Luận văn thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ của Báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng - Pdf 58

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
___________________________________

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA BÁO CÁO VIÊN
TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
THUỘC ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

( Khảo sát từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2016 )

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Kim Bảng

HẢI PHÒNG - 2017


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:

thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các thầy giáo cô giáo
và những người quan tâm đến đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 18 tháng 12 năm 2016
Người thực hiện


iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................. .............ii
MỤC LỤC................................................................................................................... ...........iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT................................................................................... ............iv
DANH MỤC BẢNG................................................................................................. .............v
MỞ ĐẦU..................................................................................................................... .............1
1. Lí do lựa chọn đề tài nghiên cứu…………………………............................... .............1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu …………………………………….………................2
2.1. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung……….……...………... .............2
2.2. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của báo cáo viên trong tuyên truyền miệng
(báo nói) thuộc Đảng bộ Hải Phòng.......................................................................... .............6
3. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu ......................................................................... .............6
3.1. Mục tiêu……………………………………..……………………….…... .............6
3.2. Nhiệm vụ………………………………………………………….….….. .............6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………….. …........7
4.1. Đối tượng nghiên cứu………………………………………….………… .............7
4.2. Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………..….. .............7
5. Phương pháp nghiên cứu………………...……………………..…………... .............7
6. Cấu trúc của luận văn………………………………………………...……. .............7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN………. ...........9

3.1.3. Kiến nghị về cách ngắt nhịp của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền
miệng.......................................................................................................................................63
3.2. Các khuôn mẫu ngôn từ thường được báo cáo viên sử dụng trong công tác
tuyên truyền miệng……………………………………………………………...........64


3.2.1. Các khuôn mẫu ngôn từ trong phần mở đầu của văn bản tuyên
truyền miệng………………………………………………………………............65
3.2.2. Các khuôn mẫu ngôn từ trong phần thân bài của văn bản tuyên truyền
miệng………………………………………………………………………… ...........66
3.2.3. Các khuôn mẫu ngôn từ trong phần kết luận của văn bản tuyên truyền
miệng……………………………………………………………………….... ...........70
3.3. Các yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm ngôn ngữ nói của báo cáo viên trong công
tác tuyên truyền miệng……………………………………………………....... ...........71
3.3.1. Yếu tố không gian, thời gian……………………………………...…….. .….…71
3.3.2. Cử chỉ, điệu bộ và biểu cảm của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền
miệng……………………………………………………………………......... .…….72
3.3.3. Kiến nghị về các yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm ngôn ngữ nói của báo cáo
viên trong công tác tuyên truyền miệng…………………………………..….... ...…...73
3.4. Tiểu kết chương 3................................................................................................ ...........73
KẾT LUẬN............................................................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................... ...........79
PHỤ LỤC.................................................................................................................... …..……


iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Giải thích

Kiểu nhịp (theo âm tiết), trường độ trung bình kiểu nhịp và
58
ngắt nhịp BCV2
Kiểu nhịp (theo âm tiết), trường độ trung bình kiểu nhịp và
59
ngắt nhịp BCV3
Kiểu nhịp (theo âm tiết), trường độ trung bình kiểu nhịp và

3.5

ngắt nhịp BCV4

61


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài nghiên cứu
1.1. Trong sự đa dạng của các phương tiện truyền thông hiện đại (báo viết,
báo nói, báo hình và báo điện tử) đang phát triển vượt bậc cả về mặt số lượng và
chất lượng trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam thì tuyên truyền miệng (TTM)
được coi là dạng thức truyền thông đặc biệt mang tính truyền thống, hiệu quả và
được sử dụng nhiều trong các buổi phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước; các lớp tập huấn chính trị, phổ biến nghị quyết... ở các cấp xã phường. Hình
thức TTM thực sự có hiệu quả bởi tư liệu để tuyên truyền là các chỉ thị, nghị quyết
trực tiếp của cấp trên hoặc đã được thể hiện trên các cơ quan ngôn luận của trung
ương hay địa phương (truyền thông, báo chí). Báo cáo viên (BCV) trong TTM phải
là người nắm vững các nội dung của văn bản viết sau đó sử dụng lời nói của mình
để truyền đạt những nội dung đó trực tiếp cho người nghe. Do vậy, có thể nói, TTM
là hình thức tuyên truyền trực tiếp, hiệu quả có thể trình bày toàn diện và phân tích

