VIỆN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------------
NGUYỄN THỊ LY NA
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ PHÁP LUẬT
TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP CỦA VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------------
NGUYỄN THỊ LY NA
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ PHÁP LUẬT
TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9 22 90 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN VĂN KHANG
HÀ NỘI 2019
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUError!
Bookmark
not
defined.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........ Error! Bookmark not defined.
1.1.1.1. Nhận xét chung ................................................................................... 14
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu văn bản pháp luật trên thế giới ............... Error!
Bookmark not defined.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu văn bản pháp luật ở Việt NamError! Bookmark
not defined.
1.1.3. Văn văn bản Hiến pháp với tư cách là một đối tượng nghiên cứu của
ngôn
ngữ
học........................................................................................................... 25
1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN .................................................. 27
1.2.1. Những vấn đề chung về văn bản pháp luật ........................................... 27
1.2.1.1. Một số vấn đề về văn bản quy phạm pháp luật: ................................ 27
1.2.1.2. Một số vấn đề về ngôn ngữ pháp luật ................................................ 29
1.2.2. Khái niệm từ, ngữ, câu trong tiếng Việt ................................................. 36
1.2.2.1. Về từ, ngữ (cụm từ cố định) trong tiếng Việt ..................................... 36
1.2.3. Biến đổi ngôn ngữ.................................................................................. 45
1.2.4. Hiến pháp và các văn bản Hiến pháp ở Việt
Nam.................................................................................................................56
1.2.4.1. Định nghĩa Hiến pháp ........................................................................ 46
4
1.2.4.2. Hoàn cảnh ra đời và nội dung của các văn bản Hiến pháp ở Việt Nam
......................................................................................................................... 47
2.2.2.3. Sử dụng câu đơn hai thành phần ................................................................109
2.2.2.4. Sử dụng câu ghép chính phụ .......................................................................110
2.2.2.5. Sử dụng phổ biến cấu trúc tỉnh lược...........................................................112
2.2.2.6. Về việc sử dụng dấu câu ..............................................................................113
2.2.2.7. Hiện tượng đề hóa trong câu.......................................................................113
2.3. TIỂU KẾT .............................................................................................. 115
CHƯƠNG 3
5
BIẾN ĐỔI TỪ NGỮ GIỮA CÁC BẢN HIẾN PHÁP ................................. 118
3.1. DẪN NHẬP ........................................................................................... 118
3.2. BIẾN ĐỔI TỪ NGỮ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI; QUYỀN VÀ NGHĨA
VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN ................................................................. 121
