1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ có vai trò đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ em
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt trong xã hội loài người. Nhờ có ngôn ngữ mà con người
có thể phản ánh thế giới một cách lý tính, gián tiếp và khái quát như A.R.Luria đã so sánh: “Động vật có một
thế giới - thế giới của những vật thể và hoàn cảnh được tri giác một cách cảm tính; con người có hai thế
giới, trong đó có thế giới của những vật thể được tri giác một cách trực tiếp và thế giới của những hình ảnh,
vật thể, những quan hệ, những tính chất mà chúng được xác định bằng các từ.” . Cũng nhờ có ngôn ngữ mà
con người có thể giao tiếp với nhau một cách thuận lợi, dễ dàng nhất, làm cơ sở để liên kết và tổ chức xã hội
loài người. Vì vậy, Lê-nin cũng đã từng khẳng định “ngôn ngữ là công cụ giao tiếp trọng yếu nhất trong xã
hội loài người”.
Đối với trẻ em nói chung, và trẻ 9 - 18 tháng tuổi nói riêng, trước khi có ngôn ngữ, trẻ cũng đã
giao tiếp với người lớn nhưng chủ yếu thông qua các phương tiện phi ngôn ngữ và mang tính cảm xúc.
Khi lĩnh hội được ngôn ngữ, thì ngôn ngữ trở thành phương tiện giúp hoạt động giao tiếp của trẻ mang
tính mục đích, tính ý hướng rõ ràng hơn, truyền tải lượng thông tin phong phú, chính xác hơn. Hơn thế
nữa, ngôn ngữ giúp trẻ thúc đẩy được nhanh hơn, hiệu quả hơn quá trình xã hội hóa bản thân, để hòa
nhập vào xã hội loài người với tư cách là một thành viên thuộc xã hội đó.
1.2 Tương tác mẫu tính là một trong những nhân tố quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-
18 tháng tuổi.
Trong quá trình phát triển của nhân loại nói chung, và phát triển ngôn ngữ của con người nói
riêng, yếu tố di truyền hay yếu tố hoàn cảnh đóng vai trò quyết định trong sự phát triển ngôn ngữ của
con người nói chung và trẻ em nói riêng? Những câu hỏi này là đề tài tranh luận diễn ra trong nhiều thế
kỉ nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều nhận thấy việc lĩnh hội ngôn ngữ một phần phụ thuộc vào
năng lực bẩm sinh của trẻ nhưng hoàn cảnh cũng có những tác động không nhỏ thông qua các kiểu kinh
nghiệm ngôn ngữ mà trẻ có thể tiếp xúc. Như đã nêu, hoàn cảnh tác động không nhỏ tới sự lĩnh hội ngôn
ngữ của trẻ, nếu không giao tiếp bằng ngôn ngữ với những người xung quanh thì việc lĩnh hội ngôn từ cũng
trở nên khó khăn. Trong số các tác nhân bên ngoài ảnh hưởng tới sự lĩnh hội ngôn ngữ, tương tác mẫu tính
được xem là tác nhân đầu tiên và quan trọng nhất làm xuất hiện các mốc đánh dấu sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ từ giai đoạn tiền ngôn ngữ sang giai đoạn ngôn ngữ chính thức.
Tương tác mẫu tính có ảnh hưởng rất lớn như vậy, nhưng trên thực tế việc tìm hiểu, nghiên cứu
với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhỏ, vì xuất phát từ thực tế là hầu như trẻ đã nói được hoặc đã được
chuẩn bị để biết nói trước khi đến trường mầm non nên sự chuẩn bị đó phần lớn thuộc về gia đình, còn
trường mầm non là nơi tiếp tục duy trì, phát huy các năng lực ngôn ngữ đó cho trẻ.
Để quá trình đổi mới giáo dục hiệu quả hơn nữa, chúng ta cần cố gắng tham khảo và vận dụng
kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để nhìn nhận lại vấn đề tương tác mẫu tính ở góc độ lí luận
chứ không chỉ đánh giá nó ở góc độ kinh nghiệm, bản năng. Bởi lẽ kiểu chăm sóc giáo dục mầm non có
một đặc thù rất riêng, đó là “cô giáo như mẹ hiền”. Và làm thế nào để “cô giáo như mẹ hiền”, góp phần
phát huy tiềm năng vốn có ở trẻ, trong đó có tiềm năng ngôn ngữ, lại rất cần đến việc tìm hiểu một cách
hệ thống và khoa học về kiểu tương tác mẫu tính cũng như vai trò của nó trong việc chuẩn bị các tiền đề
giúp trẻ lĩnh hội ngôn ngữ. Thực tế này đặt ra yêu cầu cần có những nghiên cứu khoa học tìm hiểu về
kiểu tương tác mẫu tính trong mối liên hệ với sự phát triển chung và phát triển ngôn ngữ nói riêng của
trẻ.
1.5 Thực tiễn nghiên cứu về ảnh hưởng của tương tác mẫu tính đối với sự phát triển ngôn ngữ tuổi
mầm non ở Việt Nam hiện nay còn hạn chế
Hiện nay, với những thay đổi về quan điểm giáo dục mầm non, những công trình nghiên cứu về
tương tác mẫu tính đã xuất hiện. Tuy nhiên, một mặt, trong số các nghiên cứu lý luận thì một số công
trình chưa được công bố rộng rãi, một số khác còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về các thuật ngữ
quốc tế nên có nhiều cách quan niệm khiến nội hàm khái niệm bị thu hẹp lại. Mặt khác, các công trình
nghiên cứu thực tiễn về vấn đề này còn đang rất ít. Thực trạng đó cũng đặt ra yêu cầu cần thiết phải
nghiên cứu cặn kẽ hơn về mối liên hệ giữa tương tác mẫu tính với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương
tác mẫu tính” để nghiên cứu trong luận án của mình.
3
2. Mục đích nghiên cứu
Luận án nhằm tìm hiểu thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ 9 - 18 tháng tuổi dưới tác động của
tương tác mẫu tính. Trên cơ sở đó, bước đầu đưa ra một số nội dung và biện pháp tương tác mẫu tính cụ thể
nhằm nâng cao năng lực ngôn ngữ - giao tiếp cho trẻ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu: khái niệm, nguồn gốc và đặc điểm của tương tác
mẫu tính.
Vì những đóng góp kể trên, luận án có thể làm tài liệu tham khảo giúp phụ huynh, GVMN trong việc
chăm sóc giáo dục nói chung và phát triển ngôn ngữ nói riêng ở trẻ mầm non.
9. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần tổng quan nghiên cứu, phần nội dung gồm 3chương và cuối cùng là
phần kết luận, đề xuất.