tạo ra mối quan hệ đồng cảm, gần gũi giữa người nói với người nghe mà còn để lại
trong người nghe những ấn tượng sâu sắc về một phong cách, "cái duyên", sức hấp
dẫn của mỗi con người. Theo Lênin: “Khi được thuyết trình công khai, ta nói với
quần chúng, tiếp xúc trực tiếp với họ, được nhìn thấy họ, làm quen với họ và ảnh
hưởng tới họ theo kiểu của mình” [57, tr.36] .
Từ những tiền đề đã trình bày trên nêu trên, chúng tôi tiến hành khảo sát,
nghiên cứu đề tài luận văn: “Đặc điểm ngôn ngữ của báo cáo viên trong công tác
tuyên truyền miệng thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng” (khảo sát trong giai
đoạn từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2016). Luận văn góp phần quan trọng
giúp đội ngũ báo cáo viên sử dụng hiệu quả ngôn ngữ, nâng cao chất lượng công tác
tuyên truyền miệng của Đảng bộ Thành Phố Hải Phòng.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung
Ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí
nói chung và ngôn ngữ báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng nói riêng.
Các công trình này đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau, theo các hướng khác
nhau, song có thể khái quát thành 2 nhóm nghiên cứu sau:
Thứ nhất là nhóm tác giả đề cập tới báo chí một cách chung chung, khái quát
trên diện rộng, lướt qua các vấn đề nhưng không đi sâu vào một vấn đề nào cụ thể
(ngôn ngữ trên một dạng báo cụ thể: báo in, báo điện tử, …) như: Một số vấn đề về
sử dụng ngôn từ trên báo chí (Hoàng Anh), Ngôn ngữ báo chí (Vũ Quang Hào),…


3
Trong cuốn sách Ngôn ngữ báo chí, tác giả Vũ Quang Hào nêu ra những vấn đề cơ
bản nhất của ngôn ngữ báo chí. Sách này đề cập đến các nội dung như: ngôn ngữ
chuẩn mực của báo chí, ngôn ngữ các phong cách báo chí, ngôn ngữ của tên riêng
trên báo chí, ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học, danh pháp khoa học, ký hiệu khoa
học, chữ tắt và số liệu trên báo chí, ngôn ngữ tít báo, ngôn ngữ phát thanh…cho đến
ngôn ngữ quảng cáo báo và quảng bá báo chí được tác giả trình bày và lý giải một

chất liệu văn học trên báo chí: Đôi nét về chữ và nghĩa trên báo "Giáo dục và thời
đại chủ nhật" (Ngô Gia Thi); Việc sử dụng chất liệu văn học trong tác phẩm báo
chí (Hoàng Anh); Bước đầu xem xét đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ mới tiếng Việt
trên báo chí (Huỳnh Văn Tài)…
Về mặt ngữ dụng, xem xét ngôn ngữ báo chí trên bình diện dụng học là
một hướng nghiên cứu rất hấp dẫn và thú vị, thường hướng đến các thao tác nghề
nghiệp – viết làm sao cho sâu sắc, hấp dẫn, hiệu quả cao. Các nội dung nghiên
cứu liên quan tới ngữ dụng có thể kể đến là: cách giật tít, chất hài trên báo chí,
hiện tượng bất thường trên báo, xảo thuật ngôn từ và đánh tráo khái niệm, như:
Hiện tượng bất thường được xem như biện pháp hấp dẫn ngôn ngữ báo chí
(Hoàng Trọng Phiến); Món “khai vị” trong một bài báo (Trần Quang), Nhờ đâu
tiêu đề bài viết có sức hấp dẫn (Hồ Lê)…
Về ngữ âm, có không nhiều các công trình nghiên cứu ngôn ngữ báo trên
bình diện này: dạng thức nói trên truyền hình, nguyên tắc đọc chữ tắt…như:
Dạng thức nói trên truyền hình (Nguyễn Bá Kỷ); Ngôn ngữ của người dẫn
chương trình truyền hình (Lê Thị Phong Lan); Ngôn ngữ của người dẫn chương
trình trò chơi trên truyền hình (Hoàng Anh); Những kĩ năng về sử dụng ngôn
ngữ trong truyền thông đại chúng (Hoàng Anh); Ngôn ngữ truyền hình Việt Nam
(Mai Thị Minh Thảo) ...
Xét về cấp độ ngôn ngữ, các nghiên cứu ngôn ngữ báo chí đã đề cập đến các
cấp độ: từ, ngữ, cú, câu, văn bản (diễn ngôn). Các trích dẫn, tít báo (tiêu đề báo),
cách mở đầu, cách triển khai, cách kết thúc, cấu trúc tin, … đều đã được quan tâm
nghiên cứu, như: Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí
tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Hòa); Cấu trúc ngôn ngữ hiển thị trên một
số kênh tin tức nước ngoài (Nguyễn Đình Thuận)…
Xét về mặt phong cách ngôn ngữ, có thể thấy phong cách ngôn ngữ báo chí là
một trong số các phong cách chức năng ngôn ngữ, nó có những đặc điểm, quy phạm
riêng phân biệt với các phong cách chức năng khác (phong cách ngôn ngữ hành
chính, phong cách nghệ thuật, phong cách khoa học,…). Bên cạnh những điểm chung


công cụ quan trọng nhất đối trong việc thực hiện chức năng truyền tin của báo chí.
Đây có thể xem là cơ sở soi rọi cho việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn sử dụng ngôn ngữ trên các báo chí hiện nay.


6
2.2. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của báo cáo viên trong tuyên truyền
miệng (báo nói) thuộc Đảng bộ Hải Phòng
Nghiên cứu về báo nói nói riêng và báo chí Hải Phòng nói chung có thể kể
đến công trình do Sở Thông tin-Truyền thông chủ trì mang tên Đề án phát triển báo
chí Hải Phòng đến năm 2020. Tuy nhiên, công trình này được nghiên cứu dưới góc
độ khoa học quản lý của Đảng và Nhà nước, chủ yếu nghiên cứu, phân tích, đưa ra
những ý tưởng về mặt quy hoạch tổng thể các cơ quan báo chí, trong đó có báo nói.
Đối với báo Hải Phòng nói chung và báo nói Hải Phòng nói riêng, vấn đề
đặc điểm ngôn ngữ mới chỉ dừng lại ở các quy định, các trao đổi chuyên môn
nghiệp vụ của nội bộ cơ quan báo Hải Phòng, trong đội ngũ phóng viên, phát
thanh viên, biên tập viên.
Năm 2013, lần đầu tiên có hai luận văn viết về đặc điểm ngôn ngữ báo chí
thể loại báo in và báo điện tử là: "Đặc điểm sử dụng từ ngữ mục chính trị, kinh tế
trên báo Hải Phòng" của Bùi Văn Kiệm và "Đặc điểm sử dụng từ ngữ chuyên mục
văn hóa, thể thao trên báo Điện tử Hải Phòng (khảo sát từ năm 2006 đến nay)" của
Hàn Ngọc Trang.
Có thể nói đây là những nghiên cứu tiên phong về đặc điểm hình thức sử dụng
ngôn ngữ đáng ghi nhận trên báo Hải Phòng.
3. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Luận văn đặt vấn đề trên cơ sở khảo sát thực trạng những đặc điểm ngôn ngữ
của BCV trong công tác TTM hay còn gọi là một hình thức đặc biệt của "báo nói"
trong cách sử dụng từ ngữ, cách sử dụng âm thanh, khuôn mẫu và những hình thức
phi ngôn ngữ đi kèm trong các bài nói của BCV tuyên truyền miệng để từ đó đưa ra

Ngoài những thao tác cơ bản như quan sát, sưu tập, lập luận theo các hướng
quy nạp, diễn dịch luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân loại, thống kê;
- Phương pháp miêu tả, so sánh, đối chiếu.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các thủ pháp phân tích ngữ nghĩa, ngữ pháp,
ngữ dụng, đối chiếu... Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp được vận dụng
linh hoạt tùy vào từng đối tượng cụ thể.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc
gồm ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến luận văn


8
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ viết của báo cáo viên trong công tác tuyên
truyền miệng thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ nói của báo cáo viên trong công tác tuyên
truyền miệng thuộc Đảng bộ Thành phố Hải Phòng


