tóm tắt luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh - Pdf 22

Bộ Giáo dục và đào tạo
Tr ờng Đại học Vinh
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đặc điểm ngôn ngữ giới tính
trong hát phờng vải Nghệ Tĩnh
Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ
Mã số: 62.22.01.01

Tóm tắt luận án TIếN Sĩ ngữ văn
Vinh - 2010
1
Công trình đợc hoàn thành tại: Trờng Đại học Vinh
Ngời hớng dẫn khoa học:
1. GS.TS. Diệp Quang Ban
2. GS. TS. Nguyễn Nhã Bản
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyn Thái Hoà
Phản biện 2: GS.TS. Hoàng Trọng Phiến.
Phản biện 3: PGS.TS. Phạm Hùng Việt
Luận án đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc họp
tại Trờng Đại học Vinh
vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu Luận án tại Th viện Quốc gia,
Th viện trờng Đại học Vinh, Th viện tỉnh Nghệ An
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hát phường vải Nghệ Tĩnh là một thể loại thơ ca dân gian đặc sắc của xứ Nghệ,
gắn với môi trường diễn xướng, các vai giao tiếp trong hát phường vải thuộc về hai
giới nam và nữ. Vì lẽ đó, đặc trưng ngôn ngữ giới tính chi phối trực tiếp nội dung và
hình thức biểu hiện của lời ca, việc nghiên cứu yếu tố giới tính trong hát phường vải sẽ
góp phần làm rõ thêm đặc trưng ngôn ngữ, văn hoá và con người xứ Nghệ. Hát phường

xem xét biểu hiện đặc điểm ngôn ngữ giới tính vai giao tiếp qua từ xưng hô, các hành
động nói trong một số bước hát, cách thức sử dụng từ ngữ, một số biện pháp, phương
3
tiện tu từ.
- Tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ giới tính của hát
phường vải.
- Bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy về thơ ca dân gian.
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ đạo được sử dụng trong công trình nghiên cứu là: thống kê,
miêu tả, phân tích, quy nạp, so sánh.
6. Đóng góp của luận án
Công trình nghiên cứu đề cập một vấn đề mới (ngôn ngữ giới tính) trên một đối
tượng cổ điển có tính chuyên biệt (hát phường vải), cho nên nội dung đáp ứng được tính
mới mẻ, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác.
a. Về mặt lí luận
- Góp phần làm rõ một số đặc điểm về từ xưng hô xét từ góc độ giới tính, hành
động nói gắn với các ngữ cảnh giao tiếp.
- Góp thêm cứ liệu cho nghiên cứu ngôn ngữ giới tính. Cung cấp căn cứ lí luận về
một số phương diện trong nghiên cứu hát phưòng vải như: thủ tục một cuộc hát, môi
trường diễn xướng, giới tính vai giao tiếp, quan hệ chủ/ khách
- Khẳng định và bổ sung thêm những nhận định về đặc trưng văn hoá mang dấu ấn
giới tính của vùng đất Nghệ Tĩnh, của con người Nghệ Tĩnh.
b. Về mặt thực tiễn
- Cung cấp tư liệu phục vụ nghiên cứu về ngôn ngữ giới tính, về thơ ca dân gian
Nghệ Tĩnh.
- Bổ sung thêm tư liệu vào việc giảng dạy, học tập các thể thơ dân gian, các nội
dung liên quan tới nghệ thuật sử dụng từ ngữ.
- Góp tiếng nói khẳng định vai trò của hát phưòng vải trong việc tạo nên giá trị của
văn hoá xứ Nghệ.
7. Bố cục của luận án:

tự trao/đáp luân phiên giữa những người dự thoại, còn gọi là sự liên hoà phối các lượt
lời.
Việc thực hiện cuộc tương tác phải theo những nguyên tắc nhất định. Theo Grice
(1975), nguyên tắc cộng tác của hội thoại được chi tiết hoá thành bốn nguyên tắc bậc
dưới, gọi là các phương châm hội thoại bao gồm: phương châm về lượng, phương
châm về chất, phương châm về quan hệ, phương châm về cách thức. Khi người nói cố
ý vi phạm một phương châm hội thoại nào đó, cũng tức là người nói thông báo một ý
nghĩa nào đó bằng hàm ý, và người nghe phải có năng lực giải đoán hàm ý ấy.
