HUỲNH KIM TƯỜNG VI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HUỲNH KIM TƯỜNG VI
ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SƠN NAM
ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NAM BỘ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SƠN NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
KHÓA 2009 - 2011
VINH, 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HUỲNH KIM TƯỜNG VI
ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NAM BỘ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SƠN NAM
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60. 22. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học
1.4. Tiểu kết ……………………………………………………………
43
Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM CỦA LỚP TỪ ĐỊA PHƢƠNG NAM BỘ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SƠN NAM
2.1. Lớp danh từ riêng ………………………………………………….
44
2.2. Lớp từ xưng hô …………………………………………………….
51
2.3. Lớp từ chỉ sông nước ………………………………………………
54
2.3.1. Từ định danh địa hình sông nước ………………………..........
56
2.3.2. Từ miêu tả vận động của dòng nước …………………….........
58
2.3.3. Từ chỉ phương tiện di chuyển trên sông nước ………………...
65
3.2.2. Miêu tả con người Nam Bộ ……………………………………
85
3.2.3. Thể hiện phong tục Nam Bộ ……………………………..........
95
3.2.4. Thể hiện văn hóa ứng xử ……………………………………...
97
3.3. Tiểu kết …………………………………………………………….
104
KẾT LUẬN ……………………………………………………………
105
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
đó, ông không chỉ đƣợc biết đến nhƣ một nhà văn hóa, nhà Nam Bộ học, mà
còn là cuốn từ điển sống về Nam Bộ.
1.3. Lâu nay, nhiều bài nghiên cứu, nhiều công trình khoa học, khi chọn
Sơn Nam làm đối tƣợng nghiên cứu, dƣờng nhƣ đều tập trung khai thác
những giá trị văn hóa Nam Bộ, thiên nhiên Nam Bộ mà ít nghiên cứu về đặc
điểm ngôn ngữ Sơn Nam - một thứ ngôn ngữ đặc Nam bộ.
1.4. Tiếp xúc với những tác phẩm của Sơn Nam không chỉ mở ra cho
chúng ta một thế giới mới về vùng đất cực Nam của Tổ quốc mà còn có một
thế giới ngôn ngữ đƣợc mở ra vừa quen vừa lạ. Quen bởi nó là tiếng nói Nam
Bộ hàng ngày chúng ta dùng, lạ vì nó mang nhiều đặc trƣng của vùng đất với
những con ngƣời đặc thù, việc làm đặc thù (bắt rắn, bắt cá sấu, đốt than lậu,
ăn ong, …) với giang hồ tứ xứ, với hảo hớn kì lạ, huyền bí là một thứ ngôn
ngữ đặc sệt miền Nam. Những trang văn của tác giả thắm đƣợm hơi thở của
sông nƣớc, rừng cây, những câu chuyện có cả thực có cả kỳ bí của thiên nhiên
Nam Bộ hoang sơ và truyền đƣợc hơi thở ấy cho độc giả. Những tác phẩm ấy
đã phổ biến trong giới học sinh, sinh viên, mà cả đối với độc giả khắp nơi trên
mọi miền đất nƣớc, họ xem nó nhƣ một áng văn về con ngƣời và vùng đất
Nam Bộ khá điển hình. Có đƣợc điều đó, không những là nhờ tình yêu của tác
giả đối với miền đất Nam Bộ quê hƣơng mà còn thể hiện ở óc quan sát tỉ mỉ,
tinh tế, lối văn kể chuyện hấp dẫn đƣợc thể hiển trong tác phẩm của mình. Có
thể nói, tất cả các sáng tác của các nhà văn Sơn Nam đều gắn liền với đời
sống nông thôn Nam Bộ. Đọc tác phẩm, chúng ta có thể cảm nhận đƣợc bối
cảnh nông thôn trên một vùng đất bao la một cách khái quát, sâu rộng, đủ mọi
sắc thái và diện mạo, ta nhƣ sống trong một bầu không khí dân dã, quê mùa
nhƣng bao giờ cũng thiết tha tình cảm, một thứ tình cảm rất đậm đà sâu lắng
giữa ngƣời với ngƣời, giữa ngƣời với thiên nhiên, một thiên nhiên hoang sơ,
xa vắng rất Nam Bộ.