3.2.1. Biến đổi từ ngữ về quyền con người ................................................... 121
3.2.2. Biến đổi từ ngữ về quyền công dân ..................................................... 124
3.2.2.1. Biến đổi từ ngữ về quyền bình đẳng nam nữ.............................................125
3.2.2.2. Biến đổi từ ngữ về quyền có nhà ở ............Error! Bookmark not defined.
3.2.2.3. Biến đổi từ ngữ về quyền của trẻ em .........Error! Bookmark not defined.
3.3. BIẾN ĐỔI TỪ NGỮ VỀ CHẾ ĐỊNH KINH TẾ .................................. 126
3.3.1. Biến đổi từ ngữ về chế độ kinh tế ..................................................................126
3.3.2. Biến đổi từ ngữ về hình thức sở hữu..............................................................130
3.3.3. Biến đổi từ ngữ về thành phần kinh tế ...........................................................133
3.4. BIẾN ĐỔI TỪ NGỮ VỀ CHẾ ĐỊNH HỆ THỐNG CƠ QUAN NHÀ
NƯỚC .......................................................................................................... 135
3.5. Biến đổi ngôn ngữ về những chế định về ngôn ngữ..........................
3.6. TIỂU KẾT .............................................................................................. 141
KẾT LUẬN ................................................................................................... 143
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 147
1.2. Sự phát triển của ngôn ngữ, trong đó có sự biến đổi của ngôn ngữ
từ lâu đã được giới nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm đích đáng. Ngôn ngữ
học đại cương đã khẳng định "Ngôn ngữ phát triển từ từ, liên tục, không đột
biến nhảy vọt. Sự phát triển của ngôn ngữ không theo con đường phá huỷ
ngôn ngữ hiện có và tạo ra ngôn ngữ mới, mà theo con đường phát triển và
cải tiến những yếu tố cơ bản của ngôn ngữ hiện có. Và sự chuyển biến từ tính
chất này của ngôn ngữ qua tính chất khác, tuyệt nhiên không diễn ra bằng
cách bùng nổ, đột biến, phá huỷ cái cũ và tạo lập cái mới, mà bằng cách tuần
tự, lâu dài, tích góp những yếu tố của tính chất mới, của cơ cấu mới của ngôn
ngữ, bằng cách tiêu ma dần những yếu tố của tính chất cũ" [12, tr. 42]
Xã hội nào thì ngôn ngữ ấy. Ngôn ngữ luôn luôn vận động thay đổi
biến độngvà bị chi phối bởi sự phát triển của xã hội và ngược lại những thay
đổi trong ngôn ngữ cũng có tác động ngược lại đến sự phát triển của xã hội.
Ngôn ngữ trong lĩnh vực pháp luật cũng không nằm ngoài quy luật ấy, cũng
chịu sự chi phối bởi hệ thống các quy tắc xử sự chung, được nhà nước đặt ra
và bảo đảm thực hiện.
Ngày 28/11/2013, Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua văn bản Hiến pháp mới. Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay,
Việt Nam đã có 5 văn bản Hiến pháp, đó là các văn bản Hiến pháp sau: Hiến
pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 (Hiến pháp 1946), Hiến
pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 (Hiến pháp 1959), Hiến
pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 (Hiến pháp 1980),
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (có sửa đổi,
bổ sung 2001) (Hiến pháp 1992) và Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 2013 (Hiến pháp 2013).
Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu
một cách cụ thể và toàn diện các đặc điểm ngôn ngữ pháp luật của thể loại
văn bản này, hơn nữa cũng chưa có công trình nào xem xét sự biến đổi biến
trong các văn bản Hiến pháp.
- Tìm hiểu sự biển đổi ngôn ngữ pháp luật (cụ thể là từ ngữ) giữa các
văn bản Hiến pháp và nguyên nhân của sự biến đổi biến động đó dưới tác
động của các nhân tố xã hội.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án trước hết là những phương tiện ngôn
ngữ được sử dụng trong các văn bản Hiến pháp nhằm thể hiện rõ đặc điểm
ngôn ngữ pháp luật của thể loại văn bản này.
Luận án cũng sẽ tập trung xem xét sự biến đổi biến động từ ngữ trong 5
văn bản Hiến pháp qua các thời kỳ lịch sử khác nhau ở các chế định về quyền
con người, quyền và nghĩa vụ công dân; chế độ kinh tế; chế định về các hệ
thống cơ quan nhà nước; chế định vể các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ. Bên
9
cạnh đó, luận án sẽ tìm hiểu sự ảnh hưởng, tác động của các nhân tố xã hội
đến những biến đổi biến động từ ngữ đó.
Ngữ liệu để nghiên cứu của luận án là 5 văn bản Hiến pháp: Hiến pháp
1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001)
và Hiến pháp 2013.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp sau:
- Thủ pháp thống kê nhằm đưa ra các số liệu về các đơn vị ngôn ngữ
xuất hiện trong Hiến pháp để từ đó rút ra những nhận xét về lượng của các
đơn vị từ ngữ, câu xuất hiện trong Hiến pháp. Đây là những cơ sở cho việc
miêu tả, phân tích và đưa ra những kết luận của luận án.
- Phương pháp miêu tả được sử dụng để mô tả về bức tranh ngôn ngữ,
những đặc điểm ngôn ngữ pháp luật trong Hiến pháp.
- Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp được sử dụng để xác định và
trong những hoàn cảnh giao tiếp tiếng nhất định.
5. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của luận án được xem là những đóng góp
mới nhất để chỉ ra được đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật trong Hiến pháp thể loại văn bản đặc thù mang tính chính xác, khái quát, bao trùm, co dãn của
văn bản pháp luật trong khi các đề tài trước đây chỉ mới chỉ ra được đặc điểm
ngôn ngữ pháp luật trong các bộ luật cụ thể.
