LUẬN VĂN:
Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
xử lý tài sản đảm bảo cho vay tại Ngân
hàng Công Thương Hoàn Kiếm
Lời mỡ đầu
Sau hơn 10 năm đổi mới chuyển từ cơ chế bao cấp sang nến kinh tế thị trường ,
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại
Chương II: Thực trạng xử lý tài sản đảm bảo cho vay tại Ngân hàng Công
Thương Hoàn Kiếm
Chương III: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả xử lý tài sản đảm bảo
cho vay tại Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm
Chương I:
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
I. chức năng và vai trò của hệ thống NHtm trong nền kinh tế :
1. Chức năng trung gian tài chính :
Đây là chức năng đặc trưngvà cơ bản nhất của Ngân hàng Thương mại và có ý
nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển .Trung gian tài chính là hoạt
động cầu nối giữa cung và cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những người có thể
vì lý do gì đó không dùng nó một cách sinh lợi sang những người muốn dùng nó vì mục
đích sinh lợi .
Thực hiện chức năng này , một mặt , Ngân hàng Thương mại huy động và tập
khăn và không an toàn . Nếu như mọi khoản thanh toán được thực hiện không qua ngân
hàng , thì sẽ có những bất tiện và tốn kém , như : những chi phí cho lưu thông tiền
mặtvà những chi phí có liên quan đến người trả và người nhận. Khi ngân hàng thương
mại ra đời và phát triển, thì hầu hết các khoản thanh toán chi trả về hàng hoá , dịch vụ
giữa các chủ thể kinh tế đều được chuyển giao cho ngân hàng thực hiện , việc thanh toán
trở nên thuận lợi , tiết kiệm được nhiềuchi phí , mọi quan hệ thanh toán được thực
hiệnbằng cách các chủ thể kinh tế mở tài khoản tại ngân hàng và yêu cầu ngân hàng thực
hiện các khoản chi trả hoặc uỷ nhiệm cho ngân hàng thực hiệnviệc thu nhận các khoản
tiền vào tài khoản của mình.
Trong khi làm trung gian thanh toán , ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông
tín dụngvà độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân , thẻ thanh toán )
đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độluân chuyển vốn
, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá.
Việc làm trung gian thanh toán của ngân hàng ngày nay đã phát triển đến tầm
mức đa dạng, không chỉ là trung tâm thanh toán truyền thống như trước, mà còn quản lý
các phương tiện thanh toán . Đây là vai trò ngày càng chiếm vị trí rất quan trọng, phù
hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ. 3.Chức năng tạo ra tiền ngân hàng
trong hệ thống ngân hàng hai cấp : Quá trình tạo tiền của Ngân hàng Thương
mại được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân
hàng , trong mối liên hệ chặt chẻ với hệ thống Ngân hàng Trung ương mổi nước .Tiền “
bút tệ “ do các Ngân hàng Thương mại tạo ra bằng cách nào? Để hiểu vấn đề này chúng
ta giả định rằng tất cả các Ngân hàng Thương mại đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức
quy định , các tờ séc không chuyển thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp được bỏ qua ,
thì quá trình tạo tiền “ bút tệ “ như sau :
Đó là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng đầu tiên nhận
tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ
- Một bên thì trao ngay một số tài hoá hay tiền bạc
- Còn bên kia thì cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của số tài hoá đó trong
một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định
1.2.Tính chất pháp lý của các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng :
Tín dụng ngân hàng là một khái niệm kinh tế hơn là pháp lý . Các hành vi ngân
hàng có cùng một lôgích kinh tế : hứng chịu rủi ro cho một người mà ngân hàng đã tin
tưởng ứng vốn cho vay, nhưng nó không chỉ gồm một giao dịch về pháp lý , mà nhiều
loại ( cho vay, bão lãnh, bảo chứng , )
Xét theo tính chất pháp lý, các nghiệp vụ ngân hàng về cơ bản có thể chia thành
ba loại :
- Cho vay ứng trước
- Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền
- Cho vay qua chữ ký ( cho vay qua việc cam kết bằng chữ ký )
1.2.1. Cho vay tiền:
Cho vay tiền là nghiệp vụ tín dụng trong đó người cho vay cam kết giao cho
người đi vay một khoản tiền và người đi vay cam kết sẽ hoàn trả sau một thời gian nhất
định. Giá trị hoàn trả lớn hơ giá trị khoản vay, phần chênh lệch đó là lã cho vay
Loại cho vay dựa trên ba nguyên tắc cơ bản :
1) Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi.
Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì đại bộ phận vốn của ngân hàng là vốn
huy động của khách hàng .Đó là một bộ phận tài sản của các sở chủ mà ngân hàng tạm
thời quản lý và sử dụng, ngân hàng cũng có nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu rút vốn của khách
hàng khi họ yêu cầu . Nếu các khoản tín dụng không được hoàn trả đúng , thì nhất định
sẽ ảnh hưởng đến khả nănghoàn trả của ngân hàng .
Để thực hiện nguyên tắc này , mỗi lần cho vay ngân hàng phải định kỳ hạn trả
nợ rõ ràng . Khi đến kỳ hạn nợ, người đi vay phải lập giấy trả nợ cho ngân hàng , nếu
Đảm bảo tín dụng là một phương tiện cho người chủ ngân hàng có thêm môt
nguồn vốn khác để thu nợ nếu mục đích cho vay bị phá sản .
1.2.2.Cho vay dựa trên việc chuyển nhương trái quyền:
Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền chủ yếu dựa trên cơ sở mua
bán các công cụ tài chính ( hối phiếu , lệnh phiếu, ký hoá phiếu, ), tạo ra nghiệp vụ
chiết khấu thươngphiếu của ngân hàng , tức là mua nợ tính trên khoảng thời gian còn lại
cho đến lúc đáo hạn của thương phiếu .
Trong loại tín dụng này , về phương diện pháp lý , ngân hàng không phải cho
vay mà là được mua một trái quyền . ở đây , ngân hàng ứng trước trị giá của một thương
phiếu chưa đến hạn và đổi lại ngân hàng nắm quyền sở hữu trái quyền của thương phiếu
đó .
Trong hình thức tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền này , khách
hàng là chủ một trái quyền có kỳ hạn, nhưng muốn có vốn ngay lập tức, nên họ phải yêu
cầu ngân hàng cấp cho ngay số tiền đó , trừ đi phần trả lãi. Đổi lại , họ chuyển nhượng
trái quyền cho ngân hàng và khi đến hạn ngân hàng sẽ đòi tiền người thụ trái ( người
phải trả ). Như vậy, tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền cho ngân hàng chủ
yếu là phương thức chiết khấu thương phiếu và chuyển nhượng khoản cho cay nghề
nghiệp
1.2.3.Tín dụng qua chữ ký ( cho vay qua cam kết bằng chữ ký ):
Trong hình thức này , ngân hàng không ứng tiền ra , mà chỉ cam kết sẽ trả một
khoản nợ của khách hàng trong trường hợp khách hàng không trả được. Chính vì lý do
bão lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình mà ngườita gọi hành vi cam kết bão lãnh
của ngân hàng là tín dụng qua chữ ký.
Các ngân hàng lớn dựa vào uy tín của mình cấp chứng thư cam kết bảo lãnh cho khách
hàng thực hiện các quan hệ tài chính trong nước và quốc tế giúp cho khách hàng của
mình có thêm điều kiện để được các đối tác tín nhiệm về mặt tài chính trong quan hệ
- Nhưng tín dụng thường phát sinh từ một cam kết dứt khoát của ngân hàng ,
hoặc là cấp một tín dụng cụ thể , hoặc là mở một hạn ngạch tín dụng cho khách hàng của
họ .
Khi hạn ngạch tín dụng không có thời hạn xác định, ngân hàng chỉ được chấm
dứt hoặc giảm hạn ngạch sau khi đã thông báo bằng văn bản khi đến hạn báo trước thoả
thuận lúc mở tín dụng.
Nhưng ngân hàng bao giờ cũng có thể chấm dứt việc mở tín dụng mà không cần
báo trước khi:
+ Khách hàng có thái độ rất đáng trách
+ Tình hình của khách hàng bị tổn hại không thể cứu vãn được.
1.3.3. Tín dụng có thể huy động và tín dụng không thể huy động được ( có thể bán lại và
không thể bán lại ).
- Tín dụng có thể huy động là những khoản tín dụng mà ngân hàng có thể
nhượng lại nhằm thu hồi lại được tiền trước kỳ hạn đã định. Các khoản tín dụng này chủ
yếu dựa trên kỹ thuật các chứng phiếu có thể chuyển nhượng và cho phép ngân hàng đi
vay lại được ( tự tái cấp vốn ).
- Tín dụng không huy động là tín dụng mà ngân hàng cấp ra không thể đem
chuyển nhượng để vay lại vốn .
