tóm tắt luận án tiên sĩ phát triển kinh tế xã hội vùng tam giác phát triển việt nam lào campuchia - Pdf 22

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
o0o
LÊ PHƯƠNG HÒA
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
VÙNG TAM GIÁC PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM - LÀO - CAMPUCHIA
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 62.31.07.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Hà Nội - 2013
Công trình được hoàn thành tại:
Học Viện Khoa học Xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Duy Dũng
2. TS. Lê Thị Ái Lâm
Phản biện 1: PGS.TS. An Như Hải
Phản biện 2: PGS.TS. Trịnh Thị Mai Hoa
Phản biện 3: PGS.TS. Bùi Tất Thắng
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, tại Học viện Khoa
học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
vào hồi giờ ngày tháng năm 2013
Có thể tìm Luận án tại:
1. Thư viện Quốc gia Việt Nam
2. Trung tâm Thông tin – Thư viện,Học viện Khoa học Xã hội
3. Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử, CLV đã cùng chung sức chung lòng trong công cuộc bảo vệ và xây
dựng đất nước. Đây là cơ sở hết sức quan trọng để tiếp tục mở rộng hình thức hợp tác giữa

vùng Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia làm để tài luận án tiến sỹ chuyên
ngành Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế của mình.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài là cung cấp luận cứ khoa học (cả lý luận và thực tiễn) cho
việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội vùng Tam giác
phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia hiện nay và trong tương lai.
Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hình thành và phát triển tam giác phát
triển Việt Nam - Lào - Campuchia với tư cách là một vùng phát triển
- Tổng quan và phân tích thực trạng phát triển của vùng CLVDT và hệ thống các nhân
tố tác động đến sự phát triển vùng.
- Đưa ra cac quan điểm phát triển và các giải pháp phát triển nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế-xã hội vùng tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được xác định là sự phát triển kinh tế - xã hội vùng tam giác
phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia
Phạm vi nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu 13 tỉnh thuộc khu vực tam giác phát
triển Việt Nam - Lào - Campuchia. Đây là những tỉnh được xác định trong các văn kiện ký
kết giữa thủ tướng ba nước về xây dựng tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
Luận án giới hạn nghiên cứu từ năm 1999 (thời kỳ hình thành sáng kiến về phát triển tam
giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia) đến 2012.
4. Đóng góp của luận án
Nghiên cứu về phát triển kinh tế xã hội vùng Tam giác phát triển Việt Nam - Lào -
Campuchia dưới góc độ phát triển vùng là một đề tài nghiên cứu có nhiều ý nghĩa về lý
luận và thực tiễn. Về mặt khoa học, đề tài sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng các
công trình nghiên cứu về hợp tác phát triển của chuyên ngành kinh tế thế giới và quan hệ
kinh tế quốc tế trong bối cảnh khu vực hóa và toàn cầu hóa hiện nay. Nó sẽ là nguồn tư
liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, sinh viên, đồng thời đóng góp trong việc hệ thống
hóa cơ sở lý luận về lý thuyết và thực nghiệm của hợp tác vùng và hội nhập khu vực. Về
thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu hữu ích đối với các nhà hoạch định chính