Hát phường vải là hát giao duyên, do vậy hầu hết các lời hát phường vải đều chứa
hàm ý hội thoại. Theo đó, những vấn đề liên quan tới ngôn ngữ các vai giao tiếp trong
luận án được xem xét trên cơ sở hàm ý hội thoại.
1.2. Hành động nói
Hành động nói là những hành động được thực hiện bằng các phát ngôn (xin lỗi,
than phiền, chỉ dẫn, tán thành, cảnh báo…). Theo Searle, để thực hiện hành động nói
cần có 4 điều kiện tiên quyết: điều kiện nội dung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều
kiện chân thành, điều kiện căn bản; đồng thời đề xuất 5 lớp hành động nói gắn với 5
5
chức năng tổng quát của các hành động nói: tuyên bố, biểu hiện, bộc lộ, điều khiển,
ước kết. Các hành động nói đề cập trong đề tài dựa trên hệ thống phân loại của Searle.
1.3. Về ngôn ngữ và giới tính
Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt về mặt thể chất (tức sinh lí học) giữa nam
giới và nữ giới; còn giới là khái niệm chỉ mối quan hệ xã hội, mối tương quan giữa địa
vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể. Giới tính là những chức năng tự
nhiên, hầu như bất biến; còn những yếu tố thuộc về giới thay đổi khi các điều kiện quy
định chúng thay đổi.
Yếu tố giới tính ảnh hưởng tới ngôn ngữ, tạo ra những điểm khác nhau giữa ngôn
ngữ nam giới và nữ giới được thể hiện trên ba phương diện: cách phát âm của mỗi giới,
ngôn ngữ nói về mỗi giới và phong cách ngôn ngữ. Sự khác biệt ấy được hình thành
bởi nhiều nguyên nhân khác nhau: Nguyên nhân tự nhiên là do cấu tạo cơ thể người;
nguyên nhân xã hội là do nhiều nhân tố: văn hoá, sự phân bố quyền lực và địa vị xã

tính vai giao tiếp, tập hợp tư liệu hát phường vải được phân định thành 3 nhóm lời: (1)
Nhóm lời có thể phân định tách bạch giới tính của chủ ngôn thông qua hình thức cặp
lời đối đáp hoặc từ xưng hô; (2) Nhóm lời khó phân định tách bạch giới tính của chủ
ngôn; (3) Nhóm lời không thể phân định giới tính của chủ ngôn. Do không phân định
được giới tính vai giao tiếp, nhóm lời (3) không được xem xét trong luận án. Như vậy,
tổng số lời hát được khảo sát trong luận án là 1745 lời, trong đó gồm 767 lời hát nam
và 978 lời hát nữ.
1.7. Tiểu kết chương I
Giao tiếp trong hát phường vải có tính diễn xướng , theo đó, chức năng của ngôn
ngữ trong hát phường vải chủ yếu là chức năng liên nhân. Ở hát phường vải, vai giao
tiếp được xét trong mối quan hệ tương tác thông qua các hình thức trao/ đáp của hoạt
động hội thoại bằng lời hát. Đồng thời việc lựa chọn ngôn ngữ của các vai giao tiếp
trong hát phường vải cũng chịu sự chi phối bởi các yếu tố liên quan tới thuộc tính xã
hội của vai giao tiếp: giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân, trình độ
văn hoá, v.v
Đặt vào cuộc thoại, mỗi lời hát (lời đơn hay cặp trao-đáp) đều được coi là một lượt
lời được thực hiện theo quy trình luân phiên đổi vai. Đây là căn cứ để xác định khái
niệm hội thoại trong luận án chủ yếu được hiểu là song thoại với hai vai giao tiếp
chính: vai nam (phường nam) và vai nữ (phường nữ). Mặt khác, do điều kiện có hạn,
luận án chỉ xem xét ngôn ngữ hát phường vải qua hệ thống lời ca đã được tập hợp
thành văn bản, không đặt lời ca trong môi trường diễn xướng, do vậy, cũng không xem
xét đến các yếu tố phi ngôn ngữ vốn rất quan trọng đối với sinh hoạt văn hoá dân gian
như hát phường vải .