9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
1.1. Tổng quan về báo chí Việt Nam
1.1.1. Sơ lược về lịch sử phát triển của báo chí Việt Nam
Báo chí của Việt Nam ra đời tương đối muộn. Tờ báo in bằng chữ Quốc ngữ
xuất hiện vào giữa thế kỉ XIX, khởi đầu là tờ Gia Định báo (ra số đầu tiên vào ngày
1/4/1865). Một dấu mốc quan trọng của lịch sử báo chí Việt Nam là sự kiện Báo
Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên, khai sinh ra nền báo
chí cách mạng Việt Nam vào ngày 21/6/1925. Từ đó đến nay, báo chí Cách mạng

Đảng… Tuy nhiên, sau cao trào Xô Viết- Nghệ Tĩnh, cuộc khủng bố trắng của thực
dân Pháp đã khiến cho nước ta trong không khí u ám, hoang mang. Điều này ảnh
hưởng tiêu cực đến báo chí khi một lực lượng lớn nhà báo mất tinh thần; báo chí
hoạt động theo sự chỉ đạo của Nha mật thám Pháp; xuất hiện nhiều tờ báo có màu
sắc mê tín dị đoan; sự xuất hiện của báo song ngữ và dòng văn thơ bi quan, tiêu cực.
Giai đoạn 1936-1939: Thời kỳ này Đảng ta chuyển hướng đấu tranh, đưa ra
khẩu hiệu “Độc lập dân chủ”, chuẩn bị lực lượng, cơ sở vật chất cho việc làm báo;
hội truyền bá chữ Quốc ngữ đẩy mạnh hoạt động giúp tăng nhanh lực lượng bạn
đọc… Thực dân Pháp ban hành 40 văn bản về báo chí nhằm kiểm soát một cách
khôn khéo Báo chí Việt Nam.
Báo chí nước ta thời gian này phát triển tăng vọt về số lượng, là thời kì bùng
nổ nhiều thể loại báo chí mới. Đọc báo trở thành một sinh hoạt tư tưởng không thể
thiếu của phần đông người Việt.
Giai đoạn 1939-1945: Toàn quyền Đông Dương ra hàng loạt văn bản nhằm
thủ tiêu những quyền lợi ta vừa giành được trong cuộc vận động Dân chủ 19361939; mọi mối liên hệ với Đảng cộng sản, với các phong trào cách mạng tiến bộ đều
bị cấm ngặt, báo chí Cách mạng phải đóng cửa…
Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa đã mở ra kỉ nguyên độc lập dân tộc cho nước ta, tạo điều kiện thuận lợi
cho sự phát triển của Báo chí.
1.1.1.2. Giai đoạn từ 1945 đến năm 1954
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công với việc thành lập Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, báo chí Cách mạng Việt Nam có thời cơ phát triển mới
đồng thời cũng nhận thêm những nhiệm vụ nặng nề. Sự ra đời của Đài Phát thanh
Tiếng nói Việt Nam và hãng Thông tấn Quốc gia đã mang lại diện mạo mới cho hệ
thống báo chí Cách mạng Việt Nam. Cả hệ thống báo chí, đặc biệt là báo chí Cách


11
mạng đã lên đường tiến hành kháng chiến chống Pháp. Chính trong thử thách khắc
nghiệt đó, hàng loạt tờ báo đã ra đời như: Sự thật, Nhân dân, Văn nghệ, Quân đội


