tóm tắt luận án tiến sĩ đặc điểm sinh học, sinh thái của loài châu chấu mía hieroglyphus tonkinensis bolivar, 1912 (orthoptera acrididae) và biện pháp phòng trừ tại hòa bình. - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

NGUYỄN HỒNG YẾN
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
CỦA LOÀI CHÂU CHẤU MÍA Hieroglyphus tonkinensis
Bolivar, 1912 (Orthoptera: Acrididae)
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ TẠI HÒA BÌNH

Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số : 62.62.01.12 Luận án được bảo vệ tại hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại:
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2013 Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về họ Acrididae còn rất ít, hầu hết là những
nghiên cứu về biện pháp phòng chống. Thực tế đã cho thấy việc phòng chống
các đợt dịch châu chấu ở nước ta còn rất thụ động, thường chỉ được tiến hành
khi châu chấu đã lớn, di chuyển mạnh và gây tác hại đáng kể tới cây trồng. Đây
là điều trái ngược với nguyên tắc có tính chất mấu chốt, quyết định hiệu quả
phòng trừ châu chấu chính là việc phát hiện sớm và phòng trừ ngay từ ấu trùng
tuổi nhỏ (Matheson, 2003; Prveling, 2005).
Năm 1997 tỉnh Hòa Bình đã phải công bố dịch với loài châu chấu thuộc giống
Hieroglyphus Krauss (Nguyễn Hồng Yến, 1998), từ đó đến nay, chúng vẫn thường
phát sinh từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm ở tỉnh này. Cho đến nay, những dữ liệu đã
công bố ở nước ta về các loài thuộc giống Hieroglyphus Krauss chủ yếu là những
thông tin theo các tài liệu nước ngoài mà ít có những nghiên cứu chuyên sâu.
Với mong muốn tìm được những giải pháp để góp phần giải quyết những
bấp cập và hạn chế đã nêu trên, chúng tôi triển khai thực hiện đề tài “Đặc điểm

- Xác định được những đặc điểm sinh vật học, sinh thái học cơ bản của
châu chấu mía H. tonkinensis.
- Xây dựng được qui trình phòng chống tổng hợp đối với loài châu chấu
mía H. tonkinensis ở tỉnh Hòa Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài châu chấu
thuộc họ Acrididae ở tỉnh Hòa Bình
Châu chấu mía Hieroglyphus tonkinensis Bolivar, 1912.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu về nhóm châu chấu thuộc họ Acrididae ở
tỉnh Hòa Bình, tại 03 huyện thường xuyên bị châu chấu gây hại trên cây trồng
nông nghiệp và lâm nghiệp (Cao Phong, Tân Lạc, Đà Bắc).
- Đề tài đi sâu nghiên cứu các đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của
châu chấu mía H. tonkinensis. Tìm hiểu đặc điểm phát sinh gây hại của chúng,
đồng thời nghiên cứu áp dụng một số biện pháp canh tác, sinh học, hóa học phòng
chống châu chấu mía; từ đó xây dựng quy trình phòng chống tổng hợp loài dịch hại
quan trọng này.
5. Những đóng góp mới của đề tài
- Ghi nhận mới 4 loài châu chấu cho khu vực tỉnh Hòa Bình.
- Cung cấp dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh vật
học; ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến tỷ lệ sống sót và sự phát sinh gây
hại của châu chấu mía H. tonkinensis ở tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất qui trình phòng chống tổng hợp châu chấu mía H. tonkinensis cho
tỉnh Hòa Bình.
6. Cấu trúc của luận án
Luận án chính 109 trang gồm 38 bảng, 19 hình, với 5 phần: Mở đầu (4
trang); Chương 1. Cơ sở khoa học của đề tài và tổng quan tài liệu nghiên cứu
(23 trang); Chương 2. Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu (20 trang).
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận (60 trang); Kết luận và đề nghị (2