4
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
VÀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẦM NON
THÔNG QUA TƯƠNG TÁC MẪU TÍNH
1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
1.1. Những quan điểm cơ bản về sự phát triển ngôn ngữ
1.1.1 Thuyết bẩm sinh (Nativist Theories)
Nội dung của thuyết này cho rằng ngôn ngữ là năng lực bẩm sinh đặc thù của loài người, thể hiện
đặc biệt ở trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh lĩnh hội ngôn ngữ thông qua một chương trình di truyền học. Do đó sự
lĩnh hội ngôn ngữ khác với các quá trình nhận thức khác. Noam Chomsky, đại biểu của thuyết bẩm sinh đã
chỉ ra công cụ lĩnh hội ngôn ngữ (the language acquisition device –LAD[79]). Quan điểm này nhấn mạnh
trẻ em được sinh ra với sự hiểu biết cơ bản về ngôn ngữ và với một năng lực trí tuệ sẵn có để lĩnh hội ngôn
ngữ một cách thuận lợi và nhanh chóng.
1.1.2 Thuyết học tập (Learning Theories)
Thuyết học tập lại cho rằng năng lực ngôn ngữ là do học tập mà có được. Đại biểu của thuyết này là
Skinner, Pavlov,….Các nhà khoa học theo thuyết này cho rằng ngôn ngữ được lĩnh hội thông qua một quá
trình cơ bản như liên tưởng, củng cố và bắt chước (associations, reinforcement and imitation). Thuyết này
còn được gọi bởi một cái tên khác là Thuyết hành vi chủ nghĩa. Tuy vậy giới hạn của thuyết học tập là những
quá trình mà thuyết này đề ra chưa tính toán một cách đầy đủ đến các yếu tố liên quan tới quá trình phát triển
ngôn ngữ, bởi lẽ nó quá đơn giản để giải thích sự phức tạp của bản thân ngôn ngữ.
1.1.3 Thuyết nhận thức( Cognitive theory )
Thuyết nhận thức cho rằng sự phát triển của ngôn ngữ được sự phát triển nhận thức chuẩn bị và
hậu thuẫn. Piaget, J. và những nghiên cứu về phát triển nhận thức của ông có ảnh hưởng lớn nhất đến
thuyết nhận thức. Đối với Piaget, năng lực ngôn ngữ được xem là một phần năng lực biểu tượng phổ
thông nhất, phức hợp hơn cả so với trò chơi biểu tượng, sự mô phỏng trì hoãn (延滞模倣), vẽ v.v…Sự
1.2.1.2 TTMT mang nhiều nét đặc thù như sự nhạy cảm, tính tự nhiên
Tương tác mẫu tính giữa người mẹ với trẻ khi được xét như là một quá trình thì đòi hỏi phải
mang những đặc tính nhất định phù hợp với trẻ mầm non. Những đặc tính này thể hiện ở chỗ người mẹ
thường xuyên kiểm soát, điều chỉnh được hướng nhìn và hành động của trẻ một cách gắn bó, thân thiết,
và sau đó phản ứng lại một cách tinh tế, nhạy bén, tự nhiên và phù hợp.
1.2.2 Nghiên cứu về những ảnh hưởng của tương tác mẫu tính đối với sự PTNN của trẻ mầm non
1.2.2.1 TTMT như là một cấu trúc xã hội tối ưu giữa mẹ - trẻ nhằm phát triển ngôn ngữ
Hầu hết những mô tả về cấu trúc xã hội tối ưu giữa mẹ và trẻ đã đóng góp những giả thuyết quan
trọng cho rằng những đoạn cảnh đáp ứng qua lại ngẫu nhiên và manh tính xã hội giữa mẹ và trẻ là một
nhân tố thuận lợi cho quá trình phát triển của trẻ ở giai đoạn mầm non (Moore & Dunham, 1995). Theo
đó, với quan điểm thực tiễn-xã hội trong phát triển ngôn ngữ, trẻ lĩnh hội ngôn ngữ như một phần toàn
vẹn từ những tương tác xã hội với những người xung quanh (Bruner, 1983). Bruner cũng là một trong
những người đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu hành vi giao tiếp tiền ngôn ngữ để
hiểu về quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh trẻ em đã nỗ lực để truyền đạt thông tin như
thế nào ở giai đoạn tiền ngôn ngữ.
1.2.2.2 TTMT là một nhân tố dự báo sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
Nhiều nghiên cứu của Barrett, Harris và Chasin, 1991]; D’Odorico, Salerni, Cassibba và Jacob,
1999; Menyuk, Liebergotts và Schultz, 1995, Snow, 1977 đã khẳng định những khía cạnh liên quan tới
sự tương tác mang tính xã hội có thể đặc biệt quan trọng trong suốt quá trình chuyển đổi từ giai đoạn
tiền ngôn ngữ tới giai đoạn ngôn ngữ chính thức.
2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
2.1 Nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non
2.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non
Có thể thấy sự phát triển của bộ môn khoa học Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non là một bộ
phận của bộ môn nghiên cứu Phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt ở các Khoa Ngữ văn. Có thể kể
ra đây các giáo trình, công trình nghiên cứu đầu tiên theo hướng cấu trúc của bộ môn khoa học Phương
pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em: “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em”(Cao Đức
Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng- Trung tâm nghiên cứu Đào tạo và Bồi dưỡng Giáo viên, Hà
Nội, 1993); …Bên cạnh phương diện cấu trúc, phát triển ngôn ngữ trẻ em còn được nhìn nhận ở phương
kiểu giao tiếp mẫu tính đặc thù, một kiểu giao tiếp có xuất phát điểm từ giao tiếp mẫu tử.
2.2.1.2 Nghiên cứu về gia đình có ảnh hưởng tới phát triển ngôn ngữ của trẻ
Đã có những công trình bắt đầu nghiên cứu đến vai trò của gia đình đối với ngôn ngữ của trẻ
nhỏ như:“ Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành, phát triển vốn từ ở trẻ 1-3 tuổi” của Lưu Thị Lan
(Nghiên cứu giáo dục, 1989, số 8, tr10), “ Vai trò của gia đình trong việc sửa tật ngôn ngữ cho trẻ” –
Lưu Thị Lan (Nghiên cứu giáo dục, 1986, số 3, tr8). Những nghiên cứu này tập trung vào vấn đề giao
tiếp của trẻ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, vào quá trình phát sinh, phát triển giao tiếp của trẻ từ 0-6 tuổi, nghiên
cứu mối quan hệ qua lại giữa giao tiếp với các chức năng tâm lý… những vấn đề phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu cụ thể giao tiếp của trẻ em. Mặc dù vậy, các nghiên cứu trên cũng chưa đề cập
tới kiểu giao tiếp mẫu tính trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhỏ. Trong khi đó, tương tác mẫu tính
lại là tương tác xã hội đầu tiên của trẻ, tạo nên nền tảng tâm lý- nhân cách- ngôn ngữ cho các giai đoạn
phát triển tiếp sau của trẻ nhỏ.
7
2.2.2. Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu tính
Tương tác là bản chất của giao tiếp do đó tương tác mẫu tính là một bộ phận của giao tiếp nói
chung, mặc dù vậy vấn đề PTNN thông qua tương tác mẫu tính hầu như chưa được đặt ra ở GDMN Việt
Nam.