Thứ hai, luận án chỉ ra được sự thay đổi ngôn ngữ pháp luật trong các văn
bản Hiến pháp là do sự vận động thay đổi biến độngxã hội, do nhận thức của
Đảng và Nhà nước cũng như áp lực về việc phải thay đổi Hiến pháp của cộng
đồng quốc tế dưới ánh sáng của lí thuyết ngôn ngữ học xã hội.
Thứ ba, luận án chỉ ra nguyên nhân của sự thay đổi ngôn ngữ trong Hiến pháp
trước hết là do sự vận động thay đổi biến độngxã hội bên trong quốc gia và trên
trường quốc tế bên cạnh sự thay đổi do nhận thức của Đảng và Nhà nước về việc
xây dựng Hiến pháp.
Thứ tư, luận án cho thấy tính quy định xã hội của ngôn ngữ pháp luật
trong bối cảnh Hiến pháp sửa đổi của một quốc gia cụ thể.
11
6. Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
6.1. Về ý nghĩa lí luận
Luận án góp phần làm sáng tỏ luận đề lý thuyết của ngôn ngữ học xã
hội về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội, xã hội thay đổi sẽ dẫn đến sự
thay đổi của ngôn ngữ.
6.2. Về ý nghĩa thực tiễn
Luận án góp phần cung cấp cho ngôn ngữ học một số cứ liệu về đặc
điểm từ ngữ, câu được sử dụng trong các văn bản Hiến pháp. Kết quả
nghiên cứu của đề tài bước đầu sẽ giúp nhận diện được một số đặc trưng cơ
bản, cốt yếu của ngôn ngữ Hiến pháp Việt Nam.
13
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản pháp luật trên thế giới
Ngôn ngữ học pháp luật (Forensic linguistics, Legal Language) ra đời
từ những năm đầu 60 của thế kỉ XX và càng ngày càng khẳng định vị trí cũng
như những đóng góp đích thực của nó trong lĩnh vực ứng dụng ngôn ngữ.
Hiện nay, trên thế giới, ngôn ngữ học pháp luật không chỉ được nghiên cứu lí
thuyết mà còn được giảng dạy cho đối tượng học viên sau đại học hoặc những
người nghiên cứu chuyên sâu. Chẳng hạn, Trung tâm Ngôn ngữ học pháp luật
(Đại học Aston, Birmingham, nước Anh) thường niên tổ chức những khóa
học về Ngôn ngữ học pháp luật do giáo sư Malcolm Coulthard phụ trách từ
năm 2000 đến nay1. Có thể kể ra các nhà ngôn ngữ tiêu biểu đi theo hướng
nghiên cứu này như Jan Svartvik (1968), Peter French (1990), Roger Shuy
(1997), Coulthard, M. và Johnson, A. (2007), Gibbons và M.Teresa Turel
(2008), Olsson John (2009)…
Trên thế giới, nghiên cứu Ngôn ngữ học pháp luật quan tâm đến rất
nhiều vấn đề. Theo Gibbons và M.Teresa Turel [57] những phương diện của
ngôn ngữ học pháp luật gồm:
1) Ngôn ngữ văn bản pháp luật, chủ yếu là ngôn ngữ lập pháp;
2) Diễn ngôn pháp luật ở dạng nói, đặc biệt là ngôn ngữ tại những phiên
tòa và ngôn ngữ thẩm vấn của cảnh sát, cung cấp những bằng chứng ngôn ngữ
học trong giao tiếp tiếng ;
3) Dạy và học ngôn ngữ pháp luật ở dạng nói và dạng viết; giải thích; và
dịch thuật pháp luật.
nước Anh chịu nhiều ảnh hưởng của ngôn ngữ La tinh và ngôn ngữ Pháp –
ngôn ngữ của những người Saxony và Scandinavia xâm lược mang đến. Hệ
quả là ngôn ngữ pháp luật của Anh mang những đặc điểm riêng: Một số ít
trường hợp từ được phát âm khác nhau hoặc viết chính tả khác nhau tùy từng
người nói; câu dài trường cú và phức tạp, chứa nhiều mệnh đề; cấu trúc câu
bị động, ngắn; hệ thống từ vựng nhiều và riêng biệt… Về mặt phong cách
15
chức năng, ngôn ngữ luật của Anh thường là ngôn ngữ cổ, nghi thức, phi cá
thể và dài dòng.