3
4
điểm về từ vựng, ngữ âm đặc trƣng của phƣơng ngữ Nam Bộ. Đặc biệt, bài
viết có sự so sánh giữa phƣơng ngữ Nam Bộ và phƣơng ngữ Bắc Bộ. Từ đó,
giúp độc giả hiểu rõ hơn đặc trƣng của phƣơng ngữ Nam Bộ về biến đổi ngữ
âm: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu.
Đặc biệt, Đoàn Thiện Thuật trong Ngữ âm tiếng Việt (1999), Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội, trong phần giới thiệu âm đầu cũng có đề cập đến biến thể âm
đầu. Tuy nhiên, tác giả nghiêng về biến thể ngữ âm âm đầu trong phƣơng ngữ
Bắc Bộ nhiều hơn. Các vấn đề khác thuộc về biến thể ngữ âm trong một âm tiết
nằm trong hệ thống các phƣơng ngữ nhƣ biến thể ngữ âm - âm chính, biến thể ngữ
âm - âm cuối... không đƣợc tác giả đề cập nhiều. Tác giả khẳng định: Những biến
thể địa phương của các âm vị rất đa dạng, cần được nghiên cứu riêng [65, 161].
Kế tiếp là công trình Phương ngữ Nam Bộ - những khác biệt về từ
vựng- ngữ nghĩa với phương ngữ Bắc Bộ (1995) của Trần Thị Ngọc Lang.
Đây là một trong những chuyên luận giúp ngƣời viết nhận ra có nhiều vấn đề
liên quan đến đề tài. Tác giả không chỉ đƣa ngƣời đọc đến những khái niệm
lịch sử hình thành đặc điểm của phƣơng ngữ Nam Bộ mà còn giúp họ phân
biệt đƣợc sự tƣơng đồng và dị biệt giữa phƣơng ngữ hai miền Nam - Bắc. Tác
giả đặc biệt nhấn mạnh bình diện từ vựng - ngữ nghĩa với những dẫn chứng
đƣợc phân tích hết sức rõ ràng, cụ thể. Đây là những đóng góp quý báu của
tác giả ở chuyên luận này. Trong các kiểu khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa
giữa hai phƣơng ngữ Bắc - Nam, ở phần I, tác giả giới thiệu sơ lƣợc về biến
thể ngữ âm và xếp biến thể ngữ âm vào kiểu thứ 6 trong phần này: Các biến
thể ngữ âm này có thể do hệ thống ngữ âm của từng phương ngữ tạo nên
hoặc do biến đổi lịch sử của từng vùng mà có sự sai khác. Những sai khác
này không đáng kể hoặc ở âm đầu... [27, 59], hoặc âm chính... [27, 60] hoặc ở
thanh điệu... [27,60], những biến thể ngữ âm đó chắc hẳn vốn bị chi phối bởi
một lĩnh vực nào đó, nhƣ qui luật chuyển đổi các phụ âm có cùng vị trí cấu
âm. Cũng có một số vần biến trại do kỵ húy (trùng với tên trong hoàng tộc
phần phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu. Cùng năm này,
tác giả lại tiếp tục ra mắt bạn đọc bài viết Tiếng Việt và vấn đề phân vùng
phương ngữ [67,30-33]. Đến năm 1997, tác giả lại bàn về Một số hiện tượng
6
ngôn từ của phương ngữ Nam bộ trong tiến trình chuẩn hóa tiếng Việt [68,6568], ông đã đƣa ra nhiều trƣờng hợp nhầm lẫn trong cách phát âm có tính phổ
thông do xu hƣớng thích sự đơn giản và hiện tƣợng biến thanh ở các lớp từ,
đại từ hóa chỉ đối tƣợng, không gian, thời gian, mức độ (...). Bên cạnh đó, tác
giả còn đƣa ra một số trƣờng hợp cụ thể về hiện tƣợng một số từ toàn dân và
từ địa phƣơng có nét chung, tƣơng tự hoặc không giống nhau.