Một số giáo trình tâm lý học trẻ em như giáo trình “Tâm lý học mầm non” (Nguyễn Ánh Tuyết,
NXB ĐHQGHN, 2003), giáo trình Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non (Từ lọt lòng đến 6 tuổi),In lần
thứ 11, Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên) có đề cập tới các kiểu quan hệ mẹ- con có ảnh hưởng tới sự phát
triển tâm lý, nhân cách của trẻ. Những nội dung lý thuyết đã được đề cập phần lớn là được kế thừa từ
tâm lý học phương tây, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào ở Việt Nam để kiểm chứng hoặc để phát
huy vào các công trình mang tính ứng dụng khác. Vì lẽ đó hầu như chưa có một tường thuật đầy đủ nào
về Gắn bó mẹ - con, khái quát hơn là Gắn bó mẫu tính đối với người học về ngành mầm non. Do vậy
mà chưa có công trình nghiên cứu nào có tính chất kiểm chứng lại lý thuyết của Ainsworth, Bowlby,
Bruner ở Việt Nam và tiến tới vận dụng các lý thuyết này trong các công trình nghiên cứu ứng dụng
khác.
Tóm lại, qua việc tìm hiểu việc nghiên cứu PTTN ở trẻ mầm non nói chung và trẻ 9-18 tháng
tuổi nói riêng ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy ở nước ta đã có những manh nha cho xu hướng nghiên
cứu này, chẳng hạn có đặt ra việc nghiên cứu ảnh hưởng của giao tiếp đối với sự phát triển nhân cách,
hội và rèn luyện các kĩ năng giao tiếp để hoạt động giao tiếp nói chung và hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ nói riêng, vận dụng những kĩ năng giao tiếp vào hoạt động giao tiếp để đạt được hiệu quả hơn.
Các khái niệm được lý thuyết Sự gắn bó xây dựng là các khái niệm maternal attachment,
maternal responsive, maternal interaction, maternal sensitive…Trong số những khái niệm này chúng tôi
lựa chọn khái niệm maternal interaction làm cơ sở lí luận cho đề tài của luận án bởi lẽ bản thân nội hàm
của nó có sự liên hệ trực tiếp tới các phương tiện giao tiếp nói chung và phương tiện giao tiếp ngôn ngữ
nói riêng. Việc Việt hóa khái niệm này cần có những cân nhắc cụ thể. Quan điểm của luận án là
“maternal” không chỉ có nội hàm là một kiểu quan hệ mà hơn thế nữa còn có nội hàm gắn với một phẩm
chất. Do đó, chúng tôi không dịch là phản ứng bà mẹ hay tương tác bà mẹ, mà dịch là phản ứng mẫu
tính và tương tác mẫu tính. “Mẫu tính” về mặt từ loại cũng là tính từ, tức là từ loại tương ứng với từ
“maternal”.Với cách dịch của luận án, chúng tôi có thể vận dụng và phát triển những thành tựu nghiên
cứu trên không chỉ vào việc tư vấn cho các bà mẹ mà còn vào việc tư vấn cho những người khác tham
gia vào quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt hơn cả vào việc đào tạo đội ngũ GVMN, phát triển khả
năng tương tác mẫu tính không chỉ là phẩm chất cần thiết của một người mẹ mà còn là một phẩm chất,
kĩ năng quan trọng của một GVMN. Tuy nhiên, để kết quả nghiên cứu được nhất quán và thể hiện rõ nét
nhất, chúng tôi vẫn tiến hành chỉ quan sát và tiến hành thực nghiệm trong quá trình tương tác, giao tiếp
giữa mẹ và bé, tức là quá trình tương tác của một kiểu quan hệ điển hình nhất – quan hệ mẫu tử.
1.2.2 Đặc trưng của tương tác mẫu tính
1.2.2.1Tương tác mẫu tính có nguồn gốc từ tự nhiên, mang tính bẩm sinh
Có thể nói, tương tác mẫu tính có nguồn gốc từ những đặc điểm sinh học độc đáo của con người.
Những tiến hóa về hình thái cơ thể và sự phát triển về đại não ở trên đã cho thấy con người tiến hóa hơn hẳn
các loài động vật có vú bậc cao khác. Tuy nhiên, sự tiến hóa đó cũng chứa đựng một mâu thuẫn: một em bé
được sinh ra thì hệ vận động chưa phát triển mà chỉ có các giác quan phát triển. Chính điều đó em bé mới
cần sự chăm sóc đặc biệt của người mẹ, và quá trình chăm sóc ấy đòi hỏi sự tương tác, giao tiếp mẫu tử.
Giao tiếp trở thành tình cảm bẩm sinh sinh tồn của con người. Đó chính là sự gắn bó giữa mẹ và bé. Như
vậy, mâu thuẫn của sự tiến hóa cũng cho ta thấy được nhu cầu giao tiếp của loài người ngay khi vừa mới
chào đời. Có thể thấy, tương tác mẫu tính trước hết ra đời từ những nhân tố tự nhiên, bẩm sinh của con
người. Đến lượt mình, tương tác mẫu tính lại trở thành một trong những nhân tố tự nhiên – xã hội để nhằm
hình thành ngôn ngữ mang bản chất tín hiệu ở loài người.
1.2.2.2 Tương tác mẫu tính có nền tảng từ sự nhạy cảm mẫu tính (maternal sensitive)
là người lớn thích làm điều đó, mà chính là do sự “yêu cầu, điều chỉnh” từ phía trẻ. Cha mẹ và những người
lớn khác, kể cả trẻ em lớn đều sử dụng một loại ngôn ngữ đặc biệt khi nói chuyện với trẻ.
1.2.3 Tương tác mẫu tính có vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ từ giai đoạn
tiền ngôn ngữ đến giai đoạn đầu của giao tiếp ngôn ngữ
1.2.3.1 Tương tác mẫu tính giúp trẻ phát triển các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ
Tương tác mẫu tính, đặc biệt là trong giai đoạn ngôn ngữ sớm, việc sử dụng những cử chỉ điệu
bộ thích hợp kết hợp với ngôn ngữ miêu tả có thể sẽ giúp trẻ tập trung được chú ý vào vật, việc và vật
chất thay vì chỉ thuần túy khuyến khích bằng lời hướng sự chú ý trong các hành vi mẫu tính cũng có tác
dụng tăng cường phát triển ngôn ngữ một cách gián tiếp (Gogate, Bahrick & Watson 2000, Karrass,
Braungart-Rieker, Mullins & Lefever 2002, Schmidt & Lawson 2002, và xem Masur, 2005. Tương tác
mẫu tính còn giúp trẻ phát triển được hành động trỏ tay với tư cách là khởi nguồn của ngôn ngữ. Thông
qua tương tác mẫu tính ở giai đoạn 3-4 tháng tuổi trở đi, trẻ được tiếp xúc và làm quen với hành động
trỏ tay. Từ đó trẻ cũng học cách định hướng sự chú ý của người đối diện bằng hành động trỏ tay.
