luận văn thạc sĩ đặc điểm ngôn ngữ thơ tình lưu quang vũ - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
LÊ LAN HƯƠNG
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
o0o

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ TÌNH
LƯU QUANG VŨ


với Lưu Quang Vũ là tất cả sự hàm ơn, ân cần riêng của tâm hồn chàng với
đời sống, bởi tấm tình riêng đã hòa với tình chung, với dân tộc, với đất
nước,…Vì lẽ đó, việc tìm hiểu và nghiên cứu thơ tình Lưu Quang Vũ luôn là
một đề tài có sức hấp dẫn cho những ai quan tâm đến việc nghiên cứu ngôn
ngữ và văn học. Mặc dù các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã có những
đánh giá, phân tích về nhiều mặt như: nội dung, tư tưởng, hình thức, đề tài,
chủ đề… trong thơ tình Lưu Quang Vũ, nhưng cho đến nay chưa có công

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

2
trình chuyên biệt nào nghiên cứu về ngôn ngữ trong thơ tình của ông, để góp
phần hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật trong thơ của tác giả này.
1.3. Thực tiễn giảng dạy Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay cho thấy, các
giáo viên thường thiên hướng khai thác bình giảng các khía cạnh của cảm
xúc, hình ảnh trong thơ, mà chưa chú ý đúng mức đến việc chỉ ra được sự
sáng tạo của tác giả trên cả hai phương diện hình thức và ngữ nghĩa của thơ.
Điều này khiến cho việc tiếp thu cũng như bình giá tác phẩm nhiều khi thiếu
cơ sở và không làm rõ được đặc điểm phong cách tác giả.
Lưu Quang Vũ là một trong những tác giả có sáng tác được đưa vào giảng
dạy trong trường phổ thông. Vì vậy, việc nghiên cứu thơ tình Lưu Quang Vũ
dưới góc độ ngôn ngữ sẽ giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm của ông nói
riêng, và thơ nói chung có hiệu quả hơn, giúp các thầy cô có cơ sở để truyền
đạt và giúp học sinh cảm nhận sâu sắc hơn những đặc trưng của loại hình
nghệ thuật rất tinh tế và phức tạp này, thể hiện qua các tác phẩm thơ cụ thể.
Từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài:
Đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ.
2. Lịch sử vấn đề
Nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ mất ở tuổi bốn mươi, khi
sức sáng tạo đang dồi dào, tài năng đang độ chín. Cuộc đời, sự nghiệp và sự

danh tiếng. Bài Một cây bút trẻ nhiều triển vọng của Hoài Thanh là bài viết
đầu tiên về thơ Lưu Quang Vũ. Ở đây chỉ qua những bài thơ đầu tay của Lưu
Quang Vũ, nhà phê bình văn học nổi tiếng này đã nhận ra tâm hồn thi sĩ tài
hoa nơi ông và chỉ ra hướng phát triển của thơ ông. Hoài Thanh còn tìm ra nét
bản chất trong thơ ông, buồn và đắm đuối.
Trong bài viết Những bài thơ sống với thời gian, Bích Thu đã thể hiện sự
đồng cảm sâu sắc với những bài thơ buồn mà Lưu Quang Vũ viết trong những
năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất. Chính những nỗi đau tâm hồn và sự
đắng cay nghiệt ngã của số phận đã giúp ông sáng tác nên những bài thơ sống
mãi trong lòng bạn đọc. Bài viết của Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ đều nêu
lên suy nghĩ, dấu ấn cảm xúc của mình về thơ tình Lưu Quang Vũ.
Vũ Quần Phương với bài Đọc thơ Lưu Quang Vũ không ghi lại một vài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