màu xanh lục (Chen et al., 1989).
Mỗi con ấu trùng châu chấu tiêu thụ từ 100-450mg chất xanh mỗi ngày,
mỗi con châu chấu trưởng thành tiêu thụ bình quân 200mg chất xanh mỗi ngày.
Lượng chất xanh tiêu thụ bởi châu chấu có thể gấp 1,25 đến 2,5 lần lượng chất
xanh do động vật có vú tiêu thụ hàng ngày (David et al., 2006). Nhiều loài châu
chấu có khả năng di cư rất lớn, chúng có thể bay liên tục 1-3 ngày, ở độ cao đến
1000 m, khoảng cách bay xa hàng trăm km (Richman et al., 2003). Nguồn thức
ăn khác nhau có thể ảnh hưởng tới thời gian phát dục, số lượng trứng chứ không
ảnh hưởng đến chất lượng của trứng châu chấu (Chen et al., 2008).
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
Đã có một số danh lục công bố thành phần loài châu chấu ở nước ta, theo đó,
các tỉnh phía Bắc có 61 loài (Viện Bảo vệ thực vật, 1976); các tỉnh phía Nam có
39 loài (Viện Bảo vệ thực vật, 1999); cả nước có 73 loài châu chấu nằm trong 46
giống, trong đó có 3 loài thuộc giống Hieroglyphus là H. banian, H. tonkinensis,
H. annulicornis (Lưu Tham Mưu, 2000).

4

H. banian và H. tonkinensis là những loài thường xuyên gây hại thành
dịch ở nhiều vùng của nước ta (Lê Thị Quý, 1995; Nguyễn Thế Nhã, 2003;
Phạm Thị Thùy, 1998).
H. tonkinensis được coi là loài sâu hại nguy hiểm, ký chủ của chúng gồm
hơn 20 loài thuộc họ tre trúc và họ hòa thảo. Chúng phân bố ở toàn Việt Nam.
Trưởng thành thường đẻ trứng ở sườn đồi phía Nam, nơi có đất xốp, thực bì
thưa. Con đực sau khi giao phối chết ngay và con cái sau khi đẻ xong cũng chết
nên người ta dựa vào đặc điểm này để đánh dấu những nơi châu chấu đẻ trứng.
Sự phát triển của trứng phụ thuộc rất rõ vào nhiệt độ và địa hình, cứ lên cao 100-
200m thì thời gian trứng nở chậm đi 2-3 ngày (Nguyễn Thế Nhã, 2012).

Chương 2


mức độ gây hại của loài châu chấu mía Hieroglyphus tonkinensis Bolivar, 1912.
- Xác định vị trí phân loại và nghiên cứu đặc điểm hình thái của châu chấu
mía H. tonkinensis.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của châu chấu mía H. tonkinensis.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của châu chấu mía H. tonkinensis.
- Nghiên cứu biện pháp phòng chống châu chấu mía H. tonkinensis.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp điều tra thành phần loài châu chấu, điều tra diễn biến mật
độ châu chấu mía H.tonkinensis: Thực hiện theo Qui chuẩn quốc gia QCVN 01-
38 : 2010/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010a). Mẫu các loài châu
chấu sau khi đã xử lý được định loại theo khóa phân loại của Mistshenko, 1952
(dẫn theo Mason, 1974; Viện Bảo vệ thực vật, 1985; Lưu Tham Mưu, 2000).
* Phương pháp xác định mức độ phổ biến của châu chấu mía
H. tonkinensis: Căn cứ theo độ thường gặp và độ ưu thế số lượng của chúng tại
mỗi đợt điều tra.
* Phương pháp nghiên cứu mức độ gây hại của châu chấu mía
H. tonkinensis: Thực hiện trong nhà lưới, ở 03 giai đoạn sinh trưởng khác nhau
của cây lúa (giai đoạn đẻ nhánh, giai đoạn phân hóa đòng, giai đoạn trỗ
bông/phơi màu). Trong đó giai đoạn lúa phân hóa đòng và trỗ bông/phơi màu
thực hiện trong vụ xuân 2011 với châu chấu tuổi ấu trùng; giai đoạn lúa đẻ
nhánh thực hiện trong vụ mùa 2011 với châu chấu tuổi trưởng thành. Thí
nghiệm với 5 mật độ thả khác nhau (5 con, 10 con, 20 con và 30 con/m
2
), đánh
giá thiệt hại ở mỗi mật độ so với đối chứng không thả.
* Nghiên cứu đặc điểm hình thái châu chấu mía H.tonkinensis: Quan sát
đặc điểm hình thái, kích thước, màu sắc các pha phát dục của châu chấu được dựa
theo tài liệu hướng dẫn của Blatchley (1920).
* Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học châu chấu mía H. tonkinensis

dích dắc phân bố đều trên tuyến. Tại mỗi vị trí chọn diện tích điểm điều tra
20m
2
, tại mỗi điểm đó, điều tra 5 hố theo đường chéo góc, diện tích hố 0,2m
2