dưới góc độ vùng. Ngay cả những lý luận về hình thành và phát triển CLVDT hiện cũng
đang nặng về mô tả. Mặc dù công trình nghiên cứu của PGS.TS. Nguyễn Duy Dũng đã có
lý luận về sự hình thành vùng nhưng cách tiếp cận lại dưới góc độ quản lý.
- Hiện vẫn đang thiếu những lý luận mang tính định hướng phát triển vùng cho
CLVDT mặc dù trong quy hoạch phát triển vùng đã có xác định định hướng cho phát triển
vùng nhưng lại được nhìn nhận theo lĩnh vực quản lý hơn là các yếu tố vùng.
Rõ ràng việc xây dựng khu tam giác phát triển từ ý tưởng đã trở thành hiện thực và
được khởi động khá khẩn trương. Tuy nhiên, như đã nhận định ở trên, cho đến nay việc
nghiên cứu về CLVDT vẫn chưa thật sự đầy đủ và hoàn chỉnh. Nhiều câu hỏi đặt ra vẫn
chưa có lời giải đáp thoả đáng. Dù đã có một số công trình đề cập trực tiếp hay gián tiếp
đến hiện trạng phát triển của vùng tam giác, song thực tế hiểu biết đầy đủ về vùng này còn
nhiều hạn chế. Với tư cách là một vùng phát triển, CLVDT cần được nghiên cứu như là
một đối tượng nghiên cứu của kinh tế học vùng để chỉ ra được đâu là yếu tố cấu tạo nên
vùng và tác động đến vùng. Cần thiết phải làm rõ được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ
hội và thách thức của vùng…Từ đó mới có đủ luận cứ để đề xuất các định hướng cũng
như giải pháp phát triển vùng tam giác phát triển nói chung, và khuyến nghị phương
hướng ưu tiên của Việt Nam nói riêng đối với khu vực này.
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Cơ sở lý thuyết
Đề nghiên cứu về vùng CLVDT phải kết hợp 2 nhóm lý thuyết là lý thuyết về hợp tác
kinh tế quốc tế và lý thuyết về phát triển vùng.
Về lý thuyết hợp tác kinh tế quốc tế, nghiên cứu của luận án vận dụng hai lý thuyết cơ
bản là: Lý thuyết về tự do hóa thương mại với nền tảng là nguyên tắc về lợi thế so sánh để
so sánh lợi thế của các tiểu vùng trong vùng tam giác phát triển nhằm tìm ra nguyên nhân
của hợp tác và có thể từ đánh giá lợi thế so sánh rút ra khuyến nghị phát triển cho vùng; và
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia khi nhìn nhận đánh giá lợi thế của mỗi nước và
các địa phương cụ thể.
Về tăng trưởng vùng có khá nhiều lý thuyết, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ đề cập đến
những lý thuyết mà VLCDT có thể tham khảo hoặc vận dụng.
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh vùng:

Điểm yếu
Thách thức
Khả
năng/
Triển
vọng
phát
triển
Hạn chế
Thúc đẩy
- Phương pháp SWOT
Loại và nguồn tài liệu
Tài liệu thứ cấp bao gồm:
Những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về 3 nước Đông Dương và khu vực tam
giác Việt Nam - Lào - Campuchia tại các viện nghiên cứu của Việt Nam, Lào và
Campuchia
Các chính sách phát triển của Việt Nam, Lào, Campuchia được thu thập qua quá trình
khảo sát tại các cơ quan ngoại giao
Các thông tin thống kê được thu thập tại các cơ quan thống kê và quản lý của 3 nước
Các văn bản ký kết và kế hoạch triển khai hợp tác của chính phủ 3 nước về phát triển
khu vực CLVDTthu thập qua các nhà nghiên cứu và các cơ quan ngoại giao, bộ và sở kế
hoạch đầu tư
Các kênh thông tin khác như các trang tin điện tử, báo chí….
Tài liệu từ các cuộc khảo sát thực địa
Kết hợp với các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á để đi thực địa và thu
thập dữ liệu tại địa bàn nghiên cứu
Ý kiến chuyên gia thông qua các cuộc trao đổi, tham vấn
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI VÙNG TAM GIÁC PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - LÀO - CAMPUCHIA
2.1. Một số vấn đề lý luận phát triển vùng tam giác phát triển

các thuật ngữ “vùng”, “khu vực”, “miền”
Tuy còn có nhiều quan niệm khác nhau nhưng có thể nhận thấy một số dấu hiệu đặc
trưng của vùng sau đây:
- Vùng là một thực thể khách quan chứ không phải do con người thiết kế, sáng tạo ra
để phục vụ cho mục đích riêng của mình;
- Vùng làm một không gian địa lý có vị trí, kích thước, hình dáng, quy mô xác định;
- Vùng bao gồm các yếu tố cấu thành tương đối đồng nhất bên trong với nhau (nhưng
không đồng nhất với nhau), nhưng lại tương đối khác biệt với bên ngoài;
- Trong vùng, ở các mức độ khác nhau, liên tục diễn ra các quá trình tự nhiên, nhâu
khẩu học, kinh tế và xã hội.
Ở góc độ hợp tác quốc tế, vùng được nhìn rộng hơn. Đến nay chưa có một định nghĩa
rõ ràng nào về vùng quốc tế mà thường chỉ có các khái niệm công cụ cho các vùng cụ thể
đối với các vùng hợp tác giữa các quốc gia như Tiểu vùng sông Mê Kông, các vùng tam
giác tăng trưởng, tam giác phát triển, khu vực Đông Nam Á, khu vực Đông Bắc Á, …Tuy
nhiên dù là vùng quốc tế nhưng vẫn có những đặc trưng ở trên.
Khi nghiên cứu về vùng, có thể nhận thấy vùng chịu tác động bởi 7 nhân tố cơ bản sau:
Thứ nhất là điều kiện tự nhiên của vùng bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và
vị trí địa lý.
Thứ hai là vốn cho đầu tư phát triển.
Thứ ba là nhân tố lao động.
Thứ tư là nhân tố khoa học công nghệ.
Thứ năm là nhân tố hợp tác.
Thứ sáu là nhân tố kết cấu hạ tầng.
Nhân tố thứ bảy là cơ chế chính sách.
Khi phân tích các điều kiện phát triển của một vùng, luôn phải lưu ý phân tích đầy đủ
các nhân tố trên trong mối tương quan chặt chẽ với nhau.
2.2. Cơ sở hình thành và phát triển CLVDT
2.2.1. Xu hướng hình thành và phát triển các tam giác phát triển ở Đông Nam Á
Từ cuối nhưng năm 90 của thế kỷ 20, với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh đã mở
đường cho hoạt động liên kết và hợp tác quốc tế, trong đó đặc biệt là các hoạt động liên