4
nhận xét, đánh giá về từng tập thơ, mà viết rất công phu, cung cấp cho người
đọc cái nhìn tương đối rõ ràng về đời thơ Lưu Quang Vũ từ tập Hương cây
đến Cuốn sách xếp lầm trang và Mây trắng của đời tôi. Mỗi chặng đường thơ
ông, Vũ Quần Phương đều thể hiện một sự cảm nhận tinh tế, sâu sắc với
những nhận xét xác đáng. Qua đó tác giả khẳng định:“Đắm đuối là bản sắc
cảm xúc Lưu Quang Vũ. Nó tạo nên sức lôi cuốn ma quái ở thơ anh”[46,
tr.36]. Ngoài ra còn có những bài viết, bài bình của Nguyễn Thị Minh Thái,
Anh Ngọc, Nguyễn Hoàng Sơn…
Có thể nói, cuốn Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật do Lưu
Khánh Thơ chủ biên, ra đời nhân dịp Lưu Quang Vũ được nhà nước tặng giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cũng là một công trình đáng chú
ý. Riêng về thơ, cho thấy đánh giá của giới phê bình về Lưu Quang Vũ từ
nhiều góc độ, nhưng tựu trung, đều có một cái nhìn đầy thiện cảm, kì vọng ở

góc độ văn học. Còn từ góc độ ngôn ngữ học thì chưa thấy có một chuyên
luận nào đi sâu, khảo sát, đánh giá các sáng tác của Lưu Quang Vũ một cách
đầy đủ và toàn diện.
Do đó, luận văn này trên cơ sở đi sâu, khảo sát, tìm hiểu, phân tích những
đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trên hai phương diện hình thức và ngữ nghĩa trong
thơ tình Lưu Quang Vũ, chỉ ra nét đặc trưng tiêu biểu của Lưu Quang Vũ
trong các tiếng thơ cùng thế hệ, và khẳng định Lưu Quang Vũ như một gương
mặt tiêu biểu của thời kì thơ ca kháng chiến chống Mỹ cũng như thơ ca của
thế kỉ XX. Những ý kiến của người đi trước là những gợi dẫn quý báu để
chúng tôi tiếp cận và nghiên cứu đề tài Đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu
Quang Vũ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ trên cả hai
phương diện:
- Phương diện hình thức: xét ở các cấp độ bài thơ, khổ thơ, câu thơ, tìm
hiểu các thể thơ, thanh điệu, vần thơ, nhịp thơ.
- Phương diện ngữ nghĩa: nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa các lớp từ, khả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

6
năng biểu đạt, xây dựng các hình ảnh, biểu tượng của ngôn ngữ thơ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài, nhằm xác lập khung lý
thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài: khái niệm thơ, đặc điểm
ngôn ngữ thơ, khái niệm bài thơ, khổ thơ, câu thơ, vần , nhịp…
- Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ trên phương diện hình

những phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này sử dụng khi khảo sát, để thống kê tần số xuất hiện, phân
loại các yếu tố hình thức và ngữ nghĩa trong thơ tình Lưu Quang Vũ, từ đó là
cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá về những đặc điểm nổi bật trong ngôn ngữ
thơ tình Lưu Quang Vũ.
5.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các tín hiệu ngôn ngữ trong thơ tình
Lưu Quang Vũ như việc sử dụng từ ngữ, các biểu tượng ngôn từ, các hình
thức: thể thơ, vần, nhịp…chúng tôi sẽ khái quát những đặc điểm cơ bản về
ngôn ngữ thơ và phong cách thơ Lưu Quang Vũ.
5.3. Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp so sánh được sử dụng để thấy rõ nét sự tương đồng và khác
biệt của Lưu Quang Vũ so với các nhà thơ cùng thời, sự vận động và phát
triển của chính bản thân hồn thơ Lưu Quang Vũ, (giữa hiện đại với truyền
thống), để từ đó thấy được sự sáng tạo, cách tân, và bản sắc riêng của thơ tình
Lưu Quang Vũ.
6. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận :
Đây là lần đầu tiên có một luận văn nghiên cứu tương đối đầy đủ và toàn
diện đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ trên hai phương diện hình
thức và ngữ nghĩa, theo cách tiếp cận ngôn ngữ học. Kết quả của luận văn có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

8
thể sẽ góp thêm tư liệu, bổ sung cách nhìn tiếp cận văn chương từ góc độ
ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng.

