LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã
nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân. Nhân
dịp này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến những cá nhân và tập thể, đó
là:
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS. Nguyễn Thị
Xuân Hương, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp
Hà Nội, tập thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế, Khoa Sau đại học - Trường
Đại học Lâm nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu để hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn tập thể BQL rừng đặc dụng Nam Đàn đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu để nghiên cứu luận văn này.
Cảm ơn Tập thể lớp Cao học Kinh tế Nông nghiệp khoá 19A trường
Đại học Lâm nghiệp đã cùng chia sẻ với tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp cơ quan đã cùng chia sẻ những khó khăn, động viên và tạo
điều kiện cho tôi nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
TÁC GIẢ
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực.
Tôi xin cam đoan rằng mọi việc giúp đỡ cho việc nghiên cứu hoàn
thiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
TÁC GIẢ
Đỗ Văn Bình
ii
2.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BAN QUẢN LÝ RỪNG ĐẶC DỤNG NAM ĐÀN- NGHỆ AN 46
2.2.1. Đặc điểm bộ máy tổ chức quản lý 46
2.2.2 Đặc điểm lao động 48
2.2.3 Đặc điểm tài nguyên rừng và đất rừng 50
2.2.4 Đặc điểm nguồn vốn kinh doanh của BQL 50
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu 53
2.3.2. Phương pháp xử lý số liệu 53
2.3.3. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 54
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59
3.1. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỪNG TẠI BQL RỪNG ĐẶC DỤNG NAM ĐÀN- NGHỆ AN 59
3.1.1. Tình hình tổ chức quản lý rừng tại BQL rừng đặc dụng Nam đàn- Nghệ An 59
3.1.2. Kết quả quản lý rừng và đất rừng tại BQL rừng đặc dụng Nam Đàn- Nghệ An 61
3.2 HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỪNG TẠI BQL RỪNG ĐẶC DỤNG NAM ĐÀN- NGHỆ AN 74
iii
3.2.1. Hiệu quả về mặt kinh tế 74
3.2.2. Hiệu quả về mặt xã hội 78
3.2.3. Hiệu quả môi trường 80
3.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG TẠI BQL 81
3.3.1. NHỮNG THUẬN LỢI 81
3.3.2. Những khó khăn 82
3.4. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỪNG TẠI BQL 83
3.4.1. Tình hình vận dụng chính sách về quản lý bảo vệ rừng 83
3.4.2. Tình hình vận dụng chính sách về hưởng lợi 84
3.4.3. Tình hình vận dụng chính sách về quản lý khai thác lâm sản 85
3.4.4. Vận dụng chính sách về tài chính và các chính sách khác 86
3.5 NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỪNG TẠI BQL RỪNG ĐẶC DỤNG NAM ĐÀN- NGHỆ AN
87
3.5.1. Những thành công đã đạt được 87
Q Quyt nh
QLBV Qun lý bo v
QLBVR Qun lý bo v rng
QLR Qun lý rng
QSD Quyn s dng
RD Rng c dng
RPH Rng phũng h
RSX Rng sn xut
SXKD Sn xut kinh doanh
TNR Ti nguyờn rng
DANH MC CC BNG
TT Tờn bng Trang
2.1
Phân bố đất đai theo kiểu địa hình
34
2.2
Các chỉ số kinh tế Nam Đàn - năm 2011
36
2.3
Thống kê cơ sở trờng lớp và giáo viên, học sinh (năm 2011)
40
2.4 c im lao ng phõn theo trỡnh 46
2.5 c im lao ng phõn theo tui gii tớnh 47
2.6 Nng lc cụng nhõn k thut ca BQL 47
2.7
Thống kê diện tích các loại đất LN theo 3 loại rừng
48
2.8 Tỡnh hỡnh ti sn ca BQL 49
2.9 Tỡnh hỡnh ngun vn ca BQL 49
2.1
hậu, chống xói mòn đất, hạn chế bồi lắng sông hồ, điều tiết nguồn nước và
hạn chế lũ lụt Chính vì những lợi ích vô cùng quan trọng đó mà mỗi quốc
gia trên toàn thế giới đều phải chung tay bảo vệ và phát triển rừng.
Trong những năm gần đây, do nhu cầu sử dụng lâm sản ngày càng tăng,
nhu cầu mở rộng diện tích trồng cây nông nghiệp, công nghiệp, diện tích cho
các mục đích sử dụng khác mà diện tích rừng trong cả nước ngày càng bị thu
hẹp, chất lượng rừng cũng đang ngày một suy giảm nghiêm trọng. Tìm kiếm
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng đang là những nhu cầu bức thiết
không chỉ riêng ngành lâm nghiệp mà cả các ngành lĩnh vực khác trong nền
kinh tế.
Nam Đàn hiện có 7.816,83 ha đất lâm nghiệp, chiếm 26,58% tổng
diện tích tự nhiên. Trong đó: đất rừng sản xuất là 3.621,41ha; rừng đặc dụng
là 3.663,32 ha; rừng đặc dụng là 532,10 ha, gồm 2 khu: khu lăng mộ thân mẫu
Chủ Tịch Hồ Chí Minh và khu di tích núi Chung được nhà nước đầu tư, tôn
tạo và bảo vệ với chủng loại cây rừng phong phú.
Rừng Nam Đàn chủ yếu là thông nhựa, tập trung chính ở chân núi
Đại Huệ và dãy núi Thiên Nhẫn. Nhiều diện tích rừng Nam Đàn cơ bản đáp
ứng yêu cầu đặc dụng môi trường và tạo cảnh quan cho các di tích lịch sử văn
hóa. Cùng với các hồ đập dọc các chân núi, rừng đã tạo nên nhiều ảnh quan
đẹp phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, trong những năm gần
1
đây, do nhu cầu sử dụng gỗ ngày một gia tăng dẫn đến tình trạng khai thác
trái phép rừng ngày càng nghiêm trọng; tình trạng lấn chiếm đất rừng làm
nương rẫy, chuyển thành các mục đích sử dụng đất khác vẫn đang diễn ra
thường xuyên trên địa bàn Tỉnh Nghệ An nói chung và Huyện Nam Đàn nói
riêng.
Với mục tiêu tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ rừng, ngành lâm
nghiệp nói chung và các địa phương nói riêng cũng đã có nhiều giải pháp đưa
ra như cải cách hệ thống ban quản lý rừng, BQL rừng đặc dụng lâm nghiệp,
kiểm kê phân loại rừng và tăng cường nguồn kinh phí cho công tác quản lý,
- Nghiên cứu những nhân tố, nguyên nhân làm hạn chế tính hiệu quả
trong công tác quản lý rừng hiện nay tại BQL rừng đặc dụng Nam Đàn- Nghệ
An
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
rừng tại
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RƯNG
1.1. Những lý luận cơ bản về rừng
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về rừng
1.1.1.1. Khái niệm rừng
Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,
vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre
nứa. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng
hộ, đất rừng đặc dụng.
1.1.1.2 Phân loại các loại rừng
Rừng đặc dụng
Là các diện tích rừng được sử dụng chủ yếu vì mục đích bảo vệ nguồn
nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều
hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
a) Rừng đặc dụng đầu nguồn
Rừng đặc dụng đầu nguồn là rừng được xác lập nhằm tăng cường khả
năng điều tiết nguồn nước của các dòng chảy, hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt,
giảm xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế bồi lấp các lòng sông, lòng hồ.
Rừng đặc dụng đầu nguồn được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số
về: diện tích, lượng mưa, độ dốc, độ cao tương đối, thành phần cơ giới và độ
dày tầng đất.
Quy mô của rừng đặc dụng đầu nguồn phù hợp với quy mô của lưu vực
sông và việc quản lý rừng đặc dụng đầu nguồn gắn với công tác quản lý tổng
hợp lưu vực sông.
Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu vì mục tiêu kinh doanh gỗ, lâm sản
ngoài gỗ và kết hợp đặc dụng, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
5
a) Rừng sản xuất là rừng tự nhiên;
Là rừng tự nhiên gồm có: rừng tự nhiên và rừng được phục hồi bằng biện
pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; căn cứ vào trữ lượng bình quân
trên một hecta rừng tự nhiên được chia thành rừng giầu, rừng trung bình và
rừng nghèo.
b) Rừng sản xuất là rừng trồng;
là rừng trồng gồm có: rừng trồng bằng vốn ngân sách nhà nước và rừng
trồng bằng vốn chủ rừng tự đầu tư (vốn tự có, vốn vay, vốn liên doanh, liên
kết không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước) có hỗ trợ của nhà nước và
các nguồn khác.
c) Rừng giống ( gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công
nhận)
Là rừng giống được chuyển hoá từ rừng tự nhiên hoặc từ rừng trồng;
rừng giống là rừng trồng và vườn giống.
Rừng đặc dụng:
Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa
học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi,
du lịch, kết hợp đặc dụng, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
a) Vườn quốc gia;
Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập
nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ
sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít
từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp.
Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn
rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du
lịch sinh thái.
có giá trị cao về thẩm mỹ, sinh thái, văn hoá, lịch sử.
Khu bảo vệ cảnh quan được xác lập nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển
mối quan hệ truyền thống giữa thiên nhiên với con người nhằm phục vụ cho
các hoạt động về tín ngưỡng, vui chơi, giải trí, tham quan, học tập và du lịch
sinh thái.
Khu bảo vệ cảnh quan được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về:
lịch sử, văn hoá truyền thống, sinh cảnh; về diện tích tự nhiên của khu bảo vệ
cảnh quan và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự
nhiên của khu cảnh quan.
d) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học;
Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học là rừng và đất rừng được
thành lập nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, đào tạo,
dạy nghề về lâm nghiệp.
Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học được xác lập dựa trên yêu
cầu của tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo và dạy
nghề về lâm nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê duyệt thành lập tổ chức đó.
1.2. Những lý luận cơ bản về quản lý rừng
1.2.1. Khái niệm và bản chất của hiệu quả.
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu sống còn của mọi
doanh nghiệp. Với đặc thù khác nhau của mọi doanh nghiệp, đơn vị và khái
niệm hiệu quả cũng có nhiều tương đồng.
Khái niệm hiệu quả được nhiều tác giả đưa ra với những quan điểm khác
nhau, tổng hợp lại có một số quan điểm tiêu biểu sau đây:
- Theo P. Samerelson và W. Nordhaus thì: "hiệu quả sản xuất diễn ra
khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm
8
một loạt sản lượng hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới
hạn khả năng sản xuất của nó" .
Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu
1.2.2.1. Khái niệm
Trong thời gian gần đây, quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành một
nguyên
tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý
kinh doanh rừng phải đạt tới. Hiện tại có hai định nghĩa đang được sử dụng ở Việt
Nam.
Theo ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), QLRBV là quá trình quản lý những
lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng
đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch
vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất
tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi
trường tự nhiên và xã hội.
Theo Tiến trình Hensinki, QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách
thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái
sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và
trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa
phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái
khác.
1.2.2.2. Các nguyên lý quản lý rừng
Nguyên lý thứ nhất là: Sự bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng tài
nguyên rừng: Cuộc sống con người luôn gắn với sử dụng tài nguyên thiên nhiên và
để sử dụng nó, chúng ta cần phải bảo vệ nó vì tài nguyên thiên nhiên không phải
là vô tận.Theo định nghĩa Brundtland thì phát triển bền vững là “sự phát triển đáp
ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến các khả năng của
các thế hệ tương lai đáp ứng được các nhu cầu của họ”.
10
Vấn đề chìa khoá để bảo đảm nguyên lý bình đẳng giữa các thế hệ trong quản
lý tài nguyên rừng là bảo đảm năng suất và các điều kiện tái sinh của nguồn tài
nguyên có khả năng tái tạo này. Một trong những nguyên tắc cần tuân thủ là tỷ lệ sử
dụng lâm sản không được vượt quá khả năng tái sinh của rừng.
ngành, được hiểu là những hoạt động đầu tư để “sản xuất ra những khu rừng
có sản lượng cao hơn, chất lượng tốt hơn, đáp ứng được các nhu cầu của xã
hội trong mọi thời điểm”. Sản phẩm của kinh doanh lâm nghiệp trước hết và
cơ bản là “Rừng cây đứng” và tiếp theo đó mới là lâm sản và các loại dịch vụ
sản xuất từ các khu rừng cây đứng đã xây dựng. Sản xuất ra rừng cây đứng là
nhiệm vụ chính của kinh doanh lâm nghiệp. Như vậy, kinh doanh lâm nghiệp
trước hết và cơ bản là kinh doanh rừng, làm cho rừng giàu lên. Một BQL rừng
đặc dụng Lâm nghiệp không tạo nên những khu rừng có chất lượng ngày càng
cao, không làm tăng thêm sự giàu có và phong phú của rừng thì không thể
xem BQL rừng đặc dụng Lâm nghiệp đó là một tổ chức kinh doanh lâm
nghiệp thành công .
Hình thức tổ chức kinh doanh lâm nghiệp: là cách/kiểu phối hợp, bố trí,
sử dụng các nguồn lực của sản xuất (đất đai, nhân lực, tài chính, …) và cách
lợi dụng hợp lý các yếu tổ của điều kiện tự nhiên (khí hậu, thời tiết,…) để sản
xuất ra rừng cây, lâm sản, dịch vụ lâm nghiệp theo mục tiêu/chiến lược/kế
hoạch kinh doanh của BQL đã hoạch định và đạt tới mục tiêu kinh doanh cao
nhất của BQL, đó là: “Năng suất rừng cao nhất, Chất lượng rừng tốt nhất, Lợi
nhuận kinh doanh rừng tối đa nhất”
- Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNLN.
+ Việc tổ chức sản xuất, kinh doanh của Lâm trường được thực hiện
trên một diện tích rất lớn về đất đai, tài nguyên rừng .
+ Tư liệu sản xuất của lâm trường là tư liệu đặc biệt: đó là đất đai và tài
nguyên rừng, nếu người quản lý, sử dụng có những giải pháp đúng đắn, thích
hợp thì tư liệu sản xuất đó không những không mất đi mà còn được tái tạo lại
12
và ngày càng phong phú. Nếu ngược lại thì tài nguyên rừng sẽ bị cạn kiệt dần
và mất đi .
+ Hoạt động sản xuất, kinh doanh của lâm trường phức tạp, đa dạng và
có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài: đối tượng lao động chủ yếu của lâm
trường là cây rừng, một thực thể sinh vật chịu sự chi phối rất nhiều về điều
+ Việc sử dụng rừng và đất rừng luôn mang tính xã hội sâu sắc
1.2.4.2 Nội dung quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp
Theo Điều 7, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (Luật số:
29/2004/QH11) thì nội dung quản lý nhà nước về lâm nghiệp (bảo vệ và phát triển
rừng) bao gồm:
(1) Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ
và phát triển rừng.
(2) Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch,
kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương.
(3) Tổ chức điều tra, xác định, phân định ranh giới các loại rừng trên bản đồ
và trên thực địa đến đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.
(4) Thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất
để phát triển rừng.
(5) Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng.
(6) Lập và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để phát triển rừng; tổ chức
đăng ký, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, quyền sử dụng rừng.
(7) Cấp, thu hồi các loại giấy phép theo quy định của pháp luật về bảo vệ và
phát triển rừng.
(8) Tổ chức việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến,
quan hệ hợp tác quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng.
14
(9) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
(10) Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
(11) Giải quyết tranh chấp về rừng.
1.3. Các tiêu chí đánh giá và yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rừng
1.3.1 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý rừng
- Hiệu quả kinh tế: thể hiện thông qua mục tiêu tối đa hóa lợi ích ròng
về kinh tế từ các hoạt động đầu tư và quản lý, sử dụng tài nguyên rừng;
- Toàn vẹn về sinh thái: thể hiện thông qua việc duy trì tính đa dạng
sinh học và các chức năng sinh thái của rừng;
dụng đất, các hoạt động canh tác đến môi trường và đất đai được công bố
như: Nghiên cứu của Freizen Daling (1968) về "Tác động của con người đến
sinh quyển"; Gober (Pháp, 1968) về "Đất và việc giữ độ phì của đất - các
nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất",… Tổ chức nông nghiệp và lương thực
của Liên hợp quốc (FAO) trong nhiều năm qua nghiên cứu vấn đề canh tác
trên đất dốc đã đưa ra các mô hình canh tác có hiệu quả như: SALT1, SALT2,
SALT3, SALT4 .