(40 x 50 cm) để tính số lượng ổ trứng.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại đất khác nhau tới sự lựa chọn vị trí
đẻ trứng tập trung của châu chấu mía H. tonkinensis được tiến hành từ khi châu
chấu vũ hóa 1 ngày tuổi, với 5 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, Mỗi lần
nhắc lại của mỗi công thức chọn 30 cặp châu chấu khỏe mạnh, thả vào trong
lồng nuôi có kích thước 1,5 x 1,5 x 2,0m. Sử dụng lá lúa làm thức ăn nuôi châu
chấu và được thay hàng ngày. Chính giữa lồng đặt các khay đất có kích thước 25
x 25 x 15cm. Mỗi khay chứa một loại đất là một công thức thí nghiệm (gồm có
đất cát pha ven sông, đất ruộng thịt nặng, 2 loại đất feralit và cát xây dựng).
Nuôi đến khi châu chấu chết sinh lý, bỏ đất khỏi khay và tính số lượng trứng thu
được trên mỗi loại đất.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của ẩm độ đất tới tỷ lệ nở trứng của châu chấu
mía H. tonkinensis: Thí nghiệm bắt đầu vào tháng 3/2011, khi trứng châu chấu
đã chấm dứt qua đông, bắt đầu phát dục. Trứng được phát dục trong đất với 5
công thức thí nghiệm ở 5 mức ẩm khác nhau là 32,78 ± 0,16% (mức hạn vừa);
43,16 ± 0,39% (mức chớm hạn); 68,86 ± 0,24% (mức ẩm vừa); 74,25 ± 0.32%
(mức ẩm tối ưu) và 93,58 ± 0,55% (mức rất ẩm), mỗi công thức nhắc lại 3 lần.
Khi trứng nở, tính số lượng ấu trùng, từ đó tính tỷ lệ trứng nở ở mỗi độ ẩm đất.
* Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trừ châu chấu mía
H. tonkinensis và xây dựng mô hình phòng trừ tổng hợp với sự tham gia của
cộng đồng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp làm đất tới tỷ lệ sống sót của châu
chấu mía H.tonkinensis: Thí nghiệm được tiến hành với 3 công thức gồm để đất
tự nhiên; làm đất (bằng biện pháp cuốc và đập để đất có kích thước dưới 10cm)

300m
2
mỗi công thức và không nhắc lại. Tính hiệu lực của chế phẩm trong điều
kiện phòng thí nghiệm theo công thức Abbott (1925) và ở ngoài đồng ruộng
theo công thức Henderson – Tilton (1955).
- Nghiên cứu xây dựng mô hình phòng chống tổng hợp châu chấu mía
H. tonkinensis với sự tham gia của cộng đồng: Mô hình gồm có 2 khu đồi thí
nghiệm theo 2 công thức phòng chống châu chấu. Khu đồi 1, diện tích 17,3ha,
thực hiện biện pháp phòng chống tổng hợp với sự tham gia của người dân (nông
hộ tham gia điều tra, xác định khu vực đẻ trứng, theo dõi thời điểm trứng nở,
điều tra diễn biến mật độ châu chấu và cùng thảo luận biện pháp xử lý). Khu đồi
2, diện tích 7,4 ha, phòng trừ theo phương thức cũ (chỉ xử lý khi phát hiện châu
chấu tấn công gây hại lúa). Đánh giá diễn biến mật độ và mức độ gây hại của
châu chấu trong diện tích tham gia mô hình và diện tích đối chứng; hiệu quả
thực hiện mô hình.
2.6. Phương pháp tính toán xử lý số liệu
Toàn bộ các số liệu thu thập được tính toán và xử lý thống kê bằng phần mềm
Microsoft Excel và chương trình IRRISTAT 4.0. Các số liệu tỷ lệ phần trăm, trước
khi xử lý phân tích phương sai được đổi biến thành dạng căn bậc 2 hoặc dạng
Arcsine căn bậc 2.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần loài châu chấu, mức độ phổ biến và mức độ gây hại của châu
chấu mía H.tonknensis ở tỉnh Hòa Bình
3.1.1 Thành phần loài châu chấu ở tỉnh Hòa Bình
Kết quả điều tra trong 2 năm 2010, 2011, chúng tôi đã thu thập, định loại
được 17 loài châu chấu tại khu vực nghiên cứu ở tỉnh Hòa Bình (bảng 3.1).