Thơ là một thể loại văn học nảy sinh và phát triển rất sớm, được xem là
hình thái văn học đầu tiên của nhân loại. Ở nhiều dân tộc trên thế giới, trong
một thời gian tương đối dài, thuật ngữ thơ được dùng để chỉ chung cho văn
học. Kể từ khi ra đời cho đến nay, thơ ca đã không ngừng vận động và biến
đổi cùng tiến trình văn học, ở mỗi giai đoạn lịch sử văn hóa, quan niệm về nội
dung thơ, hình thức thơ khác nhau. Vì thế, rất khó để tìm một định nghĩa thơ tiêu
biểu, ổn định cho thơ. Cho đến nay người ta vẫn không thể thống kê có được bao
nhiêu định nghĩa về thơ. Khi bàn về vấn đề này, mỗi học giả lại có một cách nhìn
nhận riêng, đặc biệt khi họ tiếp cận thơ từ nhiều góc độ khác nhau.
Platôn xem nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng như một hiện tượng
thần bí, cao siêu. Đối lập với quan niệm này, Arisstotle coi thơ ca là hiện
tượng do con người tạo ra theo những quy luật khác nhau, những quy tắc tổ
chức chặt chẽ.
Ở Trung Hoa, nói đến thơ ca, các học giả thường nhấn mạnh tới chức năng xã
hội của nó. Tuân Tử, Trang Tử cho rằng:“Thi dĩ ngôn chí”, “Thi dĩ đạo chí”,
tức là thơ ca là để giáo hóa đạo hóa, di dưỡng tính tình, để khí ngôn cảm hoài.
Ở Việt Nam, quan niệm về thơ trước kia gần như xuất phát từ nội dung.
Xem nội dung nói về điều gì, đó là điều quan trọng hàng đầu của thơ. Phan
Chu Tiên, thế kỷ XV, khi biên soạn Việt Nam thi tập tân san - là quyển hợp
tuyển thơ ca các đời - từ đời Trần đến đời Lê, đã viết: “trong lòng có điều gì,
tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy” (dẫn theo 66, tr.10]. Lê Quý
Đôn khẳng định: “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta”. Theo Phan Huy Ích
“Thơ là để nói chí hướng. Bậc quân sĩ lúc nhà rỗi miêu tả tâm tình, ghi lại
hình trạng, thường thường biểu hiện ra thiên chương truyền lại cho người

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

10
sau, dùng làm niên phải để lại lâu dài. Đó thực là kho báu trong nhà, đâu chỉ
phô bày ý tứ văn vẻ, phẩm bình phong vật mà thô…” [26, tr.7]. Đây được coi

11
- Thể hiện cảm xúc riêng bằng hình ảnh.
Từ đó, có thể đi đến sự thống nhất giữa nội dung - hình thức của thơ như
sau: Thơ là hình thức sáng tác của văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện
những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình
ảnh và nhất là có nhịp điệu.
1.1.2. Ngôn ngữ thơ
Nếu như giai điệu âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường nét
là ngôn ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn ngữ là
chất liệu của văn chương. Macxim Gorki đã nói “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất
của của văn học”. Tuy nhiên tùy vào đặc trưng thể loại, ngôn ngữ trong mỗi
thể loại văn học có đặc điểm riêng. Trong thơ, ngôn ngữ giữ một vị trí đặc
biệt quan trọng, đó là thứ ngôn được chưng cất công phu. Ngôn ngữ thơ là
một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, là một giá trị không thể phủ
nhận trong tính yếu thơ, vì “ thơ tức là phần tinh lọc nhất của ngôn ngữ”.
Ngôn ngữ thơ là đỉnh cao của sự chắt lọc, là sự biểu hiện tập trung nhất tính
hàm súc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu hình ảnh, sắc màu (tính họa), vừa
giàu nhạc điệu (tính nhạc). Các đặc điểm trên tạo nên hình tượng thơ lung
linh, đa nghĩa. Hay nói một cách giản dị, nếu là ngôn ngữ thơ thì phải mang
đầy đủ những thuộc tính: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo
hình, tính biểu cảm.
Tuy nhiên, không phải lúc nào những đặc điểm này cũng biểu hiện giống
nhau, mà tùy thuộc vào mỗi loại tác phẩm chúng được biểu hiện bằng những
sắc thái và những mức độ khác nhau. Đồng thời mỗi loại tác phẩm theo thể
loại lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng. So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn
ngữ thơ có những đặc trưng riêng. Điểm nổi bật của thơ ca là ở chỗ chỉ dùng
một lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu đạt cái vô hạn của cuộc sống
bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như tâm tư tình cảm của con
người, đúng như Phan Ngọc đã nhận xét:“Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ


ở ngoài lời”. Đây chính là cách dùng từ sao cho “đắt” nhất, có giá trị biểu
hiện cao nhất. Nguyễn Du - bậc thầy về dùng từ chính xác và hàm súc đã khắc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

13
họa thật hình ảnh về các nhân vật của mình chỉ bằng vài từ ngữ. Ông đã “giết
chết” các nhân vật phản diện như: Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến,
mỗi tên chỉ bằng một từ. Sự vô học của Mã Giám Sinh: Ghế trên ngồi tót sỗ
sàng, cái gian manh của Sở Khanh: Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào, cái
tầm thường, ti tiện của Hồ Tôn Hiến: Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình. Lựa
chọn được một từ ngữ “đắt” để diễn đạt một ý là điều khá phức tạp. Trong
một trường liên tưởng của từ ngữ có nhiều từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái
nghĩa, người viết cần liệt kê vài từ để chọn. Tản Đà đã suy nghĩ rất nhiều khi
chọn từ “khô” để đưa vào câu thơ: Non cao những ngóng cùng trông/ Suối
khô dòng lệ chờ mong tháng ngày (Thề non nước). Nếu thay từ “khô” bằng
từ tuôn, hay từ trôi thì hiệu quả sẽ như thế nào?
Hàm súc và giàu sức biểu hiện, ngôn ngữ thơ ca cô đúc, chặt chẽ với số
lượng từ rất hạn định nhưng năng lực biểu hiện lại rất lớn. Vấn đề đặt ra với
mỗi nhà thơ là phải chọn một cách nói tốt nhất đến mức độ người ta cảm thấy
không thể khác được. Như vậy nhờ cách tổ chức ngôn ngữ độc đáo này mà
ngoài ngữ nghĩa thông báo của bài thơ ta còn thấy ngữ nghĩa khác. Điều đó
làm nên tính đa tầng ý nghĩa câu thơ, giúp nhà thơ chuyển tải tối đa sự phức
tạp tinh tế của tâm trạng, tình cảm con người trong sự hữu hạn của số lượng
câu chữ. Và cũng vì sự mới lạ, bất ngờ của cách tổ chức ngôn ngữ mà thơ bắt
người đọc phải suy nghĩ, giải mã với khát khao chiếm lĩnh trọn vẹn nội dung
lẫn hình thức. Thơ hấp dẫn người đọc, lôi cuốn người đọc cũng là bởi lẽ đó.
1.1.3. Đặc trưng ngôn ngữ thơ
1.1.3.1. Đặc trưng hình thức

toàn bài. Khi khổ thơ biểu thị một ý hoàn chỉnh thì nó trùng với đoạn
thơ.”[16, tr.108 - 109].
Theo Từ điển tiếng Việt thì khổ thơ được hiểu theo nghĩa là:“Đoạn ngắn
được ngắt ra trong một bài văn vần (thường để hát hoặc phổ nhạc), ví dụ: bài
ca trù thường có ba khổ; ví dụ: một khổ thơ.”[ 43, tr.506].
Trên cơ sở những cách hiểu trên, chúng tôi quan niệm: khổ thơ là một số
câu thơ, dòng thơ được sắp xếp thành một đơn vị có quy cách nhất định về
vần luật, âm thanh, nhịp điệu, cú pháp, biểu thị ý nghĩa tương đối hoàn chỉnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Mỗi khổ thơ được kết thúc bằng một khoảng nghỉ dài.
a.3) Câu thơ
Nếu bài thơ là một văn bản thì khổ thơ tương ứng với các đoạn văn và
câu thơ là đơn vị nhỏ hơn khổ thơ.
Theo Lê Lưu Oanh thì:“Câu thơ là dòng thơ, là một đơn vị nhịp điệu, đơn
vị ý nghĩa, đơn vị liên kết trong bài thơ. Trong quan hệ với cái tôi trữ tình,
câu thơ như một hình thức ngôn ngữ cụ thể trực tiếp của những quan niệm
nghệ thuật của cái tôi trữ tình (…) Câu thơ còn là đơn vị của lời văn, lời nói
nghệ thuật. G.N. Pôxpêlôp coi lời văn nghệ thuật là những lời phát biểu có ý
nghĩa biểu hiện, biểu thị thuộc tính của chủ thể lời nói (…) Câu thơ (với cấu
trúc và các kiểu tổ chức của nó) bộc lộ một cảm quan về từ ngữ, cách tổ chức
điểm nhìn, thể hiện một giọng điệu…”[41,tr.152-153] .
Ngoài ra, theo Từ điển tiếng Việt chúng ta có thể hiểu câu thơ như sau:
câu là “1. Đơn vị cơ bản của lời nói, do từ tạo thành, có một ngữ điệu nhất
định, diễn đạt một ý trọn vẹn. Ví dụ : đặt câu. Nói chưa hết câu. Nghe câu
được câu chăng. 2. Câu thơ ( nói tắt ). Bài thơ tám câu” [43, tr.137] .
Tuy có thể có nhiều cách quan niệm khác nhau về câu thơ, nhưng chúng tôi

