học giả đi trước, tác
giả đã làm rõ thêm một số vấn đề cho địa danh học Việt Nam: đặc điểm ngữ âm,
đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm ngữ pháp trong địa danh, vấn đề chuẩn hóa địa
danh, Hướng nghiên cứu này đã hoàn toàn sử dụng các phương pháp mô tả của từ
vựng học. Ngoài ra, tác giả đã bổ sung thêm một số vấn đề lí thuyết mà ở các công
trình của các tác giả khác chưa có. Đó là các vấn đề về địa danh trong ngôn ngữ học
đại cương như: địa danh trong các quốc gia đa ngôn ngữ, địa danh trong các ngôn
ngữ chưa có chữ viết, [92].
6
Đáng chú ý trong các nghiên cứu về địa danh ở Việt Nam là một hệ thống các
công trình của tác giả Lê Trung Hoa. Năm 2006, Lê Trung Hoa đã đưa ra Nguyên
tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (Địa danh thành phố Hồ Chí Minh) và
Địa danh học Việt Nam. Đây có thể xem là công trình tổng hợp những kết quả của
quá trình nghiên cứu dài lâu của Lê Trung Hoa về địa danh Việt Nam. Các công
trình trên đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản của địa danh Việt Nam, từ khái niệm
về địa danh học, phân loại địa danh, vị trí của địa danh trong ngôn ngữ học cho đến
các vấn đề nguyên nhân của sự ra đời và mất đi của địa danh,
Gần đây, khi những lí thuyết của ngôn ngữ học hiện đại thế giới có những
bước tiến đáng kể, các nhà ngôn ngữ học đã có sự quan tâm thích đáng đến mối
quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa. Nhiều học giả Việt Nam trên cơ sở kế thừa, vận
dụng và phát triển các lí thuyết đó đã cho ra mắt một số công trình nghiên cứu về
tiếng Việt từ góc độ nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa. Các tác giả đã đi theo ba
hướng tiếp cận: một là cách tiếp cận của từ nguyên học (Nguyễn Kim Thản,
Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Thị Châu, Trần Trí Dõi, Phạm Đức Dương, ); hai là cách
tiếp cận của dân tộc - ngôn ngữ học (Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thúy Khanh, ); và

quý báu cho chúng tôi về phương pháp và thao tác nghiên cứu cũng như hướng tiếp
cận địa danh từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa.
Như vậy, ngoài những thành công của hướng nghiên cứu địa lí học lịch sử về
địa danh, từ góc độ ngôn ngữ học, những vấn đề về địa danh và ngôn ngữ - văn hóa
của địa danh vẫn còn được tiếp tục nghiên cứu cả ở Việt Nam và trên thế giới. Địa
danh luôn gắn với địa phương. Các vấn đề lí thuyết về địa danh phải được soi sáng
bằng việc nghiên cứu địa danh ở các địa bàn cụ thể. Do đó, nghiên cứu địa danh ở
các địa phương cụ thể đang trở nên rất cần thiết để hoàn thiện bức tranh ngôn ngữ -
văn hóa về địa danh Việt Nam và hoàn thiện hệ thống lí thuyết địa danh học trong
ngôn ngữ đơn lập nói riêng và địa danh học nói chung.
2.3. Nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa trong địa danh Thanh Hóa
Là một vùng đất cổ với bề dày về truyền thống lịch sử - văn hóa, Thanh Hóa
là một trong những địa phương được nhiều học giả thuộc các lĩnh vực khoa học
khác nhau của trong và ngoài nước quan tâm. Nhiều hội thảo quốc gia và quốc tế về
8
các vấn đề lịch sử - văn hóa, về vùng đất và con người xứ Thanh đã được tổ chức.
Địa danh ở Thanh Hóa vì thế cũng được xem xét, nghiên cứu ở những góc độ này.