Đến Ngữ học trẻ 1998, tác giả Huỳnh Công Tín lại một lần nữa ra mắt
độc giả bài viết Tính chất bán phương ngữ của phương ngữ Sài Gòn [69, 2731] xét trên bình diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
Đến năm 2009, Huỳnh Công Tín đã cho ra đời cuốn Từ điển từ ngữ
Nam Bộ. Soạn giả Huỳnh Công Tín đã nghiên cứu về từ ngữ Nam Bộ ở các
bình diện từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ âm, ngữ pháp và phong cách diễn đạt. Nhƣ
vậy, cảm nhận bản sắc Nam Bộ, TS. Huỳnh Công Tín đã cho ra đời gồm 27
bài báo đƣợc viết trong khoảng mƣời năm, trong đó: có 7 bài về văn chƣơng
Nam Bộ, 6 bài về những con ngƣời, tác giả, cũng nhƣ những nhân vật lịch sử
ở vùng đất Nam Bộ, 3 bài về địa danh, phong tục tập quán của ngƣời Nam Bộ
và đặc biệt có tới 11 bài về phƣơng ngữ Nam Bộ. Tác giả của cuốn sách đã
chú ý tới những vấn đề chung nhƣ sự tác động qua lại giữa ngôn ngữ, tƣ duy
và văn hóa Nam Bộ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ chuẩn và các phƣơng ngữ.
Đến năm 2001, trên Ngữ học trẻ lại có một bài nghiên cứu liên quan
trực tiếp đến phƣơng ngữ Nam Bộ với tiêu đề: Nhìn lại việc dùng từ địa
phương trong văn học Nam Bộ qua một số thế kỉ của Nguyễn Tài Thái. Nếu
nhƣ những bài viết trƣớc, các tác giả quan tâm đến việc nghiên cứu phƣơng
ngữ, phƣơng ngữ Nam Bộ ở nhiều phƣơng diện tổng thể nghiêng về lĩnh vực
ngôn ngữ học, thì đến đây, lần đầu tiên tác giả đã đƣa ra những nhận định
khái quát nhƣng sâu sắc, đề cập trực tiếp việc vận dụng phƣơng ngữ Nam Bộ
2003; Đinh Thị Thanh Thủy với đề tài Văn hóa và con người NamBộ trong
truyện của Sơn Nam, luận văn thạc sĩ tại Trƣờng Đại học khoa học xã hội và
nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Hồng với Nghệ thuật kể
chuyện của Sơn Nam, luận văn thạc sĩ, Trƣờng đại học Vinh, đã đánh giá rất
cao diện mạo, phong cách văn chƣơng của Sơn Nam.
8
2.4. Năm 2008, nhà văn Sơn Nam đi vào cõi vĩnh hằng, đã có nhiều bài
viết nghiên cứu về ông, đăng trên hàng loạt các trang báo trong và ngoài
nƣớc. Chu Văn Sơn trên http://www.phongdiep.net có bài Sơn Nam, Sẽ là
trồng cây đước tiền kiếp trên châu thổ, đánh giá cao tài năng của Sơn Nam;
Đặng Tiến trên một website nhận xét: Sơn Nam, nhà văn, tác giả hàng đầu
trong
nền
văn
học
Việt
Nam
đương
đại.
Trên
9
ruộng văn chương, hiểu cặn kẽ ngóc ngách thửa ruộng của mình. Tức là, nhà
thơ đã nhìn nhận Hương rừng Cà Mau với góc nhìn gần với thi pháp truyện
ngắn hiện đại mà cụ thể là giọng kể.
Sau khi Sơn Nam mất, một nhà báo lão thành nguyên là Trƣởng ban
văn nghệ Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, đã có lời tri ân về những
tác phẩm của Sơn Nam, mà hiển nhiên với Hương rừng Cà Mau là chính:
Đọc Sơn Nam người ta kinh ngạc về sự độc đáo của văn phong. Ông viết như
nói, như một ông già Nam Bộ kể chuyện đời trong quán cà phê. Nhưng sức
nặng của thông tin và cảm xúc của người viết khiến lời văn biến hóa khôn
lường. Đừng có ai đi tìm thể loại hay bố cục trong một truyện ngắn, hay một
cuốn sách của Sơn Nam. Nhưng cầm nó là phải đọc đến trang cuối vì càng
đọc càng thấy yêu nhân vật của ông, càng thấy yêu mảnh đất Nam Bộ, miền
cực Nam của tổ quốc.