trường độ suy cho cùng là do sự chi phối của hoàn cảnh phát ngôn hoặc do
âm lượng của nguyên âm mà có. Theo đó ta có những âm tiết kết thúc bằng
nguyên âm hay bán nguyên âm thì có độ vang và khả năng kéo dài trường độ
lớn hơn âm tiết kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh.
Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố cơ bản chi phối phần vần của âm
tiết. Vì rằng thanh điệu là yếu tố thứ hai thể hiện tập trung nhất phẩm chất của
thi phẩm. Chính vì thế, nói đến cách hòa âm trong thơ Việt Nam thực chất là
nói đến sự hòa phối các thanh điệu, là cách kết hợp âm thanh trong bài thơ
một kiểu nhất định nào đó. Thanh điệu là đặc trưng của âm tiết, trong khi ngữ
điệu là đặc trưng của câu, trọng âm là đặc trưng của từ. Thanh điệu là yếu tố
siêu đoạn bao trùm toàn bộ âm tiết và là yếu tố cơ bản để tạo ra sự khác biệt
về phẩm chất ngữ âm giữa âm tiết này với âm tiết khác, cho nên nó là đối
tượng chính của âm điệu và được tìm hiểu trên hai bình diện là âm vực và
đường nét vận động. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

17
Theo âm vực ta có các thanh có âm vực cao bao gồm các thanh không dấu,
thanh sắc, thanh hỏi, và các thanh có âm vực thấp bao gồm thanh huyền,
thanh ngã và thanh nặng.
Theo đường nét vận động ta có những thanh có đường nét bằng phẳng
(truyền thống gọi là thanh bằng) bao gồm thanh không dấu, thanh huyền, và
những thanh có đường nét không bằng phẳng (truyền thống gọi là thanh trắc)
gồm có thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng.
Như vậy sự khác nhau về âm vực và đường nét các thanh điệu sẽ tạo nên
sự khác nhau ở các cao độ của nốt nhạc hay nói cách khác sẽ tạo nên tính
nhạc trong thơ.
b.2) Vần điệu

hòa âm và đặc điểm biến thiên cao độ các âm tiết.
Theo ý kiến của Triều Nguyên có hai cách phân loại vần:
- Dựa theo mức độ hòa âm, vần được chia làm ba loại: vần chính, vần
thông và vần ép.
Vần chính đòi hỏi các tiếng hiệp vần phải có phần thanh điệu và phần vần
đồng nhất. Phần thanh điệu đồng nhất là hoặc cùng dấu hoặc cùng bằng hay
cùng trắc, phần vần đồng nhất khi giữa các tiếng hiệp vần cùng có phần vần
giống nhau. Riêng âm đệm có thể có hoặc không có.
Vần thông đòi hỏi các tiếng hiệp vần phải có thanh điệu đồng nhất, phần
vần có âm chính hoặc đồng nhất đặc trưng âm sắc, hoặc đồng nhất đặc trưng
âm lượng, âm cuối hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất đặc trưng vang,
hoặc đồng nhất đặc trưng ồn.
Vần ép có thanh điệu và âm cuối như vần thông, có âm cuối vượt ra ngoài
các ràng buộc về mặt ngữ âm: không đồng nhất hoặc không cùng nhóm trong
lúc âm chính lại đồng nhất đặc trưng âm sắc hay âm lượng.
- Dựa theo vị trí của tiếng mang vần ở trong dòng thơ, khổ thơ, vần được
chia làm hai loại: vần chân và vần lưng.
Vần chân là những vần gieo vào tiếng ở cuối dòng thơ. Vần lưng là vần
gieo vào các tiếng còn lại, có thể là gieo tiếng đầu, tiếng giữa hay tiếng áp
cuối của dòng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