Từ góc độ địa lí học lịch sử, địa danh Thanh Hóa một mặt được nghiên cứu
trong các địa dư, địa chí như Lịch triều hiến chương loại chí, Hoàng Việt dư địa chí
của Phan Huy Chú, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định, Đại Việt
địa dư toàn biên của Phương đình Nguyễn Văn Siêu, Đại Nam nhất thống chí do Á
Nam Trần Tuấn Khải phiên dịch, và trong các địa bạ, địa dư, địa chí của các làng,
xã, huyện và tỉnh. Mặt khác, địa danh Thanh Hóa cũng được đề cập trong các tài
liệu, các truyền thuyết về các sự kiện và nhân vật lịch sử của các triều đại: Lê Đại
Hành và thời Tiền Lê, về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, về Hồ Quý Ly và
thành Nhà Hồ, về chúa Trịnh và kinh đô kháng chiến Vạn Lại - Yên Trường trong
thời kì Lê Trung hưng, về chúa Nguyễn, vương triều Nguyễn và Gia Miêu trang và
về nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử khác. Ngoài ra, địa danh Thanh Hóa còn được
nhắc đến trong các huyền thoại về các vị công thần có công lập làng mở ấp ở Thanh
Hóa , trong những nghiên cứu về các làng nghề truyền thống của xứ Thanh. Trong

được hơn 7000 mục địa danh Thanh Hóa . Mục đích của đề tài là khảo sát được hệ
thống các địa danh ở Thanh Hóa để biên tập thành từ điển. Với mục đích đó, địa
danh ở đây một mặt được xem xét như là những chỉ dẫn về các thông tin vị trí địa lí,
dân số, đặc điểm lịch sử - văn hóa nổi bật; mặt khác từ góc độ ngôn ngữ - văn hóa,
một số thông tin khác cũng được điểm qua và có thể coi là những tìm hiểu bước đầu
như: miêu tả cấu tạo địa danh, nghĩa của địa danh theo phương diện từ nguyên học
dân gian, [93]. Vì phạm vi khảo sát rộng lại là một địa bàn có số lượng địa danh
khổng lồ nên đề tài mới chỉ dừng lại ở cấp độ khảo sát một cách tương đối các địa
danh ở Thanh Hóa.
Tóm lại, cho đến thời điểm hiện tại, địa danh Thanh Hóa vẫn cần có một sự
nghiên cứu sâu hơn, khái quát hơn từ phương diện ngôn ngữ - văn hóa.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Thông qua việc thu thập, phân loại, miêu tả và phân tích ngữ liệu, luận án
nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của địa danh Thanh Hóa trên các phương
diện: cấu tạo, phương thức định danh, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của địa
10
danh. Trên cơ sở đó phân tích vai trò của địa danh đối với văn hóa, sự chi phối, tác
động của các yếu tố văn hóa đối với sự ra đời và tồn tại của địa danh Thanh Hóa.
- Kết quả của luận án góp phần tìm hiểu thêm về truyền thống lịch sử và văn
hóa lâu đời của xứ Thanh. Từ đó, giáo dục tình yêu quê hương xứ sở cho người dân
địa phương, hình thành ý thức bảo vệ và gìn giữ các giá trị truyền thống qua địa
danh. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng để phục vụ phát
triển du lịch, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lí thuyết liên quan đến địa danh làm cơ sở cho việc
khai thác địa danh Thanh Hóa. Đó là các vấn đề định nghĩa và phân loại địa danh,
các phương thức định danh, ý nghĩa của địa danh, Xác định mối quan hệ giữa văn
hóa và địa danh trên phương diện lí luận.

Việt. Bởi “muốn nghiên cứu lịch sử tiếng Việt thì cần tìm các di tích hóa thạch
trong các phương ngữ” [36; 259] trong đó có địa danh.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học
“Phương pháp miêu tả là hệ thống những thủ pháp nghiên cứu được vận dụng
để thể hiện đặc tính của các hiện tượng ngôn ngữ trong một giai đoạn phát triển
nào đó của nó.” [50; 422]. Phương pháp miêu tả được chia thành hai thủ pháp: thủ
pháp giải thích bên ngoài và thủ pháp giải thích bên trong. Thủ pháp giải thích bên
trong sử dụng các thao tác phân loại, hệ thống hóa, định lượng thống kê và các thủ
pháp phân tích, tổng hợp khi nghiên cứu các thành tố trong cấu tạo địa danh, xác
định các phương thức định danh, ý nghĩa các thành tố và sự biến đổi của địa danh.