12
phát triển. Chỉ trong khoảng 20 năm đổi mới, nền báo chí đã lớn lên cả chục lần, đã
có những bước phát triển chưa từng thấy về công nghệ và kĩ thuật, về quy mô ảnh
hưởng cũng như trình độ tác nghiệp. Ở một số mặt, báo chí đã bắt kịp trình độ phát
triển hiện đại, hội nhập với khu vực và quốc tế...
Ở Việt Nam, sự phát triển của hệ thống cơ quan truyền thông đại chúng hiện
nay có thể nói là vô cùng lớn mạnh. Theo đánh giá, thống kê trong Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng năm 2016:
- Về báo chí in: Hiện cả nước có 857 cơ quan báo chí (gồm 199 báo in, 658
tạp chí); 01 hãng thông tấn quốc gia – TTX VN;
- Về Phát thanh - truyền hình (báo nói, báo hình): Hiện cả nước có 67 đài
PTTH (02 đài quốc gia là Đài Truyền hình VN, Đài Tiếng nói VN; 64 đài địa
phương). Số kênh chương trình PTTH quảng bá là 183 kênh; kênh chương trình
truyền hình trả tiền là 75 kênh .
- Cả nước có khoảng 48.000 nhà báo, báo cáo viên, phóng viên được cấp thẻ
hành nghề. Điều này không chỉ cho thấy sự lớn mạnh của báo chí nước ta mà còn
thấy được vai trò của báo chí trong việc thực hiện chức năng là cơ quan ngôn luận
của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và là diễn đàn của nhân dân.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra khẩn trương, sôi động,
với sự tham gia hoạt động của nhiều lực lượng, trong đó báo chí có vai trò vô cùng
quan trọng. Đội ngũ nhà báo, báo cáo viên, phóng viên phải không ngừng rèn luyện,
nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn. Cần nâng cao năng lực lãnh
đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đối với báo chí và hệ thống hội nhà báo các
cấp, thực hiện giám sát đối với hoạt động báo chí. Đồng thời, không ngừng tổng kết
thực tiễn, đánh giá hoạt động, đúc rút kinh nghiệm qua mỗi chặng đường hoạt động.
Đó là cơ sở cho việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí, những người sẽ kế
tục sự nghiệp các thế hệ nhà báo cha anh, xây dựng nền báo chí Việt Nam phát triển
lớn mạnh và hiện đại hơn.
1.1.2. Các thể loại báo chí tiêu biểu

hiện cơ bản và sinh động nhất đặc điểm của nhóm.
Nhóm các thể loại Tài liệu – nghệ thuật: Nhóm này mang đặc trưng không
hoàn toàn giống hai nhóm trên, nó có tính sinh động hơn, mô tả một cách có hình
ảnh, có cảm xúc về những sự thật của đời sống. Nhóm này phản ánh một cách linh
hoạt kết hợp được đặc điểm bên ngoài và bên trong của báo chí. Phóng sự được coi
là hạt nhân của nhóm này, ngoài ra nhóm này còn có các thể loại chất văn học như


14
phỏng vấn chân dung, ký chính luận. Một điều đáng chú ý là một dạng của tiểu
phẩm cũng có thể xếp vào nhóm này.
1.1.2.2. Phân loại báo chí dựa vào phương thức truyền thông
Sự ra đời và phát triển của báo chí không chỉ phụ thuộc vào nội dung thông
tin giao tiếp mà còn phụ thuộc vào kĩ thuật công nghệ thông tin. Trong thời đại
ngày nay, sự phát triển của khoa học, kĩ thuật; các phương tiện in ấn và đặc biệt là
công nghệ thông tin như kĩ thuật truyền phát sóng tín hiệu, máy thu thanh, thu hình,
máy tính điện tử, cáp quang đến vệ tinh nhân tạo đã đem đến cho báo chí một diện
mạo mới. Do vậy, căn cứ vào kĩ thuật và phương thức thực hiện truyền thông, về cơ
bản người ta chia truyền thông đại chúng thành 4 loại hình sau: báo in (báo viết);
báo nói; báo hình và báo điện từ (internet). Dưới đây là một số đặc điểm đặc trưng
của 4 loại hình báo chí gắn liền với phương thức truyền thông và đặc điểm sử dụng
ngôn ngữ trong việc truyền tải thông tin của mỗi loại báo đó.
a) Tuyên truyền miệng
Tuyên truyền miệng có lịch sử xuất hiện sớm nhất trong các loại hình báo mà
xã hội sử dụng. Đó là một hình thức đặc biệt của tuyên truyền, được tiến hành thông
qua sự giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền với đối tượng tuyên truyền, chủ
yếu bằng lời nói trực tiếp.
Những ưu thế đặc trưng của tuyên truyền miệng: là sự giao tiếp trực tiếp để
cung cấp và trao đổi thông tin nên sử dụng được mọi ưu thế của giao tiếp trực tiếp.
Có thể giải thích được những vấn đề mà vì một lý do nào đó không thể đưa công