1.2.3.2 Tương tác mẫu tính giúp trẻ phát triển tư duy tượng trưng (năng lực biểu tượng)- nền tảng của
việc lĩnh hội ngôn ngữ
Lyytinen, Eklund và Lyytinen (2003) phát hiện ra rằng những lời nói mẫu tính trong quá trình
tương tác mẫu tính chính là một gợi ý giúp trẻ tiếp cận trò chơi biểu tượng (symbolic play), và khi trẻ
10
được 14 tháng tuổi- ở vào giai đoạn nghe hiểu ngôn ngữ, lời mẹ nói sẽ giúp trẻ những bài học vỡ lòng
về trò chơi biểu tượng.
1.2.3.3 Tương tác mẫu tính giúp trẻ phát triển phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và thói quen giao tiếp
ngôn ngữ
Trên thực tế, nhìn chung ngôn ngữ đầu vào (in put language) có đặc điểm tự nhiên và được đơn
giản hóa (Snow 1995). Cả hai loại điều chỉnh này có lẽ khá quan trọng để tạo thuận lợi cho phát triển
ngôn ngữ một cách hiệu quả, ít nhất là trong một vài cách cụ thể ở những giai đoạn nhất định trong phát
triển ngôn ngữ (cf. Tamis-LeMonda và cộng sự 2001). Một tỉ lệ lớn những lời nói mẫu tính là để phản
ứng lại lời hay hành động của trẻ (Snow 1977, 1986)Điều này chứng tỏ rằng mẹ nói không đơn thuần
chỉ là cung cấp thông tin tới cho trẻ mà còn để khuyến khích trẻ giao tiếp ngôn ngữ. Do đó, một vài đặc
điểm của ngôn ngữ mẫu tính là chỉ có thể giải thích trong một khung tương tác nhất định của mẹ (bảo
mẫu) và trẻ. Chẳng hạn như một tỉ lệ lớn những câu hỏi trong lời nói mẫu tính được xem như là một
1.3.2 Đặc điểm tâm lý
Giai đoạn từ 9-15 tháng tuổi được gọi là giai đoạn cuối của tuổi hài nhi. Ở trẻ đã xuất hiện hiện
tượng biết phân biệt lạ quen rõ rệt: trẻ thường tỏ ra sợ hãi và từ chối giao tiếp với người lạ. Chính điều
này là một biểu hiện tích cực trong năng lực giao tiếp của trẻ. Cũng ở tuổi này trẻ xuất hiện nhu cầu cầm
nắm, sờ mó các đồ vật, theo đó, nhu cầu giao tiếp trực tiếp với người lớn ở giai đoạn trước được chuyển
sang giao tiếp với đồ vật, giao tiếp với người lớn để được tiếp xúc với đồ vật, từ đó mối quan hệ ba
chiều (trẻ - người lớn- đồ vật) cũng được hình thành.
15-18 tháng tuổi là giai đoạn đầu của tuổi ấu nhi. Khi bước vào tuổi ấu nhi, mối quan hệ giữa trẻ
với thế giới đồ vật được thay đổi đáng kể. Ở trẻ ấu nhi, hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo. Trẻ
khám phá thế giới đồ vật không chỉ để chơi, nghịch mà còn để tìm hiểu chức năng và cách thức sử dụng
chúng. Thông qua giao tiếp với người lớn, những kinh nghiệm lịch sử-xã hội vốn có ở trong các đồ vật
được trẻ lĩnh hội. Nhờ vậy mà tâm lý của trẻ phát triển mạnh, đặc biệt là trí tuệ. Thế giới chủ quan được
tạo thành sẽ tạo ra động lực giao lưu, giao tiếp, cộng tác xã hội của trẻ đối với những khách thể xung
quanh mình, và đây sẽ là một động lực quan trọng nhất thúc đẩy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ.
1.3.3 Đặc điểm ngôn ngữ
Trẻ ở giai đoạn cuối hài nhi và giai đoạn đầu của tuổi ấu nhi (9-18 tháng tuổi) phát triển mạnh
mẽ nhu cầu giao tiếp với người lớn và nhu cầu khám phá môi trường xung quanh. Chính điều này đã
làm tăng khả năng lĩnh hội ngôn ngữ ở trẻ.Tóm lại, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi diễn
ra theo các hướng: sự tích lũy các đơn vị ngôn ngữ làm nền tảng cho khả năng nghe hiểu ngôn ngữ và
duy trì và phát triển nhu cầu giao tiếp với người lớn, tạo nên động cơ để phát triển ngôn ngữ tích cực
của trẻ tại thời điểm này cũng như ở các giai đoạn về sau.
1.3.4 Tương tác mẫu tính ở độ tuổi 9-18 tháng
Qua tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý, ngôn ngữ của trẻ 9-18 tháng tuổi, ta thấy rõ rang trẻ ở giai
đoạn này có một sự gắn bó tự nhiên và mật thiết với người mẹ . Sang tới giai đoạn 9-18 tháng tuổi
TTMT giữa mẹ và trẻ có nhiều bước phát triển mới, trực tiếp đặt nền tảng cho sự phát triển nhân cách,
tâm lý và ngôn ngữ cho trẻ ở các giai đoạn sau. Trước hết là tương tác phi ngôn ngữ: tương tác phi ngôn
ngữ giai đoạn này đạt tới một chất lượng mới. Về tương tác ngôn ngữ, ở giai đoạn 9-18 tháng tuổi,
không chỉ mẹ sử dụng ngôn ngữ mẫu tính mà trẻ cũng bắt đầu xuất hiện khả năng giao tiếp bằng ngôn
ngữ. Khoảng thời gian từ 9-18 tháng tuổi là khoảng thời gian người lớn quan sát được sự tiến bộ rõ rệt
về chất trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ: trẻ chuyển từ những âm bập bẹ vô nghĩa sang những từ
những hạn chế, có những biện pháp chưa thực sự đúng đắn đối với sự phát triển của trẻ.
Tìm hiểu nguyên nhân thực trạng
Xuất phát từ kết quả thực trạng, ta thấy tương tác mẫu tính giữa mẹ và trẻ 9 – 18 tháng tuổi còn
nhiều bất cập. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này nhưng sau quá trình điều tra, chúng tôi
đã tìm hiểu một số nguyên nhân khách quan như sau:
- Nguyên nhân khách quan:
Một trong những nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ chính là yếu tố
môi trường xã hội. Sự thay đổi của mô hình gia đình truyền thống chuyển sang mô hình gia đình hạt
nhân dẫn đến những thay đổi trong sinh hoạt gia đình, đến thói quen chăm sóc và giáo dục con cái như
giao phó con cái cho người giúp việc hoặc dùng ti vi để trông trẻ. Những điều này chính là các nguy cơ
dẫn đến tình trạng chậm giao tiếp ngôn ngữ ở trẻ.
- Nguyên nhân chủ quan:
+Về phía cha mẹ:
Trong quá trình tìm hiểu sơ bộ thực tế về nhận thức và việc chuẩn bị cũng như cách mà cha mẹ giúp
trẻ 9 – 18 tháng tuổi phát triển khả năng giao tiếp và ngôn ngữ ở một số gia đình hiện nay, chúng tôi nhận
thấy rằng: việc phát triển khả năng giao tiếp và ngôn ngữ cho trẻ nhỏ cũng được các cha mẹ quan tâm nhưng
họ chưa có những biện pháp tác động đến trẻ một cách phù hợp. Vì vậy, cần giúp cho cha mẹ nhận thức rõ
được khả năng của trẻ trong giai đoạn này và đề ra những biện pháp giúp trẻ phát triển được khả năng giao
tiếp. Cũng còn một số bà mẹ cho rằng trẻ còn quá nhỏ vì vậy sẽ không ảnh hưởng gi đến sự phát triển
của trẻ, chỉ cần chăm sóc trẻ đầy đủ về mặt vật chất- dinh dưỡng, dẫn đến sự xem nhẹ vai trò của quá
trình tương tác xã hội, tương tác mẫu tính đối với trẻ nhỏ.
Qua quá trình quan sát các phương pháp, biện pháp mà các bà mẹ sử dụng trong quá trình trò
chuyện với con nhằm phát triển khả năng giao tiếp của trẻ, chúng tôi rút ra một số kết luận sau: những
biện pháp mà các bà mẹ sử dụng hầu như chỉ mang tính bản năng, họ cho rằng trò chuyện với trẻ nhất là
13
trẻ từ 9 -18 tháng là độ tuổi quá nhỏ, trẻ không biết nói nên chỉ cần bập bẹ hay nói u ơ theo chúng là
được, nhưng như vậy là chưa đủ.
+Về phía trẻ:
Khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ nhỏ cũng phụ thuộc vào đặc điểm của từng cá nhân trẻ như
khí chất, sự phát triển về nhận thức không trẻ nào giống trẻ nào. Có những trẻ chậm ngôn ngữ do bẩm
2.3 Biện pháp phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính
Việc đề xuất biện pháp phát triển ngôn ngữ ở trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính cần đảm
bảo các yêu cầu như: coi trọng tính tích cực chủ động của trẻ trong quá trình lĩnh hội phát triển ngôn
ngữ, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt, cũng như cần hướng vào hoạt động giao tiếp ngôn ngữ
và phù hợp với văn hóa người Việt.
2.3.1 Sử dụng hát ru
14
Việc sử dụng hát ru rất phù hợp với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 9-18 tháng tuổi thông qua
tương tác mẫu tính. Có thể xem đây là biện pháp thể hiện đậm nét bản chất mẫu tính, vừa thắt chặt củng
cố tình mẫu tử vừa có tác dụng định hướng trẻ một cách hiệu quả tới ngôn ngữ, mở đầu cho một chuỗi
các biện pháp tương tác mẫu tính. Các bà mẹ Việt Nam có thể tùy theo vùng miền mà có thể lựa chọn
cho mình những bài hát ru phù hợp. Người mẹ cần lựa chọn những bài hát ru có nội dung phù hợp với
độ tuổi của trẻ và phù hợp với không gian sinh hoạt văn hóa của đứa trẻ cùng với mọi người xung
quanh. Khi hát ru, người mẹ có thể sử dụng kèm theo những động tác, cử chỉ vỗ về phi ngôn ngữ, để trẻ
cảm nhận thấy được dường như có mối dây liên hệ giữa âm thanh với sự chuyển động của cơ thể.
2.3.2 Tăng cường sử dụng ngôn ngữ mẫu tính (CDS) khi tương tác ngôn ngữ với trẻ
Biện pháp này được đề ra nhằm hình thành ở trẻ các quá trình tâm lý –ngôn ngữ như:
- Giúp trẻ tập trung chú ý vào ngôn từ
- Hình thành mối quan hệ hai chiều: trẻ và người lớn, để thực hiện các quy tắc giao tiếp như quy
tắc cộng tác, quy tắc luân phiên lượt lời.
- Hình thành ở trẻ các quy luật tâm lý như: nhìn cùng hướng, chú ý cùng hướng, tham chiếu xã
hội và mối quan hệ ba chiều …
2.3.2.3 Tăng cường phản hồi bằng lời trước sự chú ý của trẻ
Biện pháp này được đề ra nhằm hình thành ở trẻ các quá trình tâm lý giữ vai trò quan trọng nhất
là nền tảng của sự phát triển tâm lý – ngôn ngữ của trẻ đó chính là quy luật chú ý cùng hướng (joint
attention). Khi có sự giao lưu ngôn ngữ, nhân vật giao tiếp cùng hướng về một sự vật, sự việc thì được
gọi là sự chú ý cùng hướng (joint attention). Sự chú ý cùng hướng là một điều kiện căn bản để thiết
lập giao tiếp của con người. Nhìn cùng hướng góp phần hình thành không gian chung, tiếng nói chung
giữa trẻ và người lớn, tạo nên điều kiện không thể thiếu được của giao tiếp. Mặt khác, bên cạnh việc
hình thành không gian chung, nhìn cùng hướng, nhìn cùng hướng tạo nên chú ý cùng hướng còn hình
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Thực nghiệm sư phạm
3.1.1 Đối tượng thực nghiệm
Đối tượng thực nghiêm chúng tôi chọn chính là 130 cặp mẹ - bé trong số các bà mẹ mà chúng tôi đã khảo
sát điều tra bằng phiếu anket vào thời gian 3/2011.
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm bằng việc yêu cầu các bà mẹ sử dụng các biện pháp luận án đã đề xuất
và sử dụng các phiếu đánh giá ngôn ngữ và thông qua việc quan sát quá trình trẻ giao tiếp với mẹ tại các gia đình.
3.1.2 Thời gian thực nghiệm
Thực nghiệm được tiến hành từ tháng 4 năm 2011đến tháng 7 năm 2011
3.1.3 Mục đích thực nghiệm
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, chúng tôi tổ chức thực nghiệm đề
kiểm tra hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất trong việc phát triển ngôn ngữ thông qua tương tác mẫu
tính.
3.1.4 Nội dung thực nghiệm
− Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến sự phát triển giao tiếp và giao tiếp của trẻ từ 9- 18 tháng tuổi
đến 12-21 tháng tuổi thông qua tương tác mẫu tính.
− Tiến hành thực nghiệm các biện pháp đã đề xuất trên Nhóm TN gồm các cặp mẹ - bé 9-18
tháng tuổi.
− Đánh giá mức độ hiệu quả của các biện pháp được đề xuất đối với việc phát triển ngôn ngữ và giao
tiếp khi bé 12-21 tháng tuổi tức là sau 3 tháng kể từ khi áp dụng các biện pháp.