Bên cạnh đó, sự ra đời và tồn tại của địa danh chịu sự tác động mạnh mẽ của điều
kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội. Do vậy, thủ pháp giải thích bên ngoài cũng
được vận dụng khi đặt địa danh trong mối quan hệ với các yếu tố địa lí tự nhiên,
lịch sử, xã hội, văn hóa tộc người, và thao tác so sánh địa danh Thanh Hóa với địa
danh của các địa phương khác. Các phương diện của địa danh được xem xét, phân
tích, miêu tả một cách thấu đáo và chính xác hơn khi vận dụng theo thủ pháp này.
12
6.2. Phương pháp điền dã ngôn ngữ học
Phương pháp điền dã ngôn ngữ học được vận dụng khi thu thập ngữ liệu.
Khảo sát, thu thập ngữ liệu về địa danh Thanh Hóa được tiến hành theo nguyên tắc
“thu hẹp đào sâu để chọn mẫu điển hình và mở rộng phổ tra để tìm hệ thống” [152;
8]. Để có nguồn tư liệu, chúng tôi tiến hành thu thập từ hai nguồn chính: điều tra
điền dã thực tế và điều tra khảo sát qua các tài liệu về địa phương.
- Điền dã là thủ pháp điều tra trực tiếp các địa danh có trên địa bàn trong thời
điểm hiện tại (tính đến 2010). Trình tự được tiến hành theo các bước: xây dựng mẫu
phiếu, xác định các điểm khảo sát, thực địa, thu thập thông tin theo mẫu phiếu bằng
cách gặp gỡ phỏng vấn trực tiếp người dân, trưởng thôn, cán bộ văn hóa của các địa
phương, người cao tuổi,
- Bên cạnh nguồn tư liệu điền dã, chúng tôi còn thu thập tư liệu qua các tài liệu

những đối tượng nghiên cứu của danh xưng học. Là một đơn vị từ vựng, địa danh,
một mặt, chịu sự chi phối của những quy luật ngôn ngữ về các phương diện ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp. Mặt khác, do tồn tại trong những điều kiện địa lí, lịch sử, xã hội
cụ thể nên sự ra đời và tồn tại của địa danh bị tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố đó.
Địa danh vừa là kết quả, vừa là “nhân chứng” của sự tương tác các yếu tố trong và
ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ. Trên cơ sở các vấn đề lí thuyết liên quan, nghiên cứu
địa danh của một địa phương chính là nghiên cứu các đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa
trong địa danh địa phương đó.
Thanh Hóa là một Việt Nam thu nhỏ. Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên,
lịch sử, văn hóa, xã hội và con người Thanh Hóa hội đủ những nét ưu việt rất riêng
để tạo nên sắc thái văn hóa của một xứ. Xứ Thanh chính là cảnh huống (ngữ cảnh)
của địa danh Thanh Hóa. Những hiểu biết sâu sắc về “cảnh huống” sẽ giúp người
nghiên cứu có cái nhìn thấu đáo hơn, chân xác hơn về các phương diện của địa
danh, từ đó có thể có những nhận xét chính xác hơn về những đặc trưng ngôn ngữ -
văn hóa trong địa danh.
14
1.2. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH
1.2.1. Khái quát về địa danh
Việc xác định khái niệm địa danh luôn luôn là nội dung thứ nhất trong địa
danh học. Theo hiển tự, địa danh là tên đất. Tuy nhiên, trong thực tế, các đối tượng
địa lí được con người đặt tên lớn hơn rất nhiều. Hầu hết những sự vật xung quanh,
vì nhu cầu nhận thức và chinh phục môi trường tự nhiên và xã hội, đều được nhận
diện, đặt tên để phân biệt chúng với nhau, trừ “những vật không thể tách riêng ra
khỏi những hình thức phong phú vốn thay đổi liên tục, vì thế không gây được sự chú
ý tới bản thân chúng, đối với chúng rất khó hoặc không thể chọn được tên gọi bằng
từ ngữ, thì mới không có tên mà thôi” [115; 13]. Sông, núi, ao, hồ, cầu, đường sá,
phố, làng, xóm, đều là những “sự vật” được đặt tên với mục đích như vậy.
Có rất nhiều định nghĩa về địa danh. Superanskaja cho rằng: “Cuộc sống con
người gắn liền với các địa điểm khác nhau và được biểu thị bằng những từ riêng -
đó là các tên gọi địa lí, địa danh hay toponym” [115; 1]. Tên gọi của những địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status