1.4.Rủi ro tín dụng:
Đó là rủi ro gắn liền với hoạt động ngân hàng, cho vay bao giờ cũng bao gồm
rủi ro và xảy ra mất mát. Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn
bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng, như: các hoạt
động bão lãnh, cam kết, chấp nhận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân
hàng, những chứng khoán có giá, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ v.v . Ngày nay, dù có
hàng. Các rủi ro này bắt nguồn từ sự không an toàn về sử dụng vốn của ngân hàng. Do
đó, an toàn trong quá trình sử dụng vốn là tất yếu khách quan và không thể thiếu được
đối với các Ngân hàng Thương mại.
Lý do chính đòi hỏi một khoản vay có đảm bảo là nhằm tạo điều kiện để người
cho vay giảm bớt được những rủi ro mất mát trong trường hợp người đi vay không muốn
hoặc không có khả năng trả được nợ vay khi đến hạn. Nhưng đảm bảo không có nghĩa là
các khoản vay sẽ được hoàn trả vì Ngân hàng chỉ trở thành chủ nợ ưu tiên trong chi trả
và cũng có quyền ưu tiên so với tất cả các chủ nợ khác trong việc thanh lý các tài sản
đảm bảo cho vay. ở bất cứ lúc nào, với khách hàng nào thì cho vay có đảm bảo là
nguyên tắc hoàn toàn hợp lý và cần thiết để đảm bảo cho ngân hàng đối phó với những
tổn thất khi món nợ quá hạn, khó đòi hoặc khách hàng không có khả năng thanh toán.
Mặc dù hoàn trả tín dụng không phải là mục đích kinh doanh của ngân hàng
nhưng nó là cơ sở quan trọng để thực hiện các mục tiêu kinh doanh của ngân hàng. Sử
dụng đảm bảo tiền vay giúp cho các nhà kinh doanh tiền tệ có thể hạn chế đến mức tối
thiểu các rủi ro xảy ra. Bởi họ có thể thu hồi vốn khi đến hạn thông qua việc xữ lý các
tài sản đảm bảo ngay cả khi người vay gặp khó khăn không có khả năng trả nợ. Mục
đích của ngân hàng trong việc đặt ra đảm bảo tiền vay là tạo điều kiện cho Ngân hàng có
thể thu hồi nợ một cách chắc chắn, đồng thời có cơ sở để mỡ rộng qui mô tín dụng. Hơn
nữa, Ngân hàng có quyền phát mãi các tài sản của người vay được dùng làm đảm bảo đã
góp phần nâng cao ý thức hoàn trả của người vay.
Tuy nhiên, không phải khách hàng nhất thiết phải có đủ tài sản đảm bảo thì
Ngân hàng mới cho vay. Một phương án kinh doanh có cơ sở vững chắc để thực hiện có
hiệu quả là điều kiện tiên quyết cho vay của Ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay khi
phương án kinh doanh của khách hàng có hiệu quả, có khả thu nợ chứ không chỉ dựa
vào việc bán tài sản đảm bảo để thu nợ.
Mặc dù vậy, nếu Ngân hàng không thực hiện các đảm bảo tiền vay thì sẽ không
chống đỡ nổi khi có rủi ro xảy ra. Tình trạng mất vốn khi cho vay và bị đọng vốn thường
- Tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng vay
- Tổ chúc tín dụng nhà nước được cho vay theo sự chỉ định Chính phủ
- Tổ chức tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay có bão lãnh bằng tín
chấp của tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội.
III. Vấn đề cho vay có đảm bảo bằng tài sản trong các Ngân hàng Thương mại Việt
nam:
1.Tài sản đảm bảo và vai trò của tài sản đảm bảo :
Tài sản đảm bảo là những tài sản mà người đi vay ( hoặc người bảo lãnh) dùng
để đảm bảo cho khoản vay của người vay tại Ngân hàng bằng cách trao cho Ngân hàng
giấy tờ sở hữu tài sản và xác nhận cho Ngân hàng quyền phát mãi tài sản khi khách hàng
không trả được nợ khi đến hạn.
Như vậy, tài sản đảm bảo phải là những tài sản thuộc quyền sở hữu của khách
hàng . Quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Khi một tài sản được dùng để đảm bảo cho một khoản vay tức là có sự chuyển
về mặt pháp lý quyền sở hữu tài sản cho Ngân hàng nếu khoản vayquá hạn. Nếu khoản
vay được hoàn trả theo đúng thoã thuận thì tài sản đảm bảo đó được trao lại cho khách
hàng. Nếu khoản vay không được thanh toán và người vay không thực hiện nghĩa vụ của
mình thì tài sản đảm bảo sẻ bị xữ lý theo phán quyết của toà án.