CHƯƠNG 2: GIỚI TÍNH VAI GIAO TIẾP THỂ HIỆN QUA
TỪ XƯNG HÔ TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI
2.1. Vai giao tiếp trong hát phường vải
2.1.1. Vấn đề xác định vai giao tiếp
Xét theo vai trò tham gia thì những người có mặt trong một cuộc hát phường vải
thường gồm: người hát, người đặt câu hát, người đi nghe hát. Xét về quan hệ giao tiếp
thì các thành phần trên được đặt vào ba vai giao tiếp: vai chủ, vai khách và vai thầy bày.

những tín hiệu điều hành vận động trao - đáp. Quan hệ liên cá nhân được xét trên 2
trục: trục quyền thế xã hội và trục quan hệ khoảng cách.
Xét trên trục quyền thế xã hội, các vai giao tiếp nam/nữ được phân biệt trên 3
phương diện: về nghề nghiệp và địa vị xã hội, sự tôn vinh về vai vế trong xã hội chỉ
dành cho vai nam; về tuổi tác, vai nữ thường được đặt ở vị thế thấp hơn, khiêm nhường
hơn khi xác định quan hệ với vai nam (thể hiện rõ qua từ xưng hô); về quan niệm định
kiến giới, các phát ngôn của chủ thể nam/hoặc nữ đã đề cập tới các mối quan hệ cụ thể:
vai nữ thường gắn với quan hệ gia đình, vai nam thường gắn với quan hệ xã hội.
Xét trên trục quan hệ khoảng cách, quan hệ giữa vai nam/ vai nữ có sự điều chỉnh
về mức độ thân mật hoặc xa cách. Nếu quan hệ xã hội giữa các vai giao tiếp hầu như
không thay đổi trong cả cuộc hát thì về quan hệ khoảng cách, theo trình tự các bước
của một cuộc hát, tình cảm của các vai giao tiếp có sự tịnh tiến dần theo hướng tích
cực: từ xa lạ đến gần gũi, thân thiết.
2.2. Giới tính thể hiện qua hệ thống từ xưng hô trong hát phường vải
2.2.1. Sơ lược về từ xưng hô
Các nhân vật tham gia giao tiếp được phân định ở 3 ngôi vị (số ít và số nhiều): ngôi
thứ nhất chỉ người nói, ngôi thứ 2 chỉ người nghe và ngôi thứ 3 chỉ người được nói
8
đến. Tuy nhiên, khi một hoạt động giao tiếp diễn ra, chỉ có ngôi thứ nhất và ngôi thứ
hai sử dụng từ xưng hô, do đó mới thực sự là các ngôi xưng hô.
Xét trong quan hệ giao tiếp, các đại từ nhân xưng gốc trong tiếng Việt không biểu
hiện giới tính, tức là không có phạm trù giống ngữ pháp cũng như giống sinh học. Còn
các đại từ nhân xưng lâm thời có thể biểu hiện giới tính; cũng có thể không biểu thị
giới tính. Do đó, đối với tiếng Việt, muốn xác định giới tính (trỏ nam hay nữ) của nhân
vật hành động do đại từ nhân xưng biểu thị thì phải dựa vào ngữ cảnh, văn bản, hoặc
theo phán đoán logic.
2.2.2. Từ xưng hô trong hát phường vải
Hệ thống từ xưng hô phong phú đã làm cho những lời đối đáp trong hát phường vải
Nghệ Tĩnh vừa có tính uyên bác, vừa mang đậm nét không khí sinh hoạt dân gian.