Còn TS. Chu Văn Sơn lại nhìn truyện của Sơn Nam đầy chất thơ: Ông
đã tích tụ vào mình cả một nền văn minh mà chính ông đặt là văn minh miệt
vƣờn cả một nền văn hóa mà chính ông đã gọi văn hóa sông nƣớc để làm trữ
lƣợng cho một đời cầm bút. Vì thế, khi ông thả những dòng chữ trên trang
giấy, thì đó không còn là những nét mực, mà đó sự thực là những ngọn sóng
Cửu Long sóng sánh phù sa. Hơi thở Nam Bộ, không khí miệt vƣờn thấm
đƣợm chan hòa đến từng dòng văn, từng lời chú thích.
Không ngọt ngào nhƣ TS. Chu Văn Sơn, Hà Văn Thƣơng nhận xét
kiểu đặc sệt Nam Bộ: Sơn Nam là ông già kể chuyện xƣa, lối kể cũng xƣa.
Văn ông giản dị, ngắn gọn có khi cộc lốc, ông nói cho ngƣời ta hiểu chứ
không cốt làm văn. Đấy là cái chất của ông.
Qua những cách nhìn nhận đánh giá trên, ta thấy tất cả các nhà văn,
nhà phê bình đều nhìn nhận và đánh giá cao các tác phẩm của Sơn Nam, đặc
biệt là sự đóng góp của ông về mặt nội dung, mà nội dung này lại không hoàn
- Dùng phƣơng pháp so sánh đối chiếu để nhận diện cá tính ngôn ngữ
truyện ngắn của Sơn Nam.
5. Đóng góp của đề tài
11
Qua nghiên cứu ngôn ngữ trong truyện ngắn của Sơn Nam, luận văn nhằm
khẳng định giá trị to lớn, vị trí vai trò của truyện ngắn trong toàn bộ sự nghiệp
sáng tác của Sơn Nam, truyện ngắn Việt Nam. Từ việc tìm hiểu một số đặc ngôn
ngữ trong 65 truyện ngắn của Sơn Nam, luận văn nhằm khẳng định đóng góp
của ông đối với văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam, khẳng định vai trò to lớn trong
việc thể hiện đặc trƣng văn hoá - xã hội của phƣơng ngữ Nam Bộ.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có ba chƣơng:
Chƣơng 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài
Chƣơng 2: Đặc điểm từ địa phƣơng Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam
Chƣơng 3: Vai trò của từ địa phƣơng Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam
12
Chƣơng 1. NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Vùng đất Nam Bộ
1.1.1. Về địa lí
Nam Bộ nằm ở phía Nam của nƣớc Việt Nam là một vùng đồng bằng
sông nƣớc rất đặc trƣng thuộc hạ lƣu sông Mê Kông, sông Vàm Cỏ và sông
Đồng Nai, tiếp giáp với biển Đông. Vùng đất Nam Bộ mang đặc điểm chung
của thiên nhiên Việt Nam: bán đảo, nhiệt đới, gió mùa. Là một vùng đất mở
và động, đa dạng về sinh thái, thiên nhiên vừa ƣu đãi lại vừa khắc nghiệt.
Bộ, độ cao trung bình từ vài chục mét đến khoảng 200 nét trên mực nƣớc
biển. Miền Đông Nam Bộ có 6 tỉnh thành là Bình Phƣớc, Bình Dƣơng, Tây
Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh. Còn miền
Tây Nam Bộ có 13 tỉnh thành nhƣ: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ và hàng trăm đảo lớn nhỏ, có đƣờng biên giới bộ
giáp với Campuchia dài gần 880 km. Dân số toàn vùng Nam Bộ hiện nay có
trên 30 triệu ngƣời, chiếm hơn 1/3 dân số của cả nƣớc (cả nƣớc trên 80 triệu
ngƣời), trong đó, ngƣời Khmer khoảng 1,3 triệu ngƣời, ngƣời Hoa trên
600.000 ngƣời, ngƣời Chăm trên 14.000 ngƣời, ngƣời Kinh gần 28 triệu
ngƣời và một số dân tộc khác sinh sống ở vùng này nhƣng với số lƣợng ít.