thời gian đọc, trình tự đọc, tốc độ đọc, cách thức đọc, nội dung mà mình quan tâm.
- Việc lưu giữ báo in hết sức đơn giản và thuận tiện. Do đó, nó trở thành
nguồn tư liệu được lưu giữ lâu dài và nguyên bản, khi cần tra lại nội dung thông tin
gì, có thể mở xem lại.
- Việc đọc báo cũng như đọc sách mang tính truyền thống và đã trở thành
"văn hoá đọc" đối với nhiều người
Tuy nhiên, bên cạnh các ưu điểm, báo in cũng có những hạn chế nhất định:
- Khả năng cập nhật chậm hơn các loại hình báo khác. Báo in chỉ xuất hiện
vào một thời điểm cụ thể và nhất định nên thông tin chậm, thông tin đề cập chỉ là
các sự kiện, vấn đề xảy ra trong chu kì xuất bản, thông tin sau đó phải đợi thời điểm
định kì sau. Như vậy, có một khoảng trống thông tin trong báo in, hạn chế tính cập
nhật hơn so với phát thanh, truyền hình. Để khắc phục hạn chế này, trước đây,
người ta cho ra thêm số báo buổi chiều.


16
- Những người đọc được báo in thì phải biết chữ (có trình độ văn hóa nhất
định), hoặc không gặp trở ngại về thị giác. Do đó, không phải đối tượng nào trong
xã hội cũng có thể tiếp nhận được thông tin mà báo in mang lại, điều này là một hạn
chế so với phát thanh, truyền hình và đặc biệt là báo điện tử.
- Khả năng tương tác 2 chiều (người đọc – người viết) kém.
- Việc phát hành báo in phụ thuộc vào nhiều yếu tố đặc biệt là phương tiện
giao thông. Ở những nơi xa trung tâm, những người công tác và làm việc ở những
nơi xa (thám hiểm, trong rừng, trên biển…) không thể đợi thông tin từ báo in được.
c) Báo nói (phát thanh)
Khi đề cập đến báo nói, chúng ta biết rằng báo nói chủ yếu được thực hiện
dưới hai dạng thức. Đó là phát thanh bằng kỹ thuật đường truyền và diễn thuyết trực
tiếp, tuyên truyền miệng của người diễn ngôn, báo cáo viên.
Cuối những năm 30 của thế kỉ XX, kĩ thuật phát thanh FM bắt đầu phát triển
có tính chất thử nghiệm và dần dần phát triển mạnh. Hiện nay, kĩ thuật vệ tinh địa

trung, chú ý cao độ mới bắt kịp tốc độ đọc vận hành của âm thanh lời nói nếu muốn
hiểu đầy đủ nội dung thông điệp; người nghe phải phụ thuộc vào trình tự phát tin,
nghe tuần tự từ đầu đến cuối một cách bị động (không chủ động tìm thông tin cần thiết
như đối với báo in).
d) Báo hình (truyền hình)
Kĩ thuật truyền phát hình ảnh ra đời năm 1927 với chương trình truyền hình
đầu tiên qua dây dẫn đã được thực hiện giữa hai thành phố Washington và New
York với khoảng cách 250 dặm. Ngày nay, truyền hình trên thế giới đã trở nên phố
biến và có sức mạnh đặc biệt mà khó có phương tiện truyền thông nào sánh nổi. Với
sự giúp đỡ của mạng lưới vệ tinh địa tính trong không gian, các chương trình truyền
hình được truyền đi khắp thế giới bất chấp các biên giới quốc gia.
Báo hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải
thông điệp bằng hình ảnh động và âm thanh. Cội nguồn trực tiếp của truyền hình là
điện ảnh. Điện ảnh đã cũng cấp cho truyền hình những ý tưởng về một phương thức
truyền thông mới có sức thuyết phục mạnh mẽ với những đặc trưng kĩ thuật riêng.
Với sự kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh, truyền hình mang lại cho con người cảm
giác về một cuộc sống thực đang hiện ra trước mắt.
Báo hình có những ưu thế sau:
- Do báo hình sử dụng cả hình ảnh và âm thanh để chuyển tải thông tin nên
các chương trình của nó phong phú về nội dung, đa dạng hóa về chức năng, cuốn
hút và đáp ứng nhu cầu thông tin của toàn xã hội.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status