Một mặt tài sản đảm bảo là một phương tiện tạo cho Ngân hàng một sự đảm bảo
rằng sẽ có một nguồn khác nữa dùng để hoàn trả cho khoản nợ nếu người đi vay mất khả
năng chi trả. Như vậy, tài sản đảm bảo là một phương thức làm giảm rủi ro tín dụng.
Mặt khác, tài sản đảm bảo còn tạo tâm lý cho Ngân hàng yên tâm hơn khi cấp
tín dụng cho khách hàng ; đồng thời nó nâng cao trách nhiệm của người đi vay trong
hoạt động kinh doanh của mình . Đây là cơ sở để Ngân hàng thiết lập được một mạng
lưới khách hàng cho mình.
2.Các hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài sản:
nhận cho khách hàng tham gia các dự án hoặc xin vay ở các Ngân hàng khác.
3. Các điều kiện đối với tài sản dùng đảm bảo tiền vay:
Khi các tài được dùng để đảm bảo cho các khoản vay tại Ngân hàng phải có các
điều kiện sau:
* Tài sản đảm bảo phải có các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, thuộc quyền
sở hợp pháp của khách hàng vay (hoặc bên bảo lãnh), các tài sản mà pháp luật quy định
đăng ký quyền sở hữu thì phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đối
với quyền sử dụng đất, bên đem đảm bảo phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, đất không có tranh chấp, có thể chuyển nhượngvà
thời hạn dùng để đảm bảo tối đa bằng thời hạn được giao đất hoặc thuê đất còn lại.
` * Tài sản đảm bảo phải được pháp luật cho phép mua bán, chuyển nhượng trên
thị trường
* Những tài sản mà pháp luật qui định phải bảo hiểm thì bên vay vốn (hoặc bên
bảo lãnh) phải thực hiện bảo hiểm.
* Tài sản đem đảm bảo phải có khả năng phát mãi.
* Một tài sản được dùng để bảo đảm cho một nghĩa vụ trả nợ tại một tổ chức tín
dụng; trường hợp tài sản có đăng ký quyền sở hữu theo qui định pháp luật, thì một tài
sản có thể được đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ trả nợ tại một tổ chức tín dụngvới
điều kiện giá trị tài sản đảm bảo tiền vay phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được
đảm bảo.
* Hoa lợi, lợi tức, các quyền phát sinh từ bất động sản được đem làm bảo đảm
thuộc tài sản đảm bảo hay không là do các bên thoã thuận hoặc do pháp luật qui định.
4.Qui trình cho vay có đảm bảo bằng tài sản:
Cho vay có hoặc không có đảm bảo bằng tài sản đều có những đặc điểm giống
nhau trong qui trình tài trợ tín dụng của Ngân hàng như: xem xét yêu cầu vay vốn của
khách hàng, nghiên cứu và đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đàm phán
sản đảm bảo). Tuy nhiên giá trị tài sản thường xuyên biến động trên thị trường, vì vậy
tuỳ vào mức độ biến động của từng tài sản trên thị trường mà Ngân hàng ấn định tỷ lệ
cho thích hợp. Những loại tài sản ít biến động giá, mức cho vay có thể lên đến 80% so
với giá trị tài sản.Còn những tài sản có mức biến động lớn, tỷ lệ cho vay có thể là 50%.
4.3. Ký kết hợp đồng và quản lý tài sản đảm bảo:
Sau khi hai bên đã thoã thận được các điều kiện về tín dụng, bên vay vốn (hoặc
bên bảo lãnh) phải lập giấy cầm cố, thế chấp tài sản đồng thời chuyển giao giấy chứng
nhận quyền sở hữu tài sản cho Ngân hàng và tiến hành ký kết hợp đống tín dung theo
mẫu qui định của cơ quan có thẩm quyền.
Đối với tài sản cầm cố, thế chấp là phương tiện vận tải, tàu thuyền đánh bắt thuỷ
hải sản có giấy chứng nhận đăng ký, thì tổ chức tín dụng giữ bản chính giấy chứng nhận
đăng ký, chủ phương tiện được dùng bản sao có công chứng của Nhà nước và xác nhận
của tổ chức tín dụng để lưu hành phương tiện trong thời gian cầm cố, thế chấp.
Khi thế chấp tài sản, tài sản thế chấp do khách hàng vay giữ , trừ trường hợp các
bên thoã thuậngiao cho tổ chức tín dụng hoặc bên thứ ba giữ. Nếu tài sản là tài sản có
đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đất thì tổ chức tín dụng phải giữ bản chính giấy
chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất.