3.2 Tiêu chí đánh giá ngôn ngữ, giao tiếp của trẻ 9-24 tháng tuổi
3.2.1 Xây dựng phiếu đánh giá về ngôn ngữ của trẻ 9-24tháng tuổi
Mặc dù, đối tượng thực nghiệm chỉ từ 9-21 tháng tuổi nhưng chúng tôi quyết định xây dựng
phiếu đánh giá ngôn ngữ của trẻ từ 9-24 tháng tuổi trên cơ sở vận dụng quan điểm “Vùng phát triển gần
nhất” của Vư-gôt-xki. Cấu tạo của bài trắc nghiệm này kiểm tra về năng lực ngôn ngữ, được chia làm 3
phần: Sự phân giải âm tiết, phát âm, từ vựng và thêm một bộ phận để kiểm tra khả năng ngữ pháp.
Phiếu đánh giá năng lực phát triển ngôn ngữ:
(I) Kiểm tra từ vựng thông qua 1 bảng từ vựng gồm có 50 từ (xem toàn văn)
Mỗi một từ mà trẻ hiểu đúng nghĩa được tính là 01 điểm. Tổng điểm là 50điểm/ 50 từ .
16
− Biết hỏi và trả lời một số câu hỏi đơn giản bằng lời nói, cử chỉ.
− Sử dụng lời nói để giao tiếp, diễn đạt nhu cầu.
− Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của câu thơ và ngữ điệu của lời nói.
− Hồn nhiên trong giao tiếp.
Căn cứ 4: Thực tế sự cần thiết của giao tiếp đối với trẻ và nhu cầu của phụ huynh mong muốn
con mình có thể khả năng giao tiếp tốt với mọi người xung quanh đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ
càng sớm càng tốt.
3.2.2.2. Bước 2: Xây dựng một số tiêu chí đánh giá mức độ khả năng giao tiếp của trẻ (xem bảng trang 164)
Tổng điểm nội dung giao tiếp: 60/29 nội dung, với thang điểm đánh giá như sau: từ 0 – 15điểm: thấp;
từ 16 – 29 điểm: trung bình; từ 30 – 44 điểm: khá cao; từ 45 – 60 điểm: cao.
17
Tổng kết cả phần đánh giá năng lực ngôn ngữ và giao tiếp ta sẽ có tổng điểm như sau:
Tổng điểm : 163/4 nhóm nội dung. Thang đánh giá: Mức độ thấp: từ 0 – 39; Mức độ trung bình: 40 –
80; Mức độ khá cao: 81- 121; Mức độ cao: 122 – 163.
3.2.3 Tiến hành thực nghiệm
Trước khi thực nghiệm, chúng tôi tiến hành trao đổi với các bà mẹ về mục đích yêu cầu của việc tiến
hành thực nghiệm. Cung cấp cho các bà mẹ được thực nghiệm những tài liệu về cơ sở lý luận, cách tiến hành
những biện pháp mà chúng tôi đã đề xuất để họ có thể vận dụng vào các hoạt động thực nghiệm.
3.2.3 .1 Bước 1: Chọn mẫu thực nghiệm và đối chứng.
- Nhóm thực nghiệm: 66 trẻ
- Nhóm đối chứng: 64 trẻ
Chia các đối tượng mẹ và trẻ trong độ tuổi từ 9-18 tháng tuổi thành 2 nhóm: nhóm thực nghiệm
là 66 trẻ và nhóm đối chứng là 64 trẻ để tiến hành đánh giá năng lực ngôn ngữ và giao tiếp đầu vào. Sau
03 tháng tiến hành các biện pháp đã đề xuất ở chương 2, chúng tôi tiếp tục đánh giá năng lực ngôn ngữ
và giao tiếp của chính 2 nhóm trẻ trên từ đó rút ra kết luận về hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
Trong mỗi nhóm lại chia thành 04 nhóm nhỏ hơn là: nhóm 9 tháng tuổi (9 trẻ), nhóm 10-12
tháng tuổi (14 trẻ ), nhóm 13-15 tháng tuổi (18 trẻ ) và nhóm 16-18 tháng tuổi (22-23 trẻ) để đảm bảo sự
tương ứng về trình độ ngôn ngữ và giao tiếp giữa 2 nhóm.
Cũng để đánh giá chính xác hơn nữa hiệu quả của các biện pháp, chúng tôi cũng tính đến tỉ lệ
cân bằng giới tính giữa nhóm ĐC và nhóm TN trong quá trình thực nghiệm.
nghiệm cũng có sự thay đổi rõ rệt: sau thực nghiệm, nhóm trẻ đạt mức độ “thấp” có giảm hẳn từ 4,62%
xuống còn 0,00%, nhóm đạt mức độ “trung bình” có tăng rõ rệt từ 58,46% lên 63,08%, còn nhóm “khá
cao” lại giảm xuống từ 36,92% xuống còn 33,85% và bù lại, nhóm “cao” tăng từ 0,00% lên 3,08%.
Bước đầu, chúng ta có thể nhận thấy là nhờ áp dụng các một biện pháp hỗ trợ, nên sự thay đổi này là dự
báo sự khác biệt đáng kể nào giữa trước và sau thực nghiệm. Ở phần sau, chúng tôi sẽ tiến hành kiểm
định để đánh giá sự chênh lệch trước và sau thực nghiệm này có phải là sự khác biệt có ý nghĩa hay
không.
Nếu tính gộp cả nhóm ĐC và nhóm TN lại, ta tiến hành lập bảng và biểu so sánh kết quả của
130 trẻ trước và sau TN. Nhìn chung, các mức độ đều có sự thay đổi: mức độ “thấp” có sự giảm đi
từ 6,15% xuống còn 1,54%, mức độ “trung bình” tăng từ 57,69% lên 62,31% và mức độ “cao” có
tăng nhẹ từ 0,00% lên 1,54%, chỉ riêng mức độ “khá cao” thì giảm 36,15 xuống 34,62%. Ta thấy rõ
xu thế thay đổi kể trên là do sự thay đổi của nhóm TN chi phối sự thay đổi chung của hai nhóm ĐC
và TN. Tuy nhiên sự chênh lệch trước và sau TN của tổng số trẻ cả hai nhóm có phải là sự khác biệt
có ý nghĩa hay không, chúng tôi sẽ tiến hành làm kiểm định hiệu quả thực nghiệm ở phần sau. Cũng
ở bảng 12 và biểu 5 ta thấy, nhìn chung ở độ tuổi từ 9-18 tháng tuổi, kể cả hai nhóm ĐC cũng như TN,
thì năng lực ngôn ngữ và giao tiếp đạt điểm trung bình là chiếm một tỉ lệ đa số 60% – 80% , còn lại là
khoảng 40% đạt điểm khá cao, chỉ một số ít phần trăm là rơi vào vùng điểm thấp hoặc là đạt điểm cao.