19
b.3) Nhịp điệu
Nhịp điệu thực chất là điệu tính được tạo ra từ sự xuất hiện luân phiên
các ngữ đoạn trong ngữ lưu. F.de.Saussure cho rằng:“dòng âm thanh chỉ là
đường dài, một dải liên tục, do đó thính giả không thấy sự phân chia nào đầy
đủ và chính xác, muốn có sự phân chia như vậy phải viện đến ý nghĩa nhưng

ca, là những đơn vị ngữ âm không thể thiếu trong ngôn ngữ thơ. Giữa vần và
nhịp luôn có mối quan hệ hữu cơ và tương hỗ lẫn nhau. Nhịp là yếu tố cơ bản,
là xương sống của bài thơ, là cơ sở, tiền đề cho việc gieo vần trong thơ.
1.1.3.2. Đặc trưng nội dung
Tính nhạc là dấu hiệu đầu tiên, quan trọng nhất của thơ, nhưng chỉ tính
nhạc thôi chưa đủ, chưa thể làm thơ. Dấu hiệu thứ hai tạo nên sức âm vang
của thơ thuộc về bình diện ngôn từ. Cùng với ngữ âm thì ngữ nghĩa cũng là
một yếu tố cấu thành tác phẩm thơ ca. Ngữ nghĩa trong thơ khác ngữ nghĩa
giao tiếp thường nhật và khác với ngữ nghĩa trong văn xuôi. Sở dĩ có điều đó
vì thơ là một loại hình ngôn ngữ cô đọng, hàm súc nhất về mặt từ ngữ - ngữ
nghĩa. Mỗi từ ngữ trong thơ, nếu được sử dụng khéo léo, trải qua sự lựa chọn
của tác giả, sẽ có một sức mạnh tiềm tàng, chứa đựng ý nghĩa sâu sắc, tinh tế.
Từ ngữ trong thơ thường mang tính đa nghĩa, “ý tại ngôn ngoại”. Ngữ nghĩa
trong thơ không chỉ có giá trị biểu hiện mà còn những giá trị khác. Khi đi vào
thơ, do áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ không dừng lại ở nghĩa
đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà thường phản ánh những tầng nghĩa
mới, nghĩa phái sinh tinh tế, đa dạng hơn tạo nên hiện tượng nhòe về nghĩa
(chữ dùng của Nguyễn Phan Cảnh) đem lại cho bài thơ sức biểu hiện phong
phú. Đặc tính này đã làm cho mỗi từ ngữ trong câu thơ “có thần”, mang âm
hưởng riêng, độc đáo, thường được coi là “điểm ngời sáng”, tạo nên sức nặng
của bài thơ. Trong thơ có những từ ngữ được sử dụng bởi phép chuyển nghĩa
thông qua hình thức như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh làm cho nội dung ngữ nghĩa
của thơ trở nên mơ hồ, nhiều khi không xác định, phải lựa chọn, liên tưởng,
tưởng tượng mới có thể giải mã và cảm thụ hết vẻ đẹp tối đa của câu thơ.
Tính nhòe về nghĩa trong thơ đã góp phần tạo ra nhiều kiểu cấu trúc đặc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