1.1.2. Về lịch sử
Tiến trình lịch sử của Nam Bộ khác với những vùng đất khác, nó không
phát triển liên tục mà bị đứt quãng, điển hình là trên vùng đất này đã từng có
vƣơng quốc Phù Nam cổ xƣa với nền văn hóa Óc Eo một thời phát triển rực rỡ.
Những gì mà ngƣời ta nói về Nam Bộ ngày nay thƣờng chỉ giới hạn trong phạm
vi trên dƣới ba trăm năm. Ngƣời Việt di dân vào Nam có thể nói bắt đầu khi
cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn nổ ra và sau đó là cuộc di dân thực sự vào thời
nhà Nguyễn đầu thế kỷ XVIII khi nhà Nguyễn nắm đƣợc chính quyền Đàng
Trong và kêu gọi những ngƣời giàu có vào khai khẩn trên đất Đồng Nai, Gia
Định. Trong mấy trăm năm định hình và phát triển, Nam Bộ đã tạo nên cho
14
mình một lịch sử với giá trị văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng phong phú,
độc đáo và một bản sắc rất riêng so với các vùng miền khác.
Cách nay khoảng 4000 năm đến 2500 năm, những cƣ dân bản địa của
văn hóa Đồng Nam từ vùng miền Đông Nam Bộ nhƣ Stiêng, Chơ Ro, Mạ...
đã di cƣ xuống đồng bằng sông Cửu Long và định cƣ ở đó. Từ thế kỷ I đến
thế kỷ thứ VII, hình thành vƣơng quốc Phù Nam, chủ nhân của nền văn hóa
đất nƣớc Việt Nam.
Trong cuốn sách Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam, các tác giả đã
nghiên cứu lịch sử Nam Bộ bắt đầu từ văn hóa Óc Eo và nƣớc Phù Nam,
nghĩa là từ khi nhà nƣớc đầu tiên ra đời trên vùng đất này vào đầu Công
nguyên. Cuốn sách đã trình bày quá trình nƣớc Phù Nam suy sụp, vùng đất
Nam Bộ thuộc lãnh thổ nƣớc Chân Lạp từ thế kỷ VII cho đến thế kỷ XVI, rồi
sự xuất hiện những nông dân ngƣời Việt, ngƣời Hoa vào khai phá lập nghiệp
từ thế kỷ XVII. Từ đây, cƣ dân bản địa ngƣời Khmer, ngƣời Chăm và một số
tộc ngƣời thiểu số khác cùng ngƣời Việt, ngƣời Hoa mở rộng công cuộc khẩn
hoang, phát triển kinh tế. Ở thế kỷ XIII, cƣ dân ở vùng đất Nam Bộ còn thƣa
thớt. Chu Đạt Quan, một ngƣời Trung Quốc có dịp đến Chân Lạp vào năm
1296 - 1297, đã mô tả vùng đất này nhƣ sau: Từ chỗ vào Chân Bồ trở đi, hầu
hết là rừng thấp cây rậm. Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm, cổ thụ
rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó. Đến
nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây. Nhìn xa
chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi. Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm
ngàn con, tụ tập ở đấy. Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm dặm.
Loại tre đó, đốt có gai, măng rất đắng [22, 25]. Trong suốt quá trình lịch sử
đó, cộng đồng cƣ dân các dân tộc trên đất Nam Bộ ngày càng gắn bó với nhau
trong vận mệnh chung của quê hƣơng và đất nƣớc với nghĩa vụ xây dựng và
bảo vệ vùng đất Nam Bộ.
Trên cơ sở thực tế lịch sử và các văn bản pháp lý mang tính quốc tế,
Nam Bộ là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Cuốn sách
16
dành một phần thích đáng trình bày về cuộc sống của cộng đồng cƣ dân Nam Bộ
và mối quan hệ đoàn kết, giao thoa văn hóa mật thiết giữa các dân tộc Việt,
Khmer, Hoa, Chăm cùng các dân tộc ít ngƣời khác và những nét đặc trƣng của
không gian lịch sử, văn hóa Nam Bộ. Các tác giả nhấn mạnh truyền thống đoàn
giang sơn. Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, biết bao thế hệ và hàng
triệu người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã đổ máu hy sinh để bảo vệ độc
lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trước mọi âm mưu xâm chiếm hoặc chia
cắt đất nước, dù chỉ là một tấc đất, trong đó có vùng đất Nam bộ, toàn thể cộng
đồng dân tộc Việt Nam đều không tiếc máu xương cầm súng đứng lên bảo vệ chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình [22, 61].