8



+
10

Pseudoxya diminuta
(
Walker, 1871
)

Châu ch

u cánh ng

n

+++

11 Pseudoxya sp. +
12 Stenocatantop splendens (Thunberg, 1815) Châu chấu vệt đen đốt đùi

++
13 Xenocatantop humilis (Serville, 1838) Châu chấu vệt đen đốt đùi

++
III Phân họ châu chấu vân cánh (Oedipodinae)

14 Trilophidia annulata (Thunberg, 1815) Châu chấu u ngực +
IV Phân họ cào cào (Pyrgomorphynae)

15 Atractomorpha chinensis Bolivar, 1905 Cào cào nhỏ ++

Độ thường gặp (%) Độ ưu thế (%)
1 18/09/2010 33,33 11,48
2 02/10/2010 16,67 8,77
3 16/10/2010 3,33 1,59
4

18/06/2011

6,67

9,57

5 02/07/2011 60,00 44,44
6

16/07/2011

96,67

66,02

7

30/07/2011

93,33

4
6,42


với ĐC
(%)
NS thu
hoạch
(g/m
2
)
Giảm
so với
ĐC (%)
NS thu
hoạch
(g/m
2
)
Giảm so
với ĐC
(%)
5 con 438,33
a
0,23 461,33
a
2,12 424,33
a
7,28
10 con 344,67
b
21,55 425,67
b
9,69 363,33

0,05
= 34,91 19,48 44,56
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có
ý nghĩa ở mức 0,05 .
Trong cả 3 giai đoạn thí nghiệm, chỉ ở mật độ thả 5 con/m
2
là không bị thiệt
hại có ý nghĩa so với đối chứng, các mật độ cao hơn đều ảnh hưởng rõ ràng đến
năng suất. Thiệt hại lớn nhất do châu chấu mía H. tonkinensis gây ra tới năng suất
lúa là giai đoạn cây lúa đẻ nhánh. Sau 7 ngày thí nghiệm, chỉ ở ô thả 5 con/m
2
cây
lúa mới có thể hồi phục gần như hoàn toàn, ít ảnh hưởng đến năng suất. Ở các công
thức thả với mật độ cao hơn, cây lúa đều bị giảm năng suất một cách đáng kể. Đặc

10
biệt ở những ô thả 20 hay 30 con/m
2
gần như bộ lá lúa bị trụi hết, nhiều dảnh bị
gặm tới sát gốc, dù giai đoạn này khả năng tự đền bù của cây lúa là lớn nhất song
năng suất cuối cùng vẫn sụt giảm nghiêm trọng (giảm 72,84 và 75,72% ở ô thả 20
và 30 con tương ứng).
So sánh mức độ gây hại của loài H. tonkinensis với cây lúa trong các thí
nghiệm ở Hòa Bình với kết quả nghiên cứu của Rao and Cherian (1940) đối với
loài H. banian ở Madras (phía Nam Ấn Độ), thì thấy mức độ ảnh hưởng tới năng
suất lúa khi gây hại ở giai đoạn trỗ bông/ngậm sữa là tương đương, đều ở mức
thiệt hại rất nặng. Nhưng ở giai đoạn đẻ nhánh thì kết quả có sự khác biệt lớn
giữa hai nghiên cứu. Nếu kết quả nghiên cứu của Rao and Cherian (1940) cho
rằng loài H. banian gây hại ở giai đoạn đẻ nhánh sẽ ảnh hưởng không đáng kể
tới năng suất lúa sau này, thì kết quả của chúng tôi hoàn toàn ngược lại, mức ảnh

Trưởng thành đực Trưởng thành cái
Lớn
nhất
Nhỏ
nhất
Trung bình

Lớn
nhất
Nhỏ
nhất
Trung bình
Chiều dài thân (m) 29,82 25,29 27,44±0,59

42,01

29,75

33,03±1,19
Ch
i

u d
ài cánh trư

c

(mm)

25,59

Ghi chú: n = 30; trong điều kiện nuôi sinh học, thức ăn là lá cây lúa, t
o
= 25
o
C, RH = 80%

3.3. Đặc điểm sinh vật học của châu chấu mía H. tonkinensis
3.3.1. Tập tính sinh sống của châu chấu mía H. tonkinensis
Trứng châu chấu tập trung nở ở những khoảng thời gian nhất định trong ngày.
Đại đa số các ổ trứng nở trong khoảng 8-10 giờ, trong khi đó ổ số trứng nở sau 18
giờ là không đáng kể (hình 3.13).
0,00
10,00
20,00
30,00
40,00
50,00
60,00
70,00
6h-8h 8h-10h 10h-12h 12h-14h 14h-16h 16h-18h 18-6h
Thoi gian trong ngay
Ty le (%)
Lan 1
Lan 2
Lan 3