Có hai nội dung lớn về ngôn ngữ trong văn bản pháp luật được quan
tâm đó là: 1/ Đặc trưng ngôn ngữ cơ bản của hệ thống văn bản pháp luật và 2/
Nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật để ứng dụng trong dịch thuật.
Về miêu tả những đặc trưng ngôn ngữ cơ bản của văn bản pháp luật.
Có thể nói, khởi đầu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ văn bản pháp luật là
Melinkoff 1963 với cuốn The Language of the Law (1963). Tác giả được
xem là người đầu tiên đặt viên gạch trong địa hạt ngôn ngữ học pháp luật khi
nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong các văn bản pháp luật. Với cách đặt
vấn đề “The law is a profession of words” (Luật là công việc của ngôn từ), tác
giả đã khẳng định pháp luật được tạo nên bởi chất liệu ngôn ngữ, nên nghiên
cứu pháp luật không thể không nghiên cứu ngôn ngữ sử dụng trong pháp luật.
Theo tác giả, nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật cần tập trung vào một số vấn đề
chính như sau:
- Tìm ra những đặc điểm đặc trưng của ngôn ngữ được sử dụng trong
pháp luật;
- Chỉ ra sự khác biệt của việc sử dụng ngôn ngữ trong thể loại văn bản
này so với các thể loại văn bản khác.
Tác giả đặt vấn đề “so với ngôn ngữ được sử dụng trong đời sống thì
ngôn ngữ trong văn bản pháp luật có điểm gì khác biệt trong khi ngôn ngữ
pháp luật và những chủ đề gây tranh cãi khi chuyển ngữ giữa hai hệ thống
luật khác nhau. Thử thách thật sự nằm ở tính phức tạp và trừu tượng của ngôn
ngữ pháp luật. Ông cũng đề xuất những phương pháp đa dạng mà các nhà
dịch thuật sử dụng. Cùng mối quan tâm với Alcaraz Varo, tác giả Alenka
Kocbek của đại học Primorska có bài “Khung văn hóa của các văn bản pháp
luật” (The Cultural Embeddedness of Legal Texts) đăng trên tạp chí Ngôn
ngữ và dịch thuật (Journal of Language & Translation) số 9 ngày 2/9/2008
[62]. Bài viết đề cập đến vai trò của khung văn hóa trong hoạt động dịch thuật
ngôn ngữ pháp luật từ ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích, trong bối cảnh
tiếng Anh vốn được coi là ngôn ngữ chung trên toàn thế giới. Tác giả tìm một
17
số giải pháp cho sự không tương ứng về những khái niệm và thuật ngữ pháp
luật trong hai ngôn ngữ như sáng tạo ra những thuật ngữ mới và nâng cao
hiểu biết về luật của ngôn ngữ đích...
Và cũng nghiên cứu ngôn ngữ học pháp luật, gần 20 năm trở lại đây ở
Trung Quốc vấn đề này cũng được quan tâm thỏa đáng, tập trung và hai lĩnh
vực: a) nghiên cứu lý luận ngôn ngữ học pháp luật như: xác định vị trí của
chuyên ngành ngôn ngữ học pháp luật, nội dung nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu của ngôn ngữ học pháp luật; về đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật:
văn bản, phong cách và tu từ pháp luật, tính chính xác và hàm ẩn, quy phạm
hóa ngôn ngữ pháp luật, đặc điểm từ ngữ trong ngôn ngữ pháp luật; b) nghiên
cứu ngôn ngữ học pháp luật kết hợp với thực tiễn tư pháp: nghiên cứu ngôn
ngữ pháp luật dựa trên hành vi ngôn ngữ, nghiên cứu ngôn ngữ sử dụng trong
tòa án, xây dựng kho ngữ liệu về văn bản pháp luật. [Vũ Thị Minh Huyền,
2017, tr.19-21].