Trong trường hợp cầm cố, thế chấp tài sản cho khoản vay hợp vốn, các tổ chức
tín dụng tham gia hợp vốn cử người đại diện quản lý tài sản và các giấy tờ của tài sản
bảo đảm tiền vay.
IV. Vấn đề xử lý tài sản đảm bảo thu hồi nợ trong hoạt động của Ngân hàng thương
mại:
1.Khái niệm nợ khó đòi:
Nợ khó đòi là khoản nợ mà khách hàng không có khả năng chi trả cho Ngân
hàng sau một thời gian kết thúc hợp đồng tín dụng.
Theo luật Ngân hàng hiện nay, nợ khó đòi hay còn gọi là nợ xấulà khoản nợ đã
chỉnh kỳ hạn trả nợ cho khách hàng. Nếu giải phàp này gặp trở ngại do tranh chấp giữa
các chủ nợ của người vay thì Ngân hàng cũng có thể xiết nợ để xác lập quyền sở hữu và
quyền định đoạt của mình đối vơi tài sản đó nhưng không nên phát mãi mà nên cho
khách hàng thuê lại với điều kiện khách hàng phải hoàn trả vốn cho Ngân hàng trong
một thời gian nhất định do hai bên thoã thuận mà thực chất đây là thay đổi hợp động tín
dụng bằng hợp đồng thuê tài sản. Tài sản đảm bảo chỉ nên xử lý bằng phát mãi khi
doanh nghiệp không thể trả được nợ cho Ngân hàng do dự án vay vốn không khả thi
hoặc doanh nghiệp bị phá sản.
3.Nguyên tắc xử lý tài sản đảm bảo tiền vay để thu hồi nợ:
Việc xử lý tài sản đảm bảo tiền vay để thu hồi nợ đối với các khoản cho vay có
đảm bảo bằng tài sản phải được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
* Khi đến hạn mà khách hàng vay, bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ đối với tổ chức tín dụng, thì tài sản bảo đảm xin vay được xử lý để
thu hồi nợ.
* Tài sản đảm bảo phải được xử lý theo các phương thức mà các bên đã thoã
thuận trong hợp đồng, trường hợp các bên không xử lý được theo các phương thức đã
thoã thuận thì tổ chức tín dụng có quyền:
a) Bán, chuyển nhượng tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi nợ.
b) Yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh; nếu bên bảo lãnh không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì xử lý tài sản của bên bảo
lãnh để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
* Tổ chức tín dụng có quyền chuyển giao quyền thu hồi nợ và uỷ quyền cho bên
thứ ba xủ lý tài sản đảm bảo tiền vay; trong trường hợp này thì bên thư ba cũng có
quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ như tổ chức tín dụng.
* Trường hợp một tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ trả nợ, nếu phải xử lý tài
sản đảm bảo tiền vay để thực hiện một nghĩa vụ trả nợ đến hạn, thì các nghĩa vụ trả nợ
sản cho người mua.
Bên thứ ba được uỷ quyền bán tài sản có thể là trung tâm bán đấu giá tài sản
hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sản hoặc tổ chức có chức năng được mua tài sản để
bán.
2) Nhận chính tài sản đảm bảo để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo
đảm:
Nhận chính tài sản đảm bảo để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo
đảm là việc Ngân hàng trực tiếp nhận tài sản đảm bảo, lấy giá tài sản đảm bảo được định
giá khi xử lý làm cơ sở để thanh toán nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn của bên bảo đảm sau
khi trừ đi các chi phí khác (nếu có) và được tiếp nhận tài sản đó theo qui định.
3)Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên
bảo đảm :
Nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải hoặc phải giao cho bên bảo đảm
là việc tổ chức tín dụng trực tiếp nhận khoản tiền hoặc tài sản mà bên thứ ba phải trả
hoặc phải giao cho bên bảo đảm theo các thủ tục qui định.
*Đối với các tài sản là quyền sử dụng đất:
Khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp quyền sử dụng đất
mà bên thế chấp không thực hiện hoặc không đúng nghĩa vụ thì quyền sử dụng đất được
xử lý. Trong trường đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp để trồng rừng đã thế chấp tại Ngân
hàng thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức
đấu giá quyền sử dụng đất để thu hồi vốn và lãi, trong trường hợp quyền sử dụng đất ở
đã thế chấp với tổ chức kinh tế, cá nhân thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất để thu hồi vốn và lãi.
5. Khai thác, sử dụng tài sản đảm bảo trong thời gian chưa xử lý:
Trong thời gian tài sản đảm bảo chưa xử lý được để thu hồi nợ, tổ chức tín dụng
có quyền khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc uỷ quyền