Mozambic.
Qua nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các tam giác phát triển ở Đông
Nam Á (xem chi tiết phụ lục 4) có thể thấy hiện nay các tam giác đều hoạt động khá hiệu quả.
Những nhân tố cơ bản tạo nên sự thành công của các tam giác tăng trưởng là:
Thứ nhất, các vùng và khu vực tham gia hình thành nên tam giác phải là các vùng
địa lý liền kề với nhau và ở biên giới của các quốc gia và phải dễ tiếp cận đối với các nước
khác nếu không mở cửa hoàn toàn.
Thứ hai, có ít nhất một trung tâm như Singapore có khả năng làm nhân tố đầu đàn tạo
ra những hiệu quả thương mại và đầu tư lan truyền sang khu vực lân cận.
Thứ ba, như chúng ta có thể thấy trong trường hợp của SIJORI GT, mối quan hệ
tương hỗ trong các nguồn tài nguyên, lao động, công nghệ và địa lý giữa các bên tham gia
tam giác phải tồn tại.
Thứ tư, khu vực tư nhân trở thành động lực chính cho sự phát triển và thành công của
GT, để tiếp sức cho khu vực tư nhân thì cần phải sự do hóa hơn đối với thương mại, lao
động và dòng vốn.
Thứ năm, các GT thành công yêu cầu cơ sở hạ tầng phát triển một cách hợp lý, đặc
biệt là đối với hệ thống giao thông. Câu hỏi còn lại là ai và như thế nào để những yếu cầu
về cơ sở hạ tầng lớn như vậy được cung cấp tài chính đủ.
Thứ sáu, cùng với sự gần gũi về mặt địa lý và sự bổ sung giữa các bên tham gia GT,
mối quan hệ văn hóa và xã hội mạnh mẽ là nhân tố cơ bản hình thành nên một GT thành
công. Về mặt này BIMP-EAGA có thuận lợi hơn so với các GT ASEAN khác vì EAGA có
các mối quan hệ chung lâu dài trong lịch sử di dân nội khối và tập quán hải đảo.
Cuối cùng, một trong những thách thức lớn nhất đối với thành công của các GT là sự
cam kết chính trị mạnh mẽ của các vùng và các nước tham gia GT.
Sự hình thành nên các tam giác tăng trưởng tại Đông Nam Á và các khu vực khác là
một phương thức hợp tác mới trong hợp tác kinh tế quốc tế. Với mục tiêu khai thác tối đa
lợi thế và bổ sung các điểm bất lợi cho nhau, các tam giác tăng trưởng đều hình thành
trên cơ sở lợi ích kinh tế của mỗi nước và tiểu vùng. Đây là xu hướng mới nhưng khá hiệu
quả nên đang nhận được nhiều sự quan tâm hiện nay.
2.2.2. Các yếu tố cơ bản để hình thành nên vùng CLVDT