Vùng đất miền Nam màu mỡ đã sản sinh ra rất nhiều tác gia chuyên
viết về cảnh vật và con ngƣời trên quê hƣơng của họ nhƣ: Hồ Biểu Chánh, Phi
Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang
Sáng,… Họ xứng đáng đƣợc xem nhƣ những cây bút tiêu biểu, góp tiếng nói
khẳng định những giá trị của văn chƣơng Nam Bộ, làm cho nền văn học Việt
Nam có thêm những thành tựu mới ở thế kỷ XX.
1.1.3. Về văn hóa
Trong nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì
mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có nét văn hóa riêng rất độc đáo, đa dạng và
phong phú. Nam Bộ tuy là vùng đất mà tổ tiên ta mới khai phá và lập nghiệp
hơn 300 năm, nhƣng văn hóa của nông thôn Nam Bộ bắt nguồn từ nền văn
hóa chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Nam Bộ vốn là miền đất hoang vu, cỏ mọc thành tinh, rắn đồng biết
gáy, nhiều sông rạch, đầm lầy, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội như bánh canh,
trên rừng có nhiều thú dữ, rắn độc và động vật quý, dƣới nƣớc tôm cá bạt
ngàn, còn có rùa, cá sấu,... Ngƣời nông dân Nam Bộ thì lao động cần cù, dũng
cảm, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trƣớc để cải tạo thiên nhiên, phòng chống thú
dữ để sản xuất. Ðể tồn tại và phát triển giống nòi, sản xuất và bảo vệ sản xuất
tất yếu các gia đình nông dân trong họ tộc, trong xóm làng liên kết nhau trong
lao động, phá rừng làm ruộng rẫy, đào sông rạch, làm đƣờng giao thông, săn
bắn thú dữ, vừa cƣu mang đùm bọc lẫn nhau, sống theo đạo lí thương người
18
19
do Nam Bộ đi đầu trong tiếp xúc văn hóa, xét trong tƣơng quan với cả nƣớc.
Ngay từ thời kỳ khai phá vùng đất mới này ở các thế kỷ XVII - XVIII, những
truyền thống văn hoá Việt, Khmer, Hoa, Chăm,... đã gặp gỡ nhau, đan xen và
hòa trộn với nhau. Do vậy, Nam Bộ là nơi gặp gỡ của cƣ dân nhiều tộc ngƣời
(Việt, Hoa, Chăm, Khmer…), đến từ khắp mọi miền của đất nƣớc (Bắc –
Trung – Nam) và khu vực. Mức độ tứ xứ cao nhất nƣớc. Văn hóa Nam Bộ là
sản phẩm của quá trình dƣơng tính hóa trong không gian và thời gian. Nó là
khâu cuối cùng trong quá trình dƣơng tính hóa trong không gian: từ Bắc qua
Trung vào Nam. Nó cũng là khâu cuối cùng trong quá trình dƣơng tính hóa
theo thời gian: từ lớp văn hóa bản địa qua lớp văn hóa giao lƣu với Trung Hoa
đến lớp văn hóa giao lƣu với phƣơng Tây. Trong công cuộc tiếp xúc với văn
hóa phƣơng Tây ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nam Bộ cũng đi trƣớc cả
nƣớc. Chính từ miền đất này, những cuộc cách tân đã khởi phát, sau đó lan ra
cả nƣớc: sản xuất hàng hóa lớn và thƣơng mại quốc tế, văn học quốc ngữ, ăn
uống (đồ Tây), mặc (âu phục), âm nhạc (tân nhạc, cải lƣơng), nghề in và xuất
bản, nghề báo... Đó là những lĩnh vực quan trọng đã làm thay đổi cách nghĩ,
cách cảm của cả dân tộc. Ngày nay, Nam Bộ cũng đang dẫn đầu trong công
cuộc đổi mới và tái hội nhập của đất nƣớc với thế giới.
Nhƣ vậy, công cuộc khai phá Nam Bộ xét về mặt văn hóa đã mở ra
cho cả dân tộc con đƣờng trở về với Đông Nam Á cội nguồn, đồng thời cũng
là con đƣờng đến với thế giới. Ðiều này vô cùng quan trọng, vì nhiều thế kỷ
trƣớc đây, thế giới với ngƣời Việt Nam chỉ là Trung Hoa. Và Nam Bộ lẽ ra đã
có thể đƣa cả nƣớc vào con đƣờng cách tân và hiện đại hóa sớm hơn rất nhiều
nếu cơ hội lịch sử không bị bỏ qua chỉ vì triều đình nhà Nguyễn khƣ khƣ ôm
giữ những giáo điều cổ hủ, sợ sự thay đổi có thể đe dọa đến địa vị thống trị
của họ. Ngày nay, Nam Bộ đang đi tiên phong trong tiếp xúc văn hóa hẳn sẽ
đóng vai trò to lớn xứng đáng của nó trong công cuộc hiện đại hóa của dân
tộc. Về mặt tôn giáo cũng không phải ngoại lệ, Nam Bộ trở thành nơi khởi
thuộc địa đã định hình vẫn còn sự xuất hiện các tôn giáo nhƣ đạo Cao Đài
năm 1926, rồi Phật giáo Hòa Hảo năm 1939, trong đó, Cao Đài mang dáng
dấp một hội đoàn có khuynh hƣớng chính trị ôn hòa của tầng lớp trên nhƣng
21
lùi lại vị trí một tôn giáo để thu hút hội viên, còn Phật giáo Hòa Hảo giống
nhƣ một phong trào vận động tƣ tƣởng trong quần chúng tầng lớp dƣới nhƣng
đƣợc nâng lên thành một tôn giáo để tránh bị đàn áp.
Về không gian văn hoá, thì vùng văn hoá này bao gồm địa bàn 19 tỉnh
thành: Đồng Nai, Bình Dƣơng, Bình Phƣớc, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà
Vinh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang,
Bạc Liêu, Cà Mau. Có thể chia thành ba tiểu vùng văn hoá: tiểu vùng Đông
Nam Bộ, tiểu vùng Tây Nam Bộ, và tiểu vùng Sài Gòn. Hiện nay, Nam Bộ là
nơi cƣ trú của ngƣời Việt và các tộc ngƣời thiểu số là cƣ dân bản địa: Stiêng,
Chrau, Mạ, hoặc di dân: Khmer, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Mƣờng, Thổ... Các
tộc ngƣời khác thì di dân vào Nam Bộ theo ba đợt chính: di dân có tổ chức
vào các năm 1954, 1975, và di dân tự do ồ ạt từ năm 1994. Do đó, Nam Bộ
cũng là một vùng đất đa tộc ngƣời sinh sống. Bởi vì, Nam Bộ đƣợc hình
thành trên một vùng đồng bằng sông nƣớc và trên một vùng đất đa tộc ngƣời.
Văn hoá Nam Bộ có hai đặc trƣng chủ đạo là đặc trƣng đồng bằng sông nƣớc
và sự tiếp biến các yếu tố văn hoá của ngƣời Chăm, ngƣời Khmer, ngƣời Hoa
vào văn hoá Việt trong vùng. Xét về mức độ, những đặc trƣng chủ đạo này
cũng là những nét đặc thù của vùng văn hoá Nam Bộ. Bởi vì, đặc trƣng đồng
bằng sông nƣớc cũng có mặt trong các vùng văn hoá đồng bằng ở Bắc Bộ và
Trung Bộ, nhƣng chỉ ở Nam Bộ yếu tố sông nƣớc mới nổi lên thành một đặc
trƣng chủ đạo, chi phối toàn diện cuộc sống cũng nhƣ các thành tố văn hoá
của các cộng đồng cƣ dân. Mặc dù, các vùng văn hoá đồng bằng ở Bắc Bộ và
Trung Bộ đều có tiếp biến văn hoá của các tộc ngƣời khác nhau, nhƣng chỉ ở