Ngoài ra, trong hát phường vải còn có hệ thống lời hát trống từ xưng hô với

(*)
Trong lời nam có 14 câu sử dụng 2 cặp TXH, 1 câu sử dụng 3 cặp TXH (767 lời có 783 lượt dùng cặp TXH);
trong lời nữ có 13 câu sử dụng 2 cặp TXH (978 lời có 991 lượt dùng cặp TXH). Đối với những trường hợp trong
cùng lời hát, một cặp TXH được lặp đi lặp lại thì vẫn tính 1 lượt dùng.
(**)
Tính trên tổng số 319 lượt.
9
giới nữ nghiêng về mối quan hệ quyền lực. (2) Qua xưng hô, giới nam muốn rút ngắn
khoảng cách, còn giới nữ lại muốn giữ khoảng cách.
Kết quả khảo sát các cặp từ xưng hô trống ngôi nhân xưng cho thấy: (1) Hiện tượng
trống từ xưng hô ở ngôi thứ nhất nhiều hơn ở ngôi hai, và không đồng đều giữa hai vai
giao tiếp: giới nữ thường trống từ dùng để xưng, còn giới nam thường trống từ dùng để
hô. (2) So với các cặp từ xưng hô đầy đủ ngôi, hiện tượng trống từ xưng hô ở ngôi
nhân xưng chủ yếu nghiêng về quan hệ thân hữu nhiều hơn quan hệ quyền lực.
2.2.5. Văn hoá của người xứ Nghệ qua cách xưng hô
Ở hát phường vải, người xứ Nghệ thể hiện văn hoá riêng qua sự hình thành "cái tôi"
vừa hoà đồng trong "cái ta" chung, vừa mang đậm dấu ấn cá nhân thể hiện qua cách
xưng gọi. Cụ thể là: (1) Dùng từ xưng hô ở ngôi thứ nhất, số ít với tỉ lệ cao góp phần
thể hiện bản lĩnh của người hát; (2) dùng từ xưng hô mang tính định danh cụ thể góp
phần làm cho các vai giao tiếp trong hát phường vải được xác định, không bị hoà vào
cộng đồng, tập thể; đồng thời cũng thể hiện khả năng ứng đối linh hoạt của những
người tham gia hát phường vải; (3) đưa tên riêng của các vai giao tiếp vào lời hát với ý
nghĩa vừa cung cấp thông tin về danh tính, vừa thể hiện tài ứng đối linh hoạt của người
tham gia cũng như sự hấp dẫn bởi tính gay cấn bất ngờ của cuộc hát.
2.3. Tiểu kết chương II
Trong hát phường vải, các vai giao tiếp được đặt vào hai phe: phường nữ (vai chủ
nhà) và phường nam (vai khách). Giới tính vai giao tiếp thể hiện rõ nhất ở cách sử
dụng từ xưng hô. Với hệ thống từ xưng hô phong phú, đa dạng, lại khá linh hoạt, tự do,
không bị ràng buộc bởi tính khuôn mẫu, hát phường vải có nét khu biệt rất rõ so với
các thể hát ví, hát giặm khác của dân ca Nghệ Tĩnh, cũng như so với dân ca các vùng

thiệu cảnh sắc, con người phường vải, mừng đón, mừng cảnh mừng người, mừng
chúc Nhóm hành động nói này thường xuất hiện ở lời hát nữ với 69/82 lời (84,1%)
- Hành động hỏi trong bước hát hỏi gồm các nội dung: khai thác thông tin, tìm hiểu
đối tượng (khách) về gia thế, lai lịch, nguyên do, mục đích (chủ yếu xuất hiện ở lời nữ
với 19/22 lời); nội dung hỏi (chủ nhà) về chuyện gia thất chỉ có ở lời nam (12 lời).
Riêng nội dung hỏi để nhận biết tình cảm, thái độ khá cân bằng về số lượt xuất hiện
trong lời nam và lời nữ (27% ở nam, 24% ở nữ). Về hình thức, nam thường dùng lối
hỏi trực tiếp, thể hiện tính chủ động, mạnh bạo, tự tin; còn nữ chỉ dùng cách hỏi này để
tìm hiểu về gia thế, lai lịch, khi chuyển sang nội dung diễn tả tình cảm, họ thường dùng
cách nói ẩn dụ, kín đáo, tế nhị.