3.3.2 Kiểm định hiệu quả thực nghiệm theo các mức độ thấp, trung bình, khá cao và cao
Bảng 11 . Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC1 và TN1 (trước và sau TN)
Nhóm 9 tháng tuổi (Nhóm
1)
ĐC1 TTN ĐC1 STN
TN1
TTN
TN1
STN
Giá trị trung bình 39.889 42.556 40.889 52.111
Độ lệch chuẩn 4.167 4.586 3.371
Giá trị p 0.607 0.0002
Có ý nghĩa (p≤0,05) Không có ý nghĩa Có ý nghĩa
ĐC
3STN
TN3TTN TN3STN
Giá trị trung bình 68.861 69.361 68.944 74.667
Độ lệch chuẩn 3.757 3.780 3.091 2.995
Giá trị p 0.943 0.0001
Gía trị p trong phép kiểm chứng t-test độc lập cho thấy chênh lệch giá trị trung bình trước tác
động của hai nhóm ĐC3 là 0.943 và TN3 là 0.0001. Điều này có nghĩa là chênh lệch trước tác động ít có
khả năng xảy ra ngẫu nhiên cao. Do vậy, chênh lệch này là không có ý nghĩa. Còn chênh lệch giá trị
trung bình sau thực nghiệm của hai nhóm là 0,0001, nghĩa là có khả năng xảy ra ngẫu nhiên. Chúng ta
coi chênh lệch này là có ý nghĩa.Như vậy, các biện pháp mà chúng tôi đề xuất đã mang lại kết quả đối
với nhóm thực nghiệm 3.
Bảng 14 Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC4 và TN4 (trước và sau TN)
Nhóm 16- 18 tháng
tuổi (Nhóm 4)
ĐC4 TTN ĐC4 STN TN4TTN TN4STN
Giá trị TB 100.935 102.196 100.208 114.458
Độ lệch chuẩn 2.225 2.409 4.544 4.859
Giá trị p 0.496 0.0000
Có ý nghĩa (p≤0,05) Không có ý nghĩa Có ý nghĩa
Gía trị p trong phép kiểm chứng t-test độc lập cho thấy chênh lệch giá trị trung bình trước tác
động của hai nhóm ĐC4 là 0.496 và TN4 là 0.0000. Điều này có nghĩa là chênh lệch trước tác động ít có
khả năng xảy ra ngẫu nhiên cao. Do vậy, chênh lệch này là không có ý nghĩa. Còn chênh lệch giá trị
trung bình sau thực nghiệm của hai nhóm là 0.0000, nghĩa là có khả năng xảy ra ngẫu nhiên. Chúng ta
coi chênh lệch này là có ý nghĩa. Như vậy, các biện pháp mà chúng tôi đề xuất đã mang lại kết quả đối
với nhóm thực nghiệm 4.
20
Bảng 15 a. Kiểm định nhóm ĐC và TN trước và sau TN theo các mức độ
Kiểm đinh DC và TN trước TN Giá trị P 0.98 Không có ý nghĩa
Kiểm đinh DC VA TN sau TN Giá trị P 0.04 Có ý nghĩa (P<0,05)
tăng với 4 trị số p đều là 0.000 và đó là những sự khác biệt có ý nghiĩa. Như vậy, nhờ có sự tác động
thực nghiệm mà trị số p của nhóm TN thấp hơn nhiều so với trị số p của nhóm ĐC. Và sự khác biệt có ý
nghĩa của sự tăng trưởng từ vựng được duy trì trong suốt 4 độ tuổi của nhóm TN.
Về mặt phát âm
So sánh giứa ĐC trước và sau 3 tháng không tác động thực nghiệm ở cả 3 độ tuổi sau thì điểm
số của phát âm có xu hướng giảm nhẹ, riêng độ tuổi 9 tháng thì điểm phát âm giữ nguyên. Các trị số p
lần lượt là:0.179, 0.076, 0.785 và 0.540, tất cả đều là những sự khác biệt không có ý nghĩa.
So sánh giứa TN trước và sau 3 tháng tác động thực nghiệm ở cả 4 độ tuổi thì điểm số phát âm có tăng với các
21
trị số p lần lượt là:.0.000, 0.001,0.003 và 0.000. và đều thể hiện các sự khác biệt có ý nghĩa rõ rệt. Như vậy, các biện
pháp thực nghiệm mang bản chất tương tác mẫu tính có sự cải thiện rõ rệt về mặt phát âm cho trẻ ở nhóm TN.
Về mặt ngữ pháp
So sánh nhóm ĐC trước và sau 3 tháng không tác động thực nghiệm ở cả 4 độ tuổi, ta thấy điểm
ngữ pháp của nhóm ĐC 1 giữ nguyên, ĐC 2 và 3 giảm nhẹ và ĐC 4 tăng nhẹ. Như vậy, điểm số ngữ
pháp của nhóm ĐC khi không nhận được tác động thực nghiệm có biểu hiện tăng giảm không ổn định.
Trị số p của 4 độ tuổi ở nhóm ĐC lần lượt là 0.058, 0.025, 0.840 và 0.255. Riêng trị số p của nhóm ĐC
2 không phải biểu diễn sự khác biệt có ý nghĩa của sự tăng trưởng về ngữ pháp mà biểu diễn sự khác
biệt có ý nghĩa của sự giảm điểm về ngữ pháp sau 3 tháng không thực nghiệm tác động. Đây cũng là
những biểu hiện bình thường của giai đoạn hoán chuyển từ giao tiếp phi ngôn ngữ sang giai đoạn giao
tiếp ngôn ngữ.
So sánh giứa TN trước và sau 3 tháng tác động thực nghiệm ở cả 4 độ tuổi thì điểm số ngữ pháp có
tăng với các trị số p lần lượt là:0.000, 0.000, 0.015 và 0.000 đều thể hiện những sự khác biệt có ý nghĩa ở
mức độ cao. Các biện pháp tương tác mẫu tính đã góp phần duy trì sự ổn định ở mức độ cao trong sự phát
triển ngữ pháp của trẻ.
Về mặt giao tiếp
So sánh nhóm ĐC trước và sau 3 tháng không tác động thực nghiệm ở cả 4 độ tuổi, ta thấy
điểm ngữ pháp của nhóm ĐC 1, 3 tăng nhẹ, ĐC 2 và 4 giảm nhẹ. Các trị số p lần lượt là: 0.841,
0.014, 1.000 và 0.076 đều thể hiện sự khác biệt không có ý nghĩa. Như vậy, điểm số giao tiếp của
nhóm ĐC khi không nhận được tác động thực nghiệm có biểu hiện tăng giảm không ổn định. Đây
cũng là những biểu hiện bình thường của giai đoạn hoán chuyển từ giao tiếp phi ngôn ngữ sang giai
phát âm nhầm lẫn âm tiết “tai” và “tay”, hoặc nhầm lẫn nguyên âm đôi thành nguyên âm đơn, chẳng hạn
“Thìa”(/ie/) thành “thì” (/i/) Có những mẫu ngữ liệu là 2 âm tiết, nhưng khi phát âm, trẻ chỉ phát âm
được 1 âm tiết, ví dụ như “con cá” thành “cá”, “Quả bóng” thành “bóng”, “bông hoa” chỉ là “hoa”.