Như vậy, những kết quả của hướng nghiên cứu này có thể ứng dụng vào
việc dạy và học phong cách ngôn ngữ luật trong các trường luật, hữu ích với
cả những dịch giả trong lĩnh vực ngôn ngữ pháp luật, những luật sư có nhu
học tiếng Việt [19] và Lưu Kiếm Thanh (2010) trong Ngôn ngữ văn bản quản
lý hành chính nhà nước [37] đều xếp văn bản pháp luật vào phong cách hành
chính - công vụ. Vũ Thị Sao Chi (2012) trong Đề tài cấp Bộ Nghiên cứu, khảo
sát ngôn ngữ hành chính tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ
ở Việt Nam) [1] và Phạm Thị Ninh (2014) trong luận án “Phong cách ngôn
ngữ hành chính” [31], Vũ Thị Sao Chi (2015) trong "Phong cách ngôn ngữ
hành chính" và (2017) trong "Sơ thảo Phong cách học định lượng tiếng Việt
hiện đại" cũng nghiên cứu ngôn ngữ trong các văn bản hành chính theo
hướng phong cách học như thế này. Các công trình này đều tập trung phân
loại và nêu lên một số đặc điểm về từ vựng, cú pháp và văn bản pháp luật với
tư cách là một tiểu loại của “Phong cách hành chính-công vụ”. Do đó theo các
tác giả này, văn bản luật cũng mang đầy đủ các đặc điểm của “Phong cách
hành chính-công vụ”.
19
Nguyễn Hữu Đạt [5] xác định các văn bản như: Hiến pháp, các bộ luật,
sắc lệnh, nghị định...là một tiểu loại của phong cách hành chính-công vụ.
Trong công trình của mình, tác giả chỉ rõ, đây là phong cách được sử dụng để
trao đổi những công việc hành chính sự vụ hàng ngày giữa các cơ quan hành
chính, các đoàn thể, các cấp từ trung ương xuống địa phương với các thành
viên và bộ phận xã hội có liên quan. Tác giả còn chỉ ra một số đặc điểm của
phong cách này là tính khuôn mẫu đồng loạt; tính phi biểu cảm; tính hệ thống,
đồng bộ và thống nhất; tính ngắn gọn, súc tích và không đa nghĩa; tính trang
trọng và tính quốc tế; tính quy ước và khả biến theo thời gian.
Cù Đình Tú [44] cũng xếp các văn văn bản Hiến pháp, luật, bộ luật,
điều lệ, nội quy...vào phong cách hành chính tiếng Việt và chỉ ra những đặc
điểm riêng của phong cách này là mang tính thể thức, nghiêm trang về hình
thức.
Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa [19] nghiên cứu sâu và hệ thống
Thâm, Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Hàm, Trần Anh Nhân, Nguyễn Anh
Tú, Nguyễn Đăng Dung và Hoàng Trọng Phiến... Đáng chú ý là phần nghiên
cứu về các văn bản pháp luật thuộc loại “Văn bản quản lý nhà nước” của
Vương Đình Quyền và Nguyễn Văn Hàm [33], Nguyễn Đăng Dung và Hoàng
Trọng Phiến. Các tác giả này đã hệ thống được các loại văn bản pháp luật
dưới tên gọi “Văn bản quản lý nhà nước” gồm Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh,
Nghị quyết...và chỉ ra những đặc điểm quan trọng của loại văn bản này. Tuy
nhiên, những công trình kể trên không tập trung phân loại văn bản và mô tả
thể thức, cấu trúc văn bản, đề ra các yêu cầu và quy trình của việc soạn thảo
các văn bản pháp luật tiếng Việt. Đây sẽ là những tài liệu quan trọng khi
nghiên cứu đặc điểm văn bản pháp luật. Các công trình này đều tập trung
phân loại và nêu lên một số đặc điểm về từ vựng, cú pháp và văn bản của văn
bản pháp luật với tư cách là một tiểu loại của "phong cách hành chính - công
vụ". Theo các tác giả này, văn bản luật cũng mang đầy đủ các đặc điểm của
"phong cách hành chính - công vụ". Các công trình kể trên nghiên cứu chung
về phong cách và các phong cách chức năng tiếng Việt, cho nên xét riêng về
phong cách ngôn ngữ hành chính thì chỉ mới dừng lại ở những nét phác thảo,
21
khái quát các đặc trưng phong cách và một vài đặc điểm của việc sử dụng các
phương tiện ngôn ngữ.
(ii) Hướng nghiên cứu theo phương pháp phân tích diễn ngôn
Hướng nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật theo phương pháp phân tích diễn
ngôn là một khuynh hướng xuất hiện trong khoảng 20 năm gần đây. Tiêu biểu
có thể kể đến luận án Lê Hùng Tiến (1998) "Đặc điểm ngôn ngữ pháp luật
trong văn bản pháp luật"; luận án “Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản
quản lí nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn” của Nguyễn Thị Hà
(2001); luận án “Phân tích ngôn ngữ văn bản pháp luật qua văn văn bản Hiến
pháp Hoa Kì và Hiến pháp Việt Nam” của Dương Thị Hiền (2008); luận án
những năm 1998, Lê Hùng Tiến mới chỉ dừng lại ở việc ứng dụng phương
pháp phân tích diễn ngôn ứng dụng thì năm 2008 Dương Thị Hiền đã sử dụng
phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán để chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ
trong Hiến pháp Hoa Kỳ và so sánh với các đặc điểm ngôn ngữ trong Hiến
pháp Việt Nam 1992. Việc phân tích và so sánh hai văn bản pháp luật của hai
quốc gia nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu đặc điểm của ngôn ngữ pháp luật và
dịch thuật giữa hai ngôn ngữ, từ đó ứng dụng việc nâng cao năng lực xây
dựng pháp luật.
Có thể nói tiếp theo hai tác giả trên thì sau này đã có nhiều công trình
tiếp nối ứng dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu các thể loại
văn bản khác nhau, không chỉ là văn bản pháp luật. Nó tạo ra một luồng
không khí mới trong nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam.
(iii) Hướng nghiên cứu theo lí thuyết hành động ngôn từ
Hiện nay, có một số đề tài đã nghiên cứu về hành động ngôn từ cầu
khiến trong văn bản hành chính (trong đó bao gồm văn bản quy phạm pháp
luật) dưới ánh sáng của lí thuyết Hành động ngôn từ. Lí thuyết hành động
ngôn từ là lí thuyết xương sống của Ngữ dụng học được áp dụng vào nghiên
cứu các văn bản hành chính như luận văn “Câu cầu khiến trong văn bản hành
chính” của Nguyễn Thị Thanh Nga [29], luận văn “Hành động ngôn từ điều
23
khiển trong văn bản hành chính” của Phan Xuân Dũng [4]…Có thể thấy,
chức năng nổi trội của văn bản pháp luật nói riêng, văn bản hành chính nói
chung là chức năng pháp lí, chức năng điều hành và quản lí xã hội nên hành
động ngôn từ cầu khiến mang tính đặc trưng cho thể loại văn bản này. Nghiên
cứu hành động ngôn từ cầu khiến cũng góp phần nâng cao nhận thức, năng
lực sử dụng ngôn từ trong văn bản hành chính nói chung, văn bản quy phạm
pháp luật nói riêng.
(iv) Hướng nghiên cứu sự biến đổi ngôn ngữ trong các văn bản
Có thể nói ngôn ngữ học pháp luật, đặc biệt là ngôn ngữ trong hoạt
động lập pháp, vẫn còn là một mảnh đất còn bỏ ngỏ trong Việt ngữ học.
Trong tương lai, cần thiết phải có những nghiên cứu trên cơ sở các kết quả
phân tích, kết hợp tri thức ngôn ngữ học và luật học, để góp phần hoàn thiện
pháp luật lập pháp, từng bước nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội
phạm, đồng thời đảm bảo các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước và xã hội.
1.1.1.4. Nghiên cứu văn văn bản Hiến pháp từ góc độ ngôn ngữ học
Văn văn bản Hiến pháp với tư cách là một đối tượng nghiên cứu của
ngôn ngữ học ở Việt Nam, đã được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu ở các
mặt sau:
Thứ nhất, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu các chế định của Nhà nước
Việt Nam về ngôn ngữ được thể hiện trong Hiến pháp (Nguyễn Thiện Giáp,
2004; Nguyễn Văn Khang, 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015; Nguyễn Thị
Ly Na, 2010).
Thứ hai, luận án của Dương Thị Hiền, 2008, đã ứng dụng lí thuyết phân
tích diễn ngôn phê phán đã phân tích các phương tiện ngôn ngữ thể hiện 3 siêu
chức năng ngôn ngữ của Hiến pháp Hoa Kỳ có so sánh với Hiến pháp Việt Nam
1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) đó là các chức năng tư tưởng, chức năng liên nhân
và chức năng tạo lập văn bản.
25