Đến đầu năm 1970, Quốc hội Hoa kỳ đã ban hành Luật chính sách quốc
gia về môi trường, thường gọi tắt là NEPA. Luật này quy định rằng tất cả
những kiến nghị quan trọng ở cấp tiểu bang về luật pháp, hoạt động kinh tế,
kỹ thuật lúc đưa ra xét duyệt để được Nhà nước chấp nhận đều phải kèm theo
một báo cáo về tác động đến môi trường của việc làm được khuyến nghị. Tiếp
theo Hoa kỳ là Canada, Australia, Anh, Nhật, Đức,…cũng lần lượt ban hành luật
đánh giá tác động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994) . Trong những năm 1970 và
đầu năm 1980, ở một số nước đang phát triển như Thái Lan, Singapo, Philipin,
Indonesia,… đã ban hành những quy định về đánh giá tác động môi trường .
16
* Giai đoạn 2: Từ đầu những năm 1980 đến nay, đặc trưng của giai
đoạn này là phát triển bền vững, trong đó đã thể hiện được sự bổ sung hỗ trợ
lẫn nhau giữa việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.
Từ năm 1980 cho đến nay, khái niệm phát triển bền vững đã được nêu
ra ngày càng trở nên phổ biến. Ngày nay, quan điểm phát triển bền vững đã
trở thành quan điểm chính thống và bắt buộc mọi người không thể bỏ qua.
Bản báo cáo "Tương lai của chúng ta" của ủy ban Brundtland (1987) đã công
nhận đánh giá tác động môi trường là một cấu thành thiết yếu trong quá trình
phát triển bền vững. Báo cáo cũng đã vạch ra sự tham gia rộng lớn hơn của
cộng đồng và các quyết định có ảnh hưởng đến môi trường, tạo điều kiện cho
các cộng đồng sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có tại địa
phương.
Năm 1992, tại hội nghị quốc tế về môi trường ở Riôde Janneiro
tác động môi trường" .
Năm 1985, trong quy định về điều tra sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên bảo vệ môi trường, Hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) có nêu
"Trong xét duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của các công trình xây dựng lớn
hay công trình phát triển kinh tế xã hội quan trọng cần phải tiến hành đánh
giá tác động môi trường". Có thể nói đây là một văn bản quan trọng mở ra
một thời kỳ mới và cũng từ đây việc đánh giá tác động môi trường đã trở
thành một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước .
Hoành Xuân Tý (1994) với công trình "Bảo vệ đất và đa dạng sinh học
trong các Dự án trồng rừng bảo vệ rừng" đã tiến hành nghiên cứu về môi
trường, kinh tế. Song, trong cách phân tích đánh giá, tác giả thường thiên về
18
một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không đánh giá một
cách toàn diện trên các mặt .
Năm 1994, nhiều công trình của nhiều tác giả khác đã tiến hành những
nghiên cứu về tác động môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội của các
phương thức canh tác như: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm với công trình "Hiệu
quả các biện pháp canh tác trên đất dốc" và "Sử dụng đất trống đồi núi trọc và
bảo vệ rừng; Đăng Trung Thuận, Trương Quang Hải và tập thể với công trình
"Nghiên cứu và đề xuất mô hình phát triển kinh tế môi trường tại một số vùng
sinh thái điển hình"; Phùng Ngọc Lan, Vương Văn Quỳnh với đề tài "Nghiên
cứu khả năng giữ nước và bảo vệ đất của các phương thức canh tác trong các
hộ gia đình ở huyện Hàm yên - Tuyên Quang" .
Lê Thạc Cán (1994) hoàn thành công trình nghiên cứu "Đánh giá tác
động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn" tạo tiền đề cơ
sở khoa học cho các nhà nghiên cứu về môi trường thực hiện những nghiên
cứu tiếp theo.
Dự án "Đánh giá tác động môi trường Lâm nghiệp Việt Nam qua một
số mô hình liên kết quản lý rừng cộng đồng tại Yên Bái và Hà Giang" cũng đã