- Hành động đố/đối hỏi trong bước hát đố hát đối chủ yếu là sự thử thách bên nữ
dành cho bên nam (gồm 136/150 lời nữ, chiếm 90,7%), thường đề cập tới những nội
dung chính: hỏi về tri thức thực tiễn, hỏi về tri thức sách vở, hỏi về các sự việc, hiện
tượng không có trong thực tế.
- Hành động mời trong bước hát mời chủ yếu xuất hiện ở lời hát nữ với 66 lời, gồm
các nội dung: mời vào nhà (35 lời, chiếm 53%); mời đàn hát (8 lời, chiếm 12,1%), mời
ăn trầu, uống nước, hút thuốc (23 lời, chiếm 34,9%). Vai nam chỉ thực hiện hành động
đáp lời mời.
- Hành động tỏ tình, thề nguyền, trách trong bước hát xe kết gồm:
Nội dung lời tỏ tình diễn tả các cung bậc cảm xúc; thể hiện quan điểm về tình yêu,
hôn nhân; gửi gắm những ước mơ, những dự cảm đầy bất trắc về tình yêu, về hạnh
phúc lứa đôi; đề cao giá trị cá nhân. Tỉ lệ lời tỏ tình ở lời hát nam cao hơn lời hát nữ,
11
thể hiện được tính chủ động, tự tin của vai nam và thái độ rụt rè, dè dặt của vai nữ.
Nội dung lời hát thề: Với 51 lời nữ, 33 lời nam, hành động thề trong hát xe kết tập
trung khẳng định sự thuỷ chung, bền chặt, quyết tâm bảo vệ tình yêu, bất chấp mọi khó
khăn, thử thách.
Nội dung lời hát trách: trách người, trách cha trách mẹ, trách ông tơ bà nguyệt,
trách mình. Hành động này xuất hiện nhiều hơn ở lời nữ với 45/74 lời, chiếm 61% (vai
nam có 29 lời, chiếm 39%).

Chỉ quan hệ thân tộc 12 173 21 167
Chỉ ngoại hình 4 6 46 106
Chỉ tài năng, phẩm chất 14 18 23 31
Chỉ công việc 19 48 22 38
Kết quả khảo sát cho thấy:
- Lớp từ ngữ có ý nghĩa định danh nói về giới có số lượng khá phong phú, trong đó
số từ ngữ định danh chỉ nam giới nhiều hơn nữ giới; không xuất hiện những từ ngữ
mang nghĩa tiêu cực chỉ nữ giới như đĩ rạc, mụ ăn mày, con đĩ… Nếu như từ chỉ nam
giới chủ yếu xuất hiện ở lời hát nữ (61%) thì từ ngữ chỉ nữ giới lại chủ yếu xuất hiện ở
lời hát nam (65%).
- Lớp từ chỉ quan hệ thân tộc nói về giới có số lượng từ ít hơn nhưng tần số sử dụng
cao hơn; từ ngữ chỉ giới nam ít hơn giới nữ.
- Lớp từ chỉ ngoại hình nói về giới có tần số xuất hiện lớn. Lớp từ chỉ ngoại hình
của giới nữ nhiều gấp 11,5 lần so với giới nam (và số lượt xuất hiện gấp 17,7 lần);
đồng thời phân bố không đều ở lời hát nam và lời hát nữ: nếu lớp từ ngữ miêu tả ngoại
hình giới nam chủ yếu xuất hiện ở lời hát nữ (83%) thì lớp từ miêu tả ngoại hình của
giới nữ chủ yếu xuất hiện ở lời hát nam (75%).
- Lớp từ ngữ chỉ tài năng, phẩm chất, phong thái theo giới tính có tần số xuất hiện
không nhiều, và số từ nói về giới nữ nhiều hơn giới nam. Nếu như phần từ vựng đánh
giá giới nam chủ yếu xuất hiện trong lời hát nữ (15/18 lượt, chiếm 83%) thì phần từ
vựng đánh giá giới nữ lại chủ yếu xuất hiện trong lời hát nam (26/31 lượt, chiếm 84%),
do đó, bảo đảm tính khách quan và thái độ tôn vinh mà các bên tham gia hát phường
vải dành cho nhau.