Về mặt từ vựng, chúng tôi sử dụng bộ tranh lô tô có hình ảnh sự vật tham chiếu nghĩa với từ mà
chúng tôi dự định kiểm tra xem trẻ có hiểu nghĩa và phát ra được các từ đó hay không. Nhưng trong
thực tế kiểm tra, đối với những trẻ tháng tuổi càng nhỏ, thì việc nhìn tranh vẽ để trắc nghiệm khả năng
hiểu nghĩa từ là một việc làm ít đạt hiệu quả. Vì ở giai đoạn này, trẻ có thể hiểu từ nhưng chỉ ở mức độ
biểu vật và biểu niệm hạn hẹp, gắn với những sự vật, những con người mà trẻ thực sự có mối liên hệ
hàng ngày, còn những sự vật, hiện tượng trong tranh vẽ có thể vẽ về một sự vật, hiện tượng cùng loại
nhưng trẻ vẫn không xem đó là nghĩa của từ mà trẻ phần nào đã hiểu nghĩa. Đây là hiện tượng tham
chiếu nghĩa hẹp mà chúng tôi đã có lần bàn tới ở các phần trước của luận án. Với những trường hợp từ
chối sự vật và hiện tượng tham chiếu nghĩa ở trong tranh, chúng tôi buộc phải sử dụng sự vật, con người
thật gắn bó với trẻ để thay thế và chấp nhận mức độ hiểu nghĩa theo phạm vi hẹp của những trẻ đó.
Quan sát quá trình tích lũy và phát triển vốn từ của nhóm trẻ TN so với nhóm trẻ ĐC, chúng tôi nhận thấy trẻ
TN có lẽ được tương tác với người lớn nhiều thông qua các biện pháp thực nghiệm nên có cơ hội phát triển
về các từ phản ánh sự vật, hiện tượng phong phú hơn và không nhất thiết phải thân thuộc trong đời sống
hàng ngày của trẻ như các từ “voi”, “cua”, “khỉ”, “mưa”, “nắng”. Bên cạnh đó, trẻ TN còn phát triển được
các từ có nội dung phản sánh sự vật khái quát như “cây xanh”, “quả”, “hoa” Những từ có hình thức ngữ âm
khó như “giường”, “Khăn”, “nắng”, “quạt”, “quần” cũng được trẻ ở nhóm TN có xu hướng tích lũy nhiều
hơn nhóm ĐC.
Mặt khác, về mặt ngữ pháp, trẻ TN cũng có sự nổi trội hơn trẻ ĐC sau quá trình TN ở các nội
dung liên quan tới các nội dung liên quan tới việc hiểu và sử dụng câu hỏi với từ ai/cái gì và xuất hiện
một số ít những hư từ như nữa, rồi, cũng. Mặt khác tác động thực nghiệm cũng làm cho độ dài trung
bình câu của nhóm TN (chủ yếu là nhóm TN 4) tăng lên.
Về phương diện giao tiếp, nhóm trẻ TN cũng có những sự khác biệt đáng kể so với nhóm ĐC,
đặc biệt ở các nội dung về khả năng phản hồi và trả lời tương ứng với các phát ngôn, câu hỏi của người
lớn trong tình huống quen thuộc; trẻ chủ động biết lôi kéo và định hướng người lớn vào vật, việc mà trẻ
chú ý. Mặt khác trẻ TN còn phát huy được khả năng tích cực hưởng ứng chủ đề giao tiếp nên thường
duy trì được độ dài tương tác với số lượng lượt lời 2-3 lượt lời, thậm chí có trẻ lên tới 4-5 lượt lời. Vì
luôn tích cực, chủ động trong giao tiếp nên trẻ TN thường có biểu hiện rõ rệt trong khả năng lựa chọn
1.2 Nghiên cứu và khảo sát thực trạng tương tác mẫu tính nhằm phát triển ngôn ngữ và giao tiếp
tuổi mầm non ở các gia đình cho thấy, nhìn chung, phụ huynh cũng thể hiện tương đối đầy đủ năng lực
cũng như kỹ năng tương tác mẫu tính nhưng vẫn còn một số hạn chế.
1.3 Chương trình thực nghiệm nâng cao năng lực và kỹ năng tương tác mẫu tính giúp trẻ 9-18
tháng tuổi phát huy một cách hiệu quả tiềm năng phát triển ngôn ngữ và giao tiếp được thực hiện bằng
các biện pháp đồng bộ và tích cực: nâng cao nhận thức về Sự gắn bó mẫu tử, về tương tác mẫu tính, về
sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non cũng như về sự ảnh hưởng của tương tác mẫu tính đến sự phát
triển ngôn ngữ và giao tiếp của lứa tuổi này; thay đổi thói quen và hành vi tương tác mẫu tính đã đem lại
những thay đổi mạnh mẽ trong tất cả những biểu hiện của sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ
thuộc nhóm TN.
Có thể thấy, kết quả nghiên cứu của luận án đã khẳng định được giả thuyết nghiên cứu và giải
quyết được các nhiệm vụ mà nghiên cứu đã đề ra.
24
ĐỀ XUẤT
2.1.Đề xuất về các điều kiện khách quan
Nghiên cứu cho thấy hạn chế trong một số yếu tố khách quan ảnh hưởng tới quá trình tương tác
mẫu tính trong quá trình hình thành phát triển nhân cách trẻ nói chung và ngôn ngữ, giao tiếp tuổi mầm
non nói riêng. Vì vậy chúng tôi xin đưa ra một số đề xuất sau:
a.Đối với các cơ quan chăm sóc và bảo vệ bà mẹ trẻ em, các tổ chức liên quan tới phụ nữ
Các cơ quan chăm sóc và bảo vệ bà mẹ, trẻ em cần có những nghiên cứu nghiêm túc, cụ thể các
tài liệu lý thuyết mới về sự gắn bó mẫu tử, về quá trình tương tác mẫu tính trong và ngoài nước và tổ
chức được các lớp tập huấn cho các bà mẹ về các cách thức tương tác mẫu tính thông minh hơn để con
trẻ của chúng ta có một tuổi thơ hạnh phúc, tự tin, độc lập và sáng tạo trong các tình huống cuộc sống.
b.Đối với các phương tiện truyền thông như truyền hình, báo chí
Đây cũng là một kênh thông tin thu hút được sự quan tâm của nhiều người. Do vậy nếu được
định hướng tốt, những nội dung thông tin về tương tác mẫu tính trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ sẽ
được đăng tải có hệ thống trên các kênh truyền hình cũng như các tờ báo, tạp chí gắn liên quan tới phụ
nữ và trẻ em.
2.2 Đề xuất tiếp tục phát huy những điểm mạnh trong quá trình tương tác mẫu tính của các
bà mẹ Việt