Hình 3.13. Tỷ lệ ổ trứng châu chấu mía H. tonkinensis nở ở các khoảng
thời gian trong ngày (Chi cục BVTV Hòa Bình, TP Hòa Bình, 2011)
Quá trình điều tra ngoài tự nhiên cho thấy ấu trùng châu chấu mới nở
thường sống tập trung. Ban ngày ấu trùng bò lên các cây cỏ sát mặt đất hay

3.3.2. Thời gian phát triển, vòng đời châu chấu mía H. tonkinensis
Ở điều kiện nhiệt độ 25
o
C, ẩm độ không khí 80%, thức ăn là lá lúa, vòng đời của
châu chấu mía H. tonkinensis rất dài, trung bình là 351,68 ± 11,32 ngày (bảng 3.11).
Bảng 3.11. Thời gian phát triển của châu chấu mía H. tonkinensis
(Chi cục BVTV Hòa Bình, TP Hòa Bình, 2011-2012)
Giai đoạn phát triển
Thời gian phát triển (ngày)
Dài nhất Ngắn nhất Trung bình
Trứng 257 231 245,25±4,57

u trùng tu

i 1

11,5

7,5

9,38±0,33

Ấu trùng tuổi 2 9,5 8,0 9,01±0,16

u trùng tu

i 3

11,5


thành đực tăng bình quân 222,5mg và trưởng thành cái tăng bình quân 589mg.
Tuy nhiên sau thời gian đẻ trứng của con cái và kết thúc giao phối của con đực
thì khối lượng cơ thể lại giảm nhanh chóng, so với khi bắt đầu giao phối thì mức
giảm 249,7mg ở con đực và 401 mg ở con cái (bảng 3.12).
Bảng 3.12. Khối lượng cá thể trong các giai đoạn phát triển của châu chấu
trưởng thành (Chi cục BVTV Hòa Bình, TP Hòa Bình, 2011)
Thời điểm theo dõi
Khối lượng con đực (mg) Khối lượng con cái (mg)
Lớn
nhất
Nhỏ
nhất
Trung bình
Lớn
nhất
Nhỏ
nhất
Trung bình
1 ngày sau vũ hóa 450 338 410,83±10,82

947 620 778,97±37,74

Khi bắt đầu giai đoạn
giao phối
675 592 633,30±4,01 1459 1241 1.368,0±7,71

Khi kết thúc giao
phối/đẻ trứng
412 328 383,63±4,17 1026 870 967,07±7,75
Ghi chú: n= 30; t

342

281

623 14
Trong 4 đợt điều tra ở giai đoạn trưởng thành, chỉ có đợt điều tra ngày
18/6/2011 là có tỷ lệ cá thể đực và cá thể cái chênh lệch rõ ràng, các cá thể đực
chiếm số lượng áp đảo trong số mẫu thu thập được. Lý do thời điểm đó trưởng
thành bắt đầu vũ hóa, ấu trùng đực chỉ có 6 tuổi nên vũ hóa trước, trong khi con
cái vẫn hầu hết đang ở ấu trùng tuổi 7 nên số lượng trưởng thành cái chiếm tỷ
thấp. Trong các kỳ điều tra tiếp theo số lượng đực/cái không có sự sai khác.
Điều này chứng tỏ tỷ lệ giới tính đực : cái của châu chấu mía H. tonkinensis ở
mức độ tương đương nhau.
Ở loài châu chấu mía H. tonkinensis, tương đối dễ ghi nhận hiện tượng
ghép đôi vì chúng vũ hóa tập trung và có thời gian ghép đôi khá dài, trung bình
6,75 giờ với lần giao phối đầu tiên của con cái. Thời gian từ khi vũ hóa đến ghép
đôi lần đầu của con cái trung bình 25,96 ngày. Từ khi ghép đôi giao phối tới lúc
đẻ ổ trứng đầu tiên là 6,09 ngày. Những con cái có giao phối và đẻ trứng có từ 1
đến 3 lần giao phối và đẻ từ 1 đến 4 ổ trứng, nhưng số lần giao phối tiếp theo và
số ổ trứng đẻ tiếp theo không có liên quan chặt (bảng 3.14).
Bảng 3.14. Thành thục sinh dục của châu chấu mía H. tonkinensis
(Chi cục BVTV Hòa Bình, TP Hòa Bình, 2011)
Chỉ tiêu
Giá trị

quả (bảng 3.18). Tuy nhiên tỷ lệ trứng nở ở các nguồn thức ăn khác nhau đều đạt

15
trên dưới 90% và không có sự sai khác có ý nghĩa. Điều này chứng tỏ các nguồn
thức ăn nuôi thế hệ bố mẹ không ảnh hưởng tới tỷ lệ nở của trứng thế hệ kế tiếp.
Bảng 3.18. Sức đẻ trứng của châu chấu mía H. tonkinensis
trên các loại thức ăn (Chi cục BVTV Hòa Bình, TP Hòa Bình, 2011)
Loại thức ăn
Số
ổ trứng/ con cái

Số
quả trứng/ổ

Tổng số
quả trứng/ con cái
Lá lúa 2,22
a
±0,30 40,23
a
± 4,12
89,30
a
± 9,49
Lá mía 1,77
c
±0,31 32,77
c
± 1,61
64,57

61,70

c
± 6,72
LSD
0,05
= 0,21 3,28
9,99

Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý
nghĩa ở mức 0,05; n= 30.
3.3.4. Khả năng tiêu thụ thức ăn của châu chấu mía H. tonkinensis
Theo dõi khả năng tiêu thụ thức ăn của châu chấu mía H. tonkinensis cho
thấy ấu trùng loài này tiêu thụ khối lượng thức ăn tăng dần từ tuổi 1 đến tuổi 7,
trong đó tăng mạnh nhất ở tuổi 6, tuổi 7 (bảng 3.20).
Bảng 3.20. Khối lượng thức ăn tiêu thụ của ấu trùng cái loài châu chấu mía
H. tonkinensis (Chi cục BVTV Hòa Bình, TP Hòa Bình, 2011)
Tuổi ấu
trùng
Khối lượng thức ăn tiêu thụ (mg/con/ngày)
L

n nh

t

Nh


nh

trị ECI ở các tuổi ấu trùng 1,2,3 trong nghiên cứu này tương đương với giá trị ECI
thu được khi Amlan et al. (2002) thực hiện nghiên cứu trên loài H. banian. Trong
các tuổi ấu trùng, tuổi 5 là tuổi có hiệu suất chuyển hóa thức ăn tiêu thụ lớn nhất,
đạt 9,62%. Nhìn chung, ở các tuổi ấu trùng lớn (tuổi 5,6,7) thì hiệu suất chuyển hóa
thức ăn tiêu thụ cao hơn nhiều so với ấu trùng tuổi nhỏ (tuổi 1,2,3).

16
Bảng 3.22. Hiệu suất chuyển hóa thức ăn tiêu thụ (ECI) của ấu trùng cái
loài châu chấu mía H. tonkinensis (Chi cục BVTV Hòa Bình, 2011)
Tuổi ấu
trùng
Khối lượng tăng trưởng
(mg)
Khối lượng thức ăn tiêu
thụ (mg)
ECI
(%)
1 7,98 566,36 1,41
2

18,75

855,95

2,19

3 30,07 988,36 3,04
4

57,22


t

Nhỏ
nh

t

Trung bình
Lớn
nh

t

Nhỏ
nh

t

Trung bình
Giai đoạn trước giao phối 926 235 580,63±24,87

968 257 624,96±87,96

Giai đoạn giao phối/đẻ trứng 401 247 338,10±16,23

584 326 445,33±21,93

Giai đoạn sau giao phối/đẻ
trứng

đặc biệt từ khi châu chấu đã bước vào giai đoạn đẻ trứng trở đi thì giá trị này ở
mức âm, tức là châu chấu phải sử dụng tới năng lượng dự trữ trong cơ thể từ quá
trình tích lũy trước đó. Diễn biến hiệu suất chuyển hóa thức ăn tiêu thụ trong
quá trình sinh trưởng, phát triển của châu chấu cái được trình bày qua hình 3.18.
ECI (%)
Tuổi 3Tuổi 2
Tuổi 1
Tuổi 4 Tuổi 5 Tuổi 6 Tuổi 7 Trước GP GP/đẻ trứng
-8,00
-6,00
-4,00
-2,00
0,00
2,00
4,00
6,00
8,00
10,00
12,00

Hình 3.17. Diễn biến hiệu suất chuyển hóa thức ăn tiêu thụ (ECI)
trong các giai đoạn phát triển của châu chấu mía H. tonkinensis
Ghi chú: GP - Giao phối.
3.4. Đặc điểm sinh thái học của loài châu chấu mía H. tonkinensis
3.4.1. Đặc điểm phát sinh gây hại của châu chấu mía H. tonkinensis
Sau khi vũ hóa, trong thời gian ăn bổ sung, châu chấu mía H. tonkinensis
hoạt động mạnh, sức gây hại lớn, di chuyển nhanh và thành từng đàn. Đàn châu
chấu lúc này có thể ở trên khu vực trồng cây họ tre trúc (luồng, lành hanh), cũng có
thể gây hại trên khu vực trồng cây nông nghiệp (lúa, mía, ngô) nhưng thời gian
không lâu, khi nguồn thức ăn cạn, chúng di chuyển đi nơi khác. Hướng di chuyển

13/11/2010
27/11/2010
11/12/2010
25/12/2010
08/01/2011
22/01/2011
05/02/2011
19/02/2011
05/03/2011
19/03/2011
02/04/2011
16/04/2011
30/04/2011
14/05/2011
28/05/2011
11/06/2011
25/06/2011
09/07/2011
23/07/2011
06/08/2011
20/08/2011
03/09/2011
17/09/2011
Thoi gian trong nam
Do thuong gap (%)

Hình 3.19. Diễn biến độ thường gặp trong năm của trưởng thành châu chấu
mía H. tonkinensis (Trung Hòa, Tân Lạc, Hòa Bình, 2010-2011)
3.4.2. Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến châu chấu mía
H. tonkinensis

Bình Thanh,
Cao Phong

Tu Lý,
Đà B

c

2010
Nhi

t đ


trung bình
*
(
o
C)

22,41

22,25

22,59

Ẩm độ trung bình
*
(%) 81,60 84,32 79,16
Ngày tr

o
C) 21,14 20,74
Ẩm độ trung bình
*
(%) 84,10 86,19
Ngày tr

ng b

t đ

u n


22/4/2012

17/4/2012Ghi chú: Nhiệt độ không khí và ẩm độ không khí theo số liệu của Trung tâm Khí tượng
Thủy văn Hòa Bình; *: lấy số liệu bình quân của 8 tháng, từ tháng 9 năm trước đến
tháng 4 năm sau.
Vào thời điểm giao phối, đẻ trứng, châu chấu mía H. tonkinensis thường
tập trung ở những khu đồi trồng luồng, lành hanh. Tuy nhiên tại những khu vực
này, không phải chỗ nào chúng cũng đẻ trứng. Một trong những yếu tố thể hiện
sự sai khác về số lượng ổ trứng chính là các hướng đồi. Kết quả điều tra trong 3
năm (2010-2012) tại khu vực nghiên cứu cho thấy hầu hết các ổ trứng thu được
là ở hướng Nam-Tây Nam và Nam-Đông Nam với trên 90% số ổ trứng được tìm
thấy; trong khi đó rất hiếm tìm được ổ trứng ở các hướng Bắc-Đông Bắc và Tây-
Tây Bắc (bảng 3.26).

09/09/2011 3 19 97 3 122
26/02/2012 3 21 75 3 102
Tổng số ổ trứng 12 129 433 14 588
T


l


(%)

2,04
c

21,94
b

73,64
a

2,38
c

100

LSD
0,05
= 16,86
Ghi chú: Giá trị trung bình trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác
có ý nghĩa ở mức 0,05.

6,53
Đ

t

feralit

1

Vàng nâu

1,548

44,3
3
a

54,28

Đất feralit 2 Vàng nghệ 1,459 14,67
b
17,96
Cát xây

Xám đen

1,347

1,67
c

sót (%)
1
Rất ẩm KNO
3
93,58 ± 0,55% 4,90
c

2
Ẩm tối ưu NaNO
3
74,25 ± 0.32% 90,42
a

3
Ẩm trung bình KI 68,86 ± 0,24% 89,26
a

4
Chớm hạn K
2
CO
3
43,16 ± 0,39% 12,17
b

5
Hạn vừa MgCl
2
32,78 ± 0,16% 0,00
c

nhất thiết áp dụng biện pháp này vì hiệu quả không cao.
3.5.2. Biện pháp thủ công
Nhiều nơi ở tỉnh Hòa Bình, việc sử dụng châu chấu, nhất là châu chấu lúa
làm thức ăn tương đối phổ biến. Ở những xã thường xuyên có dịch châu chấu mía
H. tonknensis, thậm chí đã hình thành những người chuyên đi bắt châu chấu. Nếu
như thời điểm thu bắt châu chấu lúa thường phổ biến từ cuối tháng 5 đến giữa
tháng 7, trong giai đoạn sau khi thu hoạch lúa vụ chiêm xuân, chuẩn bị cấy lúa vụ
mùa thì việc thu bắt châu chấu mía H. tonkinensis xẩy ra muộn hơn, từ cuối tháng
6 trở đi vì trưởng thành loài này vũ hóa muộn hơn so với châu chấu lúa.
Thu bắt loài châu chấu mía H. tonkinensis cũng khó khăn hơn châu chấu
lúa vì chúng hoạt động linh hoạt và ở tầm cao hơn, xuất hiện ở những địa hình
khó khăn hơn. Trong các năm 2010-2012, ở những xã có dịch châu chấu, chính
quyền cơ sở đều vận động nông dân, chủ rừng, chủ vườn tham gia thu bắt thủ
công được trên 500kg.
3.5.3. Biện pháp sinh học
Trong quá trình điều tra diễn biến mật độ và nghiên cứu sự phát sinh gây

22
hại của châu chấu mía H. tonkinensis ngoài đồng ruộng trong các năm 2010-
2012, chúng tôi đã thu thập được 6 loại vi sinh vật và côn trùng ký sinh, ăn thịt
trên đối tượng này. Trong đó có 4 loài nấm ký sinh, 1 loài ong ký sinh và 1 loài
ăn thịt. Ngoài 6 đối tượng đã nêu, chúng tôi cũng ghi nhận được một số loài
động vật có xương sống khác sử dụng châu chấu làm thức ăn như bìm bịp, sáo,
thằn lằn, gà rừng vv nhưng rất hiếm khi bắt gặp chúng.
Kết quả xử lý bằng các chế phẩm sinh học trong phòng thí nghiệm với ấu
trùng châu chấu mía H. tonkinensis cho thấy hiệu lực xử lý là khá cao đối với cả
2 loại chế phẩm. Việc xử lý các chế phẩm sinh học trong phòng thí nghiệm với
châu chấu trưởng thành cũng cho kết quả tương tự như với ấu trùng, tuy nhiên
hiệu lực cuối cùng sau 21 ngày thấp hơn so với thí nghiệm xử lý ở giai đoạn ấu
trùng (bảng 3.33).

M. anisopliae (*) 3,00
ab
7,42
a
37,26
a
76,63
a
83,20
a
85,83
a
M. anisopliae (**) 1,33
cd
5,33
abc
31,13
b
68,40
b
83,03
ab
85,23
ab
LSD
0,05
1,99 2,68 3,21 2,74 3,51 2,87
Ghi chú:
- Giá trị trung bình trong cùng một cột mang chữ cái khác nhau thì sai khác có
ý nghĩa ở mức 0,05.

châu chấu năm 2010) trong mô hình cao hơn nhiều diện tích đối chứng (17,3 ha
so với 7,4 ha); nhưng do giám sát tốt, thực hiện xử lý sớm nên diện tích cây
trồng nông nghiệp (lúa) ở khu vực mô hình bị nhiễm châu chấu đã giảm đáng kể
so với đối chứng và không có diện tích bị nhiễm nặng
Đánh gía kết quả thực hiện mô hình thấy rằng việc các hộ nông dân tham
gia trực tiếp vào quá trình giám sát sự phát sinh của châu chấu mía
H. tonkinensis và thực hiện xử lý sớm từ giai đoạn ấu trùng đã làm giảm 91,76%
diện tích lúa nhiễm dịch; giảm 81,62% diện tích phải phun thuốc; từ đó làm
giảm 49,76% chi phí thuốc và công phun so với diện tích không có sự giám sát
và xử lý muộn

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận
1- Đã xác định được 17 loài châu chấu ở tỉnh Hòa Bình, trong đó ghi nhận
mới 4 loài cho khu hệ châu chấu ở tỉnh này là Atractomorpha lata
(Motschulsky, 1866); Atractomorpha crenulata (Fabr., 1793); Oxyrrhepes
extensa Walker, 1859 và Phlaeoba infumata Brunner V. Wattenwyl, 1893. Loài
châu chấu mía Hieroglyphus tonkinensis Bolivar, 1912 là loài có ý nghĩa kinh tế
quan trọng và là loài phổ biến ở tỉnh Hòa Bình.
2- Châu chấu mía H. tonkinensis có 1 thế hệ/năm. Ấu trùng đực có 6 tuổi,
ấu trùng cái có 7 tuổi. Vòng đời châu chấu là 351,68±11,32 ngày, trong đó giai
đoạn trưởng thành trước đẻ trứng dài 32,05 ngày.
3- Mỗi con châu chấu cái đẻ từ 1 đến 4 ổ trứng, mỗi ổ chứa trung bình
38,47 quả trứng. Lượng thức ăn tiêu thụ trong đời mỗi con châu chấu cái là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status