- Lớp từ chỉ công việc gắn với giới tính có số lượng không nhiều nhưng thể hiện đặc
trưng giới tính khá rõ: nữ giới chủ yếu làm nghề canh cửi (18 từ ngữ/33 lượt); nam giới
13
chủ yếu lo việc học hành (14 từ ngữ/48 lượt).
4.2. Cách dùng hệ thống biểu tượng nói về giới
Xét theo cấu tạo, hệ thống biểu tượng nói về mỗi giới trong hát phưòng vải gồm:
biểu tượng đơn và biểu tượng đôi, trong đó biểu tượng đôi lớn hơn biểu tượng đơn về

Tương lai 26 50
Từ ngữ chỉ thời gian quá khứ - hiện tại: Tần số xuất hiện ở lời nam cao hơn lời nữ,
14
tập trung chủ yếu ở chặng cuối với phần hát trách (trách sự đổi thay, phụ bạc): bấy lâu
(mấy lâu) - bây giờ, năm xưa-giờ,
Từ ngữ chỉ thời gian hiện tại: Quen thuộc nhất là cách sử dụng mô típ diễn tả thời
gian hiện tại - diễn xướng thông qua các trạng từ nay, bây giờ Ngoài ra còn có các
môtíp miêu tả thời điểm hiện tại gắn với sự xuất hiện của chủ thể giao tiếp: mới (tới,
bước ra, bước vào, gặp), vừa lúc, vừa khi ; tổ hợp từ diễn tả những khoảng thời gian
có sự vận động chuyển tiếp: đầu hôm đến sáng, năm ngoái lại giờ
Từ ngữ chỉ thời gian tương lai: Nhóm từ ngữ này chiếm số lượng không nhiều,
thường tập trung chủ yếu ở chặng hát mời, hát xe kết và hát tiễn, gắn với nội dung diễn
tả lời thề nguyền, dự cảm, ước mơ, hi vọng (rày mai (nay mai), vài ba năm nữa, (đến)
tháng hai, (đến) giêng hai ); dặn dò, hẹn hò khi chia tay (mai, sáng mai, trưa mai, tối
mai, mai ra… ).
4.3.2. Lớp từ chỉ không gian
Từ ngữ chỉ không gian được xem xét chủ yếu là không gian tâm lí với 4 nhóm:
không gian vũ trụ, không gian sinh hoạt cộng đồng, không gian riêng tư, không gian
gắn với địa danh (xem Bảng 4.9)
Bảng 4.9: Tổng hợp từ ngữ biểu thị không gian trong hát phưòng vải
Không gian Số lời nam Số lời nữ
Không gian vũ trụ 47 66
Không gian sinh hoạt 326 455
Không gian riêng tư 14 24
Không gian gắn với địa danh 58 79
- Từ ngữ diễn tả không gian vũ trụ: Không gian vũ trụ chủ yếu là không gian tâm lí,
có trường hợp gắn với tín ngưỡng, tâm linh; có trường hợp diễn tả các cung bậc cảm
xúc của nhân vật trữ tình: trời, đất, trăng, sao
- Từ ngữ diễn tả không gian sinh hoạt tập thể, cộng đồng: Chủ yếu là không gian
sinh hoạt được giới hạn trong phạm vi hẹp (nhà cửa, ngõ, đường). Bên cạnh đó, hoà

Khai thác phương tiện ngữ âm - văn tự 38 43
Khai thác phương tiện từ vựng - ngữ nghĩa 37 60
Khai thác phương tiện ngữ pháp 5 5
Đố Kiều 5 6
Phối hợp các biện pháp 4 7
Tổng 89 121
Với các hình thức trên đây, chơi chữ là một hình thức nghệ thuật khó, đòi hỏi tính
trí tuệ cao, tầm hiểu biết rộng, kết hợp với sự nhạy cảm và khả năng ứng đối nhanh để
tạo ra (từ phía người xuất đố, xuất đối) hoặc để"đọc" được (từ phía người giải đố, giải
đối) ẩn ý trong mỗi câu hát. Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ chơi chữ trong lời hát nữ
(chiếm 57,6%) cao hơn lời hát nam (42,4%); và trong bước hát đố, hát đối, bên nữ
thường xuyên giành thế chủ động trong xuất đố, xuất đối, qua đó thể hiện tính trí tuệ và
sự thông minh, sắc sảo trong sử dụng nghệ thuật chơi chữ cũng như sự nhạy cảm trong
xử lí các tình huống của các cô gái phường vải.
4.4.3. Dẫn ngữ
Trong ngữ liệu được khảo sát, dẫn ngữ xuất hiện 252 lần, chủ yếu tập trung phản
ánh các đề tài: công danh sự nghiệp, hôn nhân gia đình, tình yêu lứa đôi, đề tài lịch sử,
các vấn đề xã hội
16
- Dẫn thành ngữ, tục ngữ: Chiếm tỉ lệ không cao (25%) nhưng nhóm dẫn ngữ này xuất
hiện trong hầu hết các đề tài: nói về quan điểm sống (tham phú phụ bần, ăn xổi ở thì); nói
về những khó khăn thử thách trong cuộc sống, nhất là những bất hạnh, ngang trái trong
tình yêu lứa đôi (chớp bể mưa nguồn, đá nát vàng phai); nói về duyên phận (phá chuông
đúc tượng, mười hai bến nước ).
- Dẫn ngữ điển tích: Chiếm tỉ lệ khá cao (75 %), xuất hiện ở hầu hết các đề tài: nói
về chuyện học hành; nói về tình yêu lứa đôi (Kim Trọng - Thuý Kiều, Ngưu Lang -
Chức Nữ, nguyệt lão); nói về đề tài lịch sử (tích Hàn Tín, tích
Nghiêu Thuấn, tích Bà Trưng Bà Triệu ).
Dẫn ngữ làm cho hát phưòng vải thêm đậm nét màu sắc văn chương và có giá trị
nghệ thuật cao, góp phần lãng mạn hoá tình yêu lứa đôi và hiện thực hoá những chuẩn

khác biệt trong ngôn ngữ giao tiếp của giới nam và giới nữ thể hiện qua hát phưòng
vải.
2. Kết quả khảo sát hệ thống từ xưng hô trong hát phường vải cho thấy việc phân
định vị thế vai giao tiếp vẫn bị chi phối khá nhiều bởi yếu tố giới tính. Là môi trường
tương tác phi quy thức, trong hoạt động giao tiếp của hát phường vải, cách xưng hô của
các vai nam/nữ khá phong phú, đa dạng, thể hiện sự chi phối của đặc trưng giới tính.
Thứ nhất, xét về chuẩn mực giao tiếp, từ xưng hô của vai nữ hướng tới tính chuẩn mực
rõ hơn vai nam. Tính chuẩn mực ấy phản ánh rõ nguyên tắc xưng khiêm hô tôn trong
ngôn ngữ giao tiếp của giới nữ vốn được coi như là một đặc trưng về giới. Thứ hai, vốn
hình thành trên cơ sở tôn ti, thứ bậc, các cặp từ xưng hô trong hát phường vải hầu như
vẫn giữ nguyên tắc bất bình đẳng trong quan hệ xã hội giữa các cá nhân tham gia cuộc
thoại: vai nữ dường như tự xác định/hoặc mặc nhiên được xác định ở vị thế thấp; vai
nam dường như cũng tự xác định/hoặc mặc nhiên được xác định ở vị thế cao hơn trên
thang quyền lực.
Hiện tượng hát phường vải là một thể hát dân gian vươn lên đạt tính cách bác học
có cơ sở từ vai trò tham gia của các nhà nho bên cạnh các nghệ nhân dân gian. Nói
cách khác, nếu các nhà nho muốn đưa những nội dung và hình thức của văn chương
bác học vào văn học dân gian để bác học hoá văn học dân gian, thì các nghệ nhân dân
gian đã thông qua hát phường vải để dân gian hoá một số hình thức nghệ thuật được
coi là sản phẩm của văn học bác học như hình thức đố chữ, cách dùng dẫn ngữ là điển
tích văn chương Tuy nhiên, khi bàn đến đặc điểm vừa có "tính bác học" vừa có "tính
dân gian" của hát phường vải qua kết quả khảo sát về từ xưng hô, chúng tôi lại có nhận
xét ngược lại: Người đại diện cho dòng văn hoá dân gian vốn mộc mạc, dân dã (ở đây
thường là vai nữ) lại có xu hướng vươn lên đạt tính bác học thông qua việc sử dụng
vốn từ xưng hô gợi sự trang trọng, thanh tao, coi trọng mối quan hệ quyền lực; trong
khi đó, người có học vấn (thường là vai nam) thì dường như muốn quay trở về với tính
mộc mạc, dân dã qua những từ xưng hô nôm na, giàu phương ngữ, thể hiện mối quan
hệ thân hữu. Điểm gặp nhau của hai xu hướng trên đã giúp cho các vai giao tiếp rút
ngắn khoảng cách, tạo nên sự đồng điệu, hoà hợp về tâm hồn và sự gắn bó, thân thiết
trong tình cảm.

4. Cách sử dụng ngôn từ của các vai giao tiếp cũng là phương diện thể hiện đặc
điểm giới tính trong ngôn ngữ hát phường vải. Qua hệ thống các lớp từ đặc trưng về
giới, các lớp từ chỉ thời gian, không gian, hệ thống biểu tượng về giới; qua cách sử
dụng nghệ thuật chơi chữ, dẫn ngữ, các vai giao tiếp không chỉ bộc lộ thế giới nội tâm
phong phú của mình mà còn thể hiện được phong cách giao tiếp với những nét đặc
trưng giới như: tính chuẩn mực, sắc sảo thông minh trong ngôn từ của giới nữ, sự
phóng khoáng và tài ứng khẩu đối đáp của giới nam Trên thực tế, hát phường vải có
sức hút mạnh mẽ đối với nhiều tầng lớp nhân dân, nhiều thành phần xã hội, không
phân biệt tuổi tác, trình độ học vấn, địa vị xã hội. Sự gặp gỡ, giao lưu giữa trai tài gái
sắc, đặc biệt là sự kết hợp giữa trí tuệ dân gian của người lao động bình dân và sự uyên
thâm của các bậc nho gia trên nhiều phương diện trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ,
nhất là nghệ thuật chơi chữ và dẫn ngữ, đã đem lại cho hát phường vải những giá trị
đặc sắc riêng.
5. Hát phường vải là sản phẩm của vùng văn hoá nông nghiệp, nhưng đặc trưng văn
hoá nông nghiệp lại xuất hiện không nhiều trong các lời hát, chứng tỏ sự phát triển của
hát phường vải gắn với thời kì phát triển của nghề thủ công. Tuy nhiên, nguồn gốc văn
19
hoỏ nụng nghip cng ó gúp phn to nờn nhng chõn dung in hỡnh ca ngi lao
ng x Ngh trong hỏt phng vi, va mc mc, m thm, trng ngha trng tỡnh;
va thng thn, bc trc, sc so; va dớ dm vi cht nghch ngc, hi hc.
Vi nhng giỏ tr c sc, c ỏo y, hỏt phng vi ó thu hỳt c s quan tõm
ca nhiu nh nghiờn cu vi cỏc cụng trỡnh nghiờn cu khỏ cụng phu, tõm huyt. Tuy
nhiờn, th ca dõn gian x Ngh cng nh hỏt phng vi vn cũn khỏ nhiu nhng
vn ang b ng, c khai thỏc cha nhiu, cha sõu, chng hn nh s kt hp
hi ho gia tớnh dõn gian v tớnh bỏc hc; biu hin ca cht trớ tu, tớnh trng v tớnh
dc trong t duy ca ngh nhõn phng vi Trong thi gian ti, thit ngh cn cú
thờm nhng ti nghiờn cu chuyờn sõu khai thỏc, ỏnh giỏ y hn giỏ tr ca
th loi c sc ny./.
Các bài viết đã công bố
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status