Luận văn thạc sĩ
Đặc điểm địa danh
Quảng Nam MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt DẪN
LUẬN
1
1. Lý do chọn đề
tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn
đề 3
2.1. Lịch sử nghiên cứu địa danh ở Việt
Nam 3
2.2. Lịch sử nghiên cứu địa danh ở Quảng
Nam 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu 9
3.1. Đối tượng nghiên
cứu 9
3.2. Phạm vi nghiên
cứu 9
1.3. Tiểu
kết
. 46
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH QUẢNG
NAM 48
2.1. Địa danh Quảng Nam: kết quả thu thập và phân
loại 48
2.1.1. Phân loại theo loại
hình 48
2.1.2. Phân loại theo nguồn gốc ngữ
nguyên 49
2.1.3. Phân loại theo số lượng âm
tiết 50
2.2. Các phương thức cấu thành địa danh Quảng
Nam 51
2.2.1. Phương thức tự
tạo 53
2.2.2. Phương thức chuyển
hoá 63
2.3. Đặc điểm cấu tạo địa danh Quảng
Nam 70
2.3.1. Cấu tạo
đơn 70
2.3.2. Cấu tạo
phức 71
2.4. Vấn đề danh từ chung và thành tố chung trong địa danh Quảng
Nam 74
2.4.1. Danh từ chung và tên
riêng 74
2.4.2. Danh từ chung và thành tố
4.1.1. Một số địa danh có nguồn gốc rõ
ràng 113
4.1.2. Một số địa danh có nguồn gốc còn tranh
cãi 117
4.2. Giá trị phản ánh hiện
thực 119
4.2.1. Giá trị phản ánh về mặt lịch
sử 119
4.2.2. Giá trị phản ánh về mặt địa lý tự
nhiên 125
4.2.3. Giá trị phản ánh về mặt kinh
tế 127
4.2.4. Giá trị phản ánh về mặt văn
hoá 130
4.2.5. Giá trị phản ánh về mặt ngôn
ngữ 133
4.3. Tiểu
kết
136
KẾT
LUẬN
138
TÀI LIỆU THAM
KHẢO 141
PHỤ
LỤC
147
Chương 4
ĐẶC ĐIỂM VỀ NGUỒN GỐC – Ý NGHĨA
Võ là tên một khu đất ngày xưa nghĩa quân của Nguyễn Duy Hiệu hay tập võ
nghệ; ở huyện Duy Xuyên có núi gọi là Hòn Bằng; ở miền tây Quảng Ngãi
có địa danh Bằng Chò là đỉnh núi bằng phẳng có nhiều cây chò mọc. [54,
tr.828]
Bằng Than là một hòn núi thấp, nằm sát biển, thuộc xã Tam Hải (NT), dài
khoảng 2km, cao 40m, trên đỉnh bằng phẳng, rộng khoảng 20ha, phủ đầy một
loại cỏ thân cứng và những cây dại như chà là, sim, mua. Thời kháng chiến
chống Mỹ, trực thăng của quân đội Mỹ nhiều lần đổ quân trên hòn Bằng
Than trong các cuộc càn quét. Điều đáng chú ý là ở mặt phía đông và đông
nam, vách đá cao dựng đứng màu đen như than. Từ ngoài biển nhìn vào, ta
thấy có một số hang động do sự xâm thực của sóng biển lâu ngày và những
bãi cát lô nhô nhiều hòn lớn nhỏ cùng những hố ẩn hiện trong những tia nước
và bọt biển trắng xoá trên cái phông màu đen của đá kéo dài đến hút tầm mắt.
Theo hình dáng tự nhiên và qua trí tưởng tượng phong phú của người dân địa
phương, những vách đá, hố nước nơi đây được đặt tên như: hố Cột Tàu, khe
Bà Che, hố Đùng, …
Về thắng cảnh này, sách Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Quảng Nam viết: “Núi
Phú Xuân có tên là núi Bàn Than, ở cách huyện Hà Đông 50 dặm về phía
đông nam, nằm lề bên cửa biển Đại Áp ở phía bắc; mạch núi nguyên từ núi
Chủ Sơn kéo về, chia ra quanh co qua các xã Hoà Vấn, Phú Hoà đến thôn
Phú Xuân Hạ thì nổi vọt lên một ngọn núi, sắc đá đen như than, đứng xa thấy
đỉnh núi bằng màu đen như cái mâm than, nên gọi tên như thế”.
4.1.1.3. Bồ Bồ
Núi đất cao 55m so với mực nước biển, đỉnh tương đối bằng phẳng, rộng
khoảng 1,5km2, làm ranh giới giữa hai xã Điện Tiến và Điện Thọ (ĐB).
Về nguồn gốc địa danh Bồ Bồ được giải thích như sau: Nguyên đây là đỉnh
núi cao nhất của cụm “núi đất” dài hơn 2km thuộc làng Đức Ký. Sau “Hiệp
ước phòng thủ chung” ở Đông Dương giữa Pháp và Nhật được ký kết (23-7-
1941), quân Nhật được tự do đóng quân ở Đông Dương. Trên đất Điện Bàn,
Nhật xây dựng căn cứ dã chiến để bảo vệ Đà Nẵng, thường được gọi là “trảng
quân đặt nhiều trái phá với liều thuốc nổ cực mạnh, nhằm công phá đội
xuồng máy của giặc đang neo đậu tại Bãi Chài.
Đúng giờ quy định, các chiếc bè theo con nước đổ xuôi rất mạnh được bứt
dây, phóng vun vút vào đám ca nô. Bọn giặc Pháp thấy thế, ơi ới gọi nhau lấy
bất cứ thứ gì có được nhằm đẩy bè ra xa. Nhưng đã quá chậm, các chiếc bè
công kềnh cứ thế lao tới, đâm sầm vào đội xuồng máy của giặc. Một loạt
tiếng nổ long trời lở đất làm cho các chiếc xuồng tung toé, ba trong bảy chiếc
lật úp xuống sông. Tức thì ba mặt, trên nước và đất liền, nghĩa quân theo
quân lệnh “hễ thấy tàu, thuyền có cắm cờ ba sắc cứ bắn xả vào” đã khai hoả
vào mục tiêu và dùng câu liêm móc đầu bọn giặc nhào xuống nước, hoặc
dùng giáo đâm giặc.
Về phía nghĩa quân, đốc binh họ Bùi hy sinh. Để tưởng nhớ ông, nhân dân
gọi nơi ông ngã xuống là bến đò Ông Đốc. Địa danh ghi lại một sự kiện lịch
sử, thể hiện lòng biết ơn, tôn kính đối với vị anh hùng họ Bùi. Ngày nay, bến
đò Ông Đốc ở thôn Vân Ly xã Điện Quang huyện Điện Bàn.
4.1.2. Một số địa danh có nguồn gốc còn tranh cãi
4.1.2.1. Faifo
Hội An trong lịch sử có nhiều tên gọi khác nhau: Hải Phố, Hoài Phố, Hội
Phố, Hoa Phố, Haiso, Faifo, … vốn là một thương cảng nằm bên bờ con sông
lớn nhất tỉnh, đã có một thời kỳ phát triển phát đạt nhất khu vực Đông Nam
Á. Nơi này thu hút thuyền buôn nhiều nước Đông Nam Á và nhiều nước
phương Tây đến đây để trao đổi, mua bán hàng hoá. Về địa danh Faifo: từ
Faifo lần đầu tiên xuất hiện trong hồi ký của nhà truyền giáo người Ý
Christoforo Borri đã từng sống ở Hội An và Đàng Trong từ năm 1618 đến
năm 1621. Cách giải thích nguồn gốc từ Faifo có nhiều thuyết khác nhau:
1- Faifo từ Hải Phố mà ra (theo Chapuis).
2- Faifo từ Hội An phố mà ra (theo Trần Kinh Hoà).
3- Faifo từ Hoa Phố mà ra (theo Châu Phi Cơ).
4- Faifo từ Hoài Phố mà ra (theo Phan Khoang).
5- Ngoài ra, có người cho rằng từ Faifo phát xuất từ cách hỏi tên đường của
(từ biên giới Lào về) gặp nhau để cùng đổ vào sông Bung. Nhân dân nơi đây
lấy từ Thanh ghép vào từ My thành tên gọi vùng đất: Thanh My (theo cách
gọi của đồng bào Cơ Tu).
Lại có ý kiến cho rằng: vùng đất Thạnh Mỹ hiện nay là vùng đất đá vôi (lớn
nhất ở Quảng Nam), có nhiều hang động, nhiều tảng đá rất đẹp nên được gọi
là Thạch Mỹ (từ gốc Hán Việt: vẻ đẹp của đá). Đây là cách gọi của người
Kinh.
Ngày nay, do bị biến âm nên gọi chệch đi thành Thạnh Mỹ (cf. Nguyễn Tri
Hùng). Thạnh Mỹ hiện nay là thị trấn của huyện Nam Giang.
4.1.2.4. Tr’Hy
Sau khi Gia Long (Nguyễn Ánh) lên ngôi, lập ra triều nhà Nguyễn, vị vua
này tiến hành truy sát binh lính của triều Tây Sơn – Nguyễn Huệ. Một số
người dân vùng Đại Lãnh (ĐL) phải lánh nạn lên núi, cư trú tại vùng của
đồng bào dân tộc thiểu số. Tại nơi đây, họ được đồng bào Cơ Tu che chở,
nuôi nấng và trở thành dân làng. Những người Kinh chạy nạn này thường kể
cho đồng bào nghe việc làm tốt đẹp của quan quân nhà Tây Sơn là lấy đất
người giàu chia cho dân nghèo và thường nói câu “Tây Sơn hy hữu” (ít có
như Tây Sơn). Chính vì câu chuyện này mà người dân tại đây lấy luôn cụm
từ “Tây Sơn hy hữu” để đặt tên cho làng mình. Vì cái tên quá dài nên được
rút gọn lại là Tây Hy, về sau biến âm thành Tr’Hy. (cf. Nguyễn Tri Hùng)
Hiện nay, Tr’Hy là một xã của huyện Tây Giang, nằm giáp với nước bạn
Lào.
4.2. Giá trị phản ánh hiện thực
Địa danh ra đời trong những điều kiện lịch sử, địa lý nhất định. Địa danh
chứa đựng những thông tin về chính trị, lịch sử, văn hoá, xã hội. Những
thông tin đó cho ta biết được đặc điểm của vùng đất cư trú. Cũng giống như
địa danh trên thế giới, địa danh Việt Nam, địa danh Quảng Nam cũng thế.
Khi nghiên cứu những giá trị phản ánh hiện thực của địa danh, ta có thể tìm
ra những ý nghĩa về nhiều mặt của đời sống xã hội được thể hiện thông qua
địa danh. Không sai khi có người cho rằng địa danh giống như “vật hoá
tiên của làng. Cư dân ở đây chủ yếu là người Hoa, họ chính là lưu dân nhà
Minh (Trung Quốc), chạy sang cư trú ở Hội An để tránh sự truy bắt của quân
Thanh. Được sự cho phép của chúa Nguyễn, họ đã định cư tại nơi đây và lấy
tên Minh Hương làm tên làng.
Quá trình cộng cư của người Việt, người Chăm và người Hoa trên đất Quảng
Nam đã được thể hiện trong sách Ô Châu cận lục khi miêu tả đời sống của
dân Điện Bàn (được hiểu là nửa tỉnh phía bắc Quảng Nam lúc bấy giờ) vào
giữa thế kỷ XVI như sau: “Dân lấy thóc làm giàu, nhà nông dùng trâu đạp
lúa; xe tiện chuyên chở đường bộ, ghe thuyền thuận lợi đường sông. Vườn
Mạc Xuyên trồng lắm hoa hồng, người Lang Châu dệt nhiều lụa trắng… Phụ
nữ mặc quần vải Chiêm, đàn ông tay cầm quạt Tàu…”.
Một trường hợp khá đặc biệt của một tập thể lưu dân gồm 33 người quê
huyện Nghi Lộc (tỉnh Nghệ An) vào Quảng Nam thế kỷ XVI, lập ra bốn làng
ở phía nam chân núi Hòn Tàu. Để ghi nhớ quê gốc, họ đặt tên ba làng lấy từ
đầu là “Nghi”, đó là các làng Nghi Thượng, Nghi Hạ, Nghi Trung và một
làng lấy từ cuối là “Lộc”, làng Lộc Đại. Cả bốn địa danh này nay là bốn thôn
của xã Quế Hiệp (QS).
Ở huyện Quế Sơn còn có một trường hợp khác, đó là địa danh Đức Giáo.
Đức Giáo nguyên là tên của một làng ở Phú Xuân (Thuận Hoá) nơi có nhiều
người chuyên nghề hát tuồng. Vào tháng 4 năm Ất Sửu (1805), khi vua Gia
Long bắt đầu xây dựng kinh thành Phú Xuân thì Đức Giáo nằm trong diện
giải toả. Thế là phần lớn dân Đức Giáo vào Quảng Nam, đến định cư tại làng
Khánh Đức (nay là một thôn thuộc xã Quế Hiệp – QS). Tuy ở địa phận
Khánh Đức nhưng nhóm dân di cư này vẫn lập một làng riêng và giữ tên làng
cũ là Đức Giáo. Làng này đặc biệt ở chỗ “hữu đinh vô điền”, tức là có dân mà
không có ruộng đất. Dân Đức Giáo vẫn tiếp tục giữ nguyên nghề cũ của mình
là hát tuồng, do đó mới có câu phổ biến trong vùng là “Đức Giáo vô địa lập
chuỳ, dĩ xướng ca vi nghệ” (Đức Giáo không có đất cắm dùi, chỉ lấy việc
xướng ca làm nghề vui sống) [54, tr.1093]. Đức Giáo là một trong những cái
nôi đã khai sinh ra nghệ thuật hát bội đặc sắc của Quảng Nam.
được thực hiện ở các địa điểm Phú Hoà (NT), Bàu Trám (NT), Tam Giang
(NT), Quế Lộc (NS), Tiên Hà (TP), Gò Muồng (ĐL), Tabhing (NG), An
Bang (HA), … Tính đến năm 2006, có khoảng 40 địa điểm khảo cổ học đã
được phát hiện và khai quật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Với những sưu tập
hiện vật cụ thể gồm công cụ đá, đồng, sắt, gốm và đồ trang sức, Quảng Nam
được giới nghiên cứu khảo cổ học trong và ngoài nước nhìn nhận như một
trung tâm của văn hoá Sa Huỳnh.
Thời đại nhà Nguyễn được đánh dấu bằng sự thiết lập dinh trấn Thanh
Chiêm. Thanh Chiêm được chúa Nguyễn Hoàng chọn làm nơi đặt thủ phủ
của trấn Quảng Nam vào năm 1602 – nằm trên bờ bắc sông Thu Bồn. Thanh
Chiêm cũng được gọi là Dinh Chiêm, còn người ngoại quốc gọi là Cacciam,
Caccham, hay Kẻ Chàm. Về vị thế lịch sử, dinh trấn Thanh Chiêm đóng vai
trò là một thủ phủ thứ hai của Đàng Trong, là nơi thực thi đường lối mở cửa
dưới thời chúa Nguyễn.
Thời Tây Sơn cũng để lại dấu ấn của mình trên vùng đất Quảng mà cụ thể
chúng tôi đã tìm được một số địa danh ở huyện Đại Lộc cùng sự tích về trái
Nam Trân đã khẳng định điều này. Tại Đại Lãnh (ĐL) vùng núi từ gò Đình,
gò Trao lên hướng tây bắc có một gò núi hình dáng như nghiên bút, suối
nước chảy quanh, dân địa phương gọi là gò Tôn Dương, sát bên có một hóc
núi gọi là Hóc Tướng. Địa thế gò Tôn Dương không rộng lắm nhưng khá
hiểm trở, phía sau gò là dãy núi Dương Thành cao vút án ngữ phía bắc, dọc
gò có dốc đá cao, cheo leo, đi lại rất khó khăn. Những người dân vùng Trúc
Hà đã truyền miệng nhau từ đời này sang đời nọ rằng: “Tối lại từ gò Tôn
Dương đến Hóc Tướng đến đồng cây cui thường nghe tiếng ngựa hí, đèn
đuốc sáng trưng một vùng… những người già thường không cho trẻ nhỏ chăn
trâu bò và nô đùa ở đây vì rất thiêng”. Vậy phải chăng chúa Nguyễn đã một
thời định đô tại đây và lấy tên chúa Tôn Dương (Nguyễn Phúc Dương) đặt
tên cho vùng đất chúa lên ngôi. Vùng Trúc Hà còn có một vùng đất mang tên
“Đồng Canh Quan Trại”, tương truyền đây là nơi đóng quân của Tây Sơn.
Địa danh Tr’Hy (Tây Sơn Hy Hữu – ít có như triều Tây Sơn) cũng khởi
những vị anh hùng của dân tộc. Tiểu loại tên đường thường gắn liền với
những tấm gương văn hoá này, chẳng hạn như: đường An Dương Vương
(HA), đường Bùi Thị Xuân (TK), đường Đoàn Thị Điểm (HA), đường Hải
Thượng Lãn Ông (NT), …
Là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, Quảng Nam đã sản sinh ra rất nhiều
người con ưu tú, anh hùng. Tên tuổi của những con người ấy đã gắn liền với
quê hương, góp phần vinh danh danh hiệu “trung dũng, kiên cường” của
miền đất Quảng. Và giờ đây, tên của những nhân vật đã từng sống, hoạt
động, tham gia chiến đấu, gắn bó với nhân dân, có những đóng góp quan
trọng, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân miền đất này đã được vinh
danh cùng với những con đường, bến đò, con dốc, làng xã, … của tỉnh nhà.
Ví dụ như: dốc Phan Thanh Thủ (ĐL, Phan Thanh Thủ quê ở Đại Lộc, ông là
Bí thư Đảng bộ huyện Đại Lộc), đường Bùi Chát (HA, Bùi Chát sinh ra ở xã
Cẩm Hà – HA, là người đầu tiên quê Quảng Nam được phong danh hiệu Anh
hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kháng chiến chống Pháp và cũng là
lớp chiến sĩ được phong Anh hùng đầu tiên của lực lượng vũ trang Quân khu
V), đường Đỗ Đăng Tuyển (TK, ông quê ở xã Đại Cường – ĐL, theo đánh
giá của Quốc sử quán triều Nguyễn, ông là nhân vật trọng yếu của Nghĩa hội
Quảng Nam), đường Huỳnh Thúc Kháng (TK, quê ông là làng Thạnh Bình,
nay là xã Tiên Cảnh – TP, ông từng giữ chức Chủ tịch Hội Liên Hiệp Quốc
dân Việt Nam – tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay), đường
Nguyễn Văn Trỗi (TK, Nguyễn Văn Trỗi sinh năm 1940 tại làng Thanh Quýt,
nay thuộc xã Điện Thắng (ĐB). Anh là người xung phong nhận nhiệm vụ đặt
mìn ở cầu Công Lý – nơi Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara cùng phái đoàn
Mỹ đi qua. Nguyễn Văn Trỗi bị bắt và hy sinh ngày 15-10-1964 tại sân sau
nhà lao Chí Hoà. Trước khi ngã gục, anh vẫn dõng dạc hô to: Đả đảo đế quốc
Mỹ xâm lược! Đả đảo Nguyễn Khánh! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh
muôn năm! Hãy nhớ lấy lời tôi!), bến đò Ông Đốc (HA, nơi đốc binh họ Bùi
hy sinh), …
4.2.2. Giá trị phản ánh về mặt địa lý tự nhiên