21
biệt, nhiều khi là bất thường cho thơ. Thơ cho phép sự tỉnh lược, thiếu vắng


22
phẩm văn học cần được xem xét dựa trên sự thống nhất có tính nguyên tắc
của nội dung ngữ nghĩa và hình thức. Hình thức của tác phẩm văn học chính
là tổng thể hợp thành của nhiều yếu tố: nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, các quy
định của thể loại văn học, những biện pháp kết cấu, cách xây dựng hình
tượng…Tất cả nhằm mục đích biểu hiện trực tiếp và sinh động nội dung của
tác phẩm, tạo nên một dạng tồn tại nhất định của nội dung ấy, qua đó xây
dựng toàn bộ tác phẩm thành một chỉnh thể thống nhất. Từ quan niệm như
vậy, cần hiểu sự hoàn thiện của hình thức trong tác phẩm văn học được biểu
hiện ở hai mức độ. Thứ nhất, hình thức phải phù hợp với nội dung, phải mang
tính nội dung, nội dung nào hình thức ấy. Thứ hai, hình thức phù hợp nội
dung đó phải phát huy tới mức cao nhất khả năng biểu hiện nội dung của nó.
Như vậy, quan hệ giữa nội dung và hình thức là mối quan hệ thống nhất,
nội dung và hình thức không những gắn bó mật thiết với nhau mà còn có sự
chuyển hóa vào nhau. Nói như Hêghen:“Nội dung chẳng phải cái gì khác, mà
chính là sự chuyển hóa của hình thức và nội dung, và hình thức cũng chẳng
khác gì hơn là sự chuyển hóa của nội dung và hình thức” [18, tr.224]. Trong
khuôn khổ của luận văn, chúng tôi muốn nhìn thơ tình Lưu Quang Vũ trên
phương diện hình thức và ngữ nghĩa để từ đó thấy được chiều sâu vẻ đẹp thơ
ông, đồng thời thấy rõ hơn hơn mối quan hệ này.
1.2. Thơ tự do
1.2.1. Khái niệm thơ tự do
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ tự do là một hình thức cơ bản của
thơ, phân biệt với thơ cách luật ở chỗ không bị ràng buộc vào các quy tắc
nhất định về số câu, số chữ, niêm, đối… Thơ tự do là thơ phân dòng thành
hàng, thành khổ như những đơn vị nhịp điệu có thể có vần. Mặc dù là thơ
phân dòng nhưng lại không có thể thức nhất định mà có thể là hợp thể, có
nghĩa hoặc là phối hợp đan xen các đoạn thơ làm theo các thể khác nhau,
hoặc là hoàn toàn tự do.” [16, tr.318].

thơ, đặc biệt là niêm luật. Sự khác biệt lớn nhất để thơ tự do trở thành một thể
loại độc lập đứng ngang hàng với các thể thơ khác là sự thoát ly trong sáng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn

24
tác khỏi sự gò bó của các quy tắc, luật lệ. Đặc điểm nổi bật của thơ tự do là
những câu thơ không có hình dáng thống nhất và không có niêm luật chặt chẽ.
Chính nhờ sự thoải mái này mà các nhà thơ có thể tìm thấy một chân trời rộng
rãi cho sự sáng tạo hình thức của mỗi bài thơ.
Thơ tự do phóng túng trong cách biểu đạt, nhịp điệu khoáng đạt, được cấu
tạo bằng những câu thơ tự nhiên, đa dạng về tổ chức kết cấu, có số lượng từ
ngữ co giãn linh hoạt. Về mặt hình thức, thơ tự do có thể có vần nhưng nó
không trở thành một quy tắc chặt chẽ mà nhịp điệu nổi lên như một yếu tố chủ
đạo. Nhịp điệu ở đây không do các yếu tố cách luật xác định (như trong thơ
Đường luật, thơ lục bát…) mà do những quy tắc nội tại, cảm xúc của nhà thơ.
1.3. Lưu Quang Vũ - Cuộc đời và thơ ca
1.3.1. Vài nét về tiểu sử và con người Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17. 4. 1948 tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh
Phú Thọ. Cha là nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận, quê ở Hải Châu,
thành phố Đà Nẵng. Mẹ là Vũ Thị Khánh, nữ sinh trường trung học Đồng
Khánh, người Hà Nội gốc. Thủa nhỏ, Lưu Quang Vũ sống cùng gia đình tại
chiến khu Việt Bắc. Hòa bình lập lại ông về Hà Nội. Năm 1958 gia đình Lưu
Quang Vũ chuyển đến căn phòng ở 96 A phố Huế. Nơi đây có thể coi là thiên
đường hạnh phúc của gia đình nhà thơ. Bà Vũ Thị Khánh (mẹ của nhà thơ
Lưu Quang Vũ) đã kể về nó với tất cả niềm tự hào: “Căn phòng của chúng tôi
luôn ấm êm và đầy ắp tiếng cười. Các con tôi đã lớn lên trong tình yêu
thương tha thiết của cha mẹ. Tại đây Vũ đã sống thời thơ ấu, trải qua thời
thanh niên lận đận, đã trở thành nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, đã sống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status