Với yêu cầu cần thúc đẩy sự tăng trưởng ở các vùng nghèo nhất của mỗi quốc gia,
đặc biệt là Đông Bắc Campuchia là nhân tố thôi thúc thủ tướng Hunsen đề xuất ý tưởng
hình thành nên CLVDT. Với mỗi quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế sẵn có giữa ba nước và
các vùng biên giới sẵn có là tiền đề cơ bản cho việc tăng cường và thúc đẩy hợp tác kinh tế
của CLVDT. Sự mở rộng lợi ích và không gian kinh tế, yêu cầu ổn định môi trường và thể
chế hóa quan hệ kinh tế quốc tế sẽ dẫn đến xu hướng phát triển hợp tác kinh tế trong vùng.
Tầm quan trọng của yếu tố kinh tế cũng được phản ánh đậm nét đối với tam giác tăng
trưởng khi hầu hết các tam giác phát triển hiện nay được xây dựng với mục tiêu chủ yếu là
phát triển kinh tế.
2.2.3. Nhu cầu hợp tác và phát triển tại vùng biên giới chung ba nước Việt Nam, Lào
và Campuchia
2.2.3.1. Thực tiễn hợp tác phát triển của ba nước CLV
Sự hình thành hợp tác khu vực nói chung, tam giác tăng trưởng nói riêng phụ thuộc
vào sự phát triển quan hệ song phương giữa các thành viên. Quan hệ song phương là cơ sở
xuất phát của quan hệ đa phương. So với quan hệ đa phương, quan hệ song phương là cái
bắt đầu, cái có trước. Quan hệ đa phương chỉ được xuất hiện khi các quan hệ song phương
đã ngày càng nhiều và chồng chéo lên nhau, tạo ra những vấn đề liên quan đến lợi ích của
nhiều bên. Quá trình hình thành quan hệ đa phương được bắt đầu trên nền quan hệ song
phương, được thực hiện qua kênh song phương và nhằm giải quyết những vấn đề chung
nảy sinh trong quá trình quan hệ song phương.
2.2.3.2. Lợi ích của sự hợp tác tại CLVDT
Việc xây dựng CLVDT trên vùng biên giới giáp ranh giữa ba nước bao gồm 10 tỉnh
ban đầu và 13 tỉnh sau khi mở rộng thuộc khu vực có tiền năng về phát triển nhưng thực tế
tình hình kinh tế - xã hội của khu vực này phát triển chưa cao. Vì thế việc xây dựng
CLVDT dựa trên một cơ sở chung là lợi ích thu được từ hợp tác phát triển tiểu vùng sẽ lớn
hơn so với lợi ích có thể thu được từ những hoạt động độc lập nhằm thúc đẩy sự phát triển
về mọi mặt kinh tế - xã hội tại vùng tam giác.
Như đã trình bày ở trên, tam giác phát triển đang là một mô hình hợp tác mới nổi của
các nước có địa lý liền kề. Một tam giác phát triển sẽ tạo ra tăng trưởng kinh tế thông qua
việc tăng hiệu suất sử dụng tiềm năng kinh tế như lao động, tài nguyên, vốn, công nghệ mà

phát triển thì Thủ tướng Hunsen đã đề xuất ra ý tưởng hình thành khu vực này.
Ý tưởng này ngay lập tức nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của Việt Nam, vì với Việt
Nam thì khu vực này không những có ý nghĩa về kinh tế trong mối tương quan biên giới
với các tỉnh Tây Nguyên mà còn có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng, an ninh. Bình ổn
và phát triển được vùng tam giác này sẽ góp phần đảm bảo an ninh trật tự chung cho vấn
đề biên giới. Hơn nữa, về kinh tế thì Việt Nam cũng muốn khai thác và mở rộng thị trường
cũng như tiềm năng của các nước bạn.
Trong ba nước thì Lào có ít lợi ích hơn cả trong khu vực này nhưng nếu tham gia thì
Lào sẽ không mất gì mà còn có thể hưởng lợi từ các chương trình phát triển chung.
Và đặc biệt, với hy vọng việc hình thanh CLVDT sẽ thu hút được sự quan tâm của
các nước đối tác, các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp đối với khu vực sẽ tạo ra được
nguồn lực cho phát triển.
Tại cuộc họp cấp cao lần thứ hai tại thành phố Hồ Chí Minh (2002), ba Thủ tướng đã
cam kết sẽ ưu tiên triển khai hợp tác trong khu vực Tam giác phát triển trên các lĩnh vực
giao thông vận tải, thương mại, điện lực, du lịch, đào tạo nguồn nhân lực và y tế. Các
nhóm chuyên gia ba nước bắt đầu tích cực xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế
xây dựng Tam giác phát triển.
Tại cuộc họp cấp cao lần thứ ba tại Siem Reap (2004), ba Thủ tướng đã khẳng định
lại rằng Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam là khu vực hết sức quan trọng và
ra tuyên bố thành lập CLVDT gồm lãnh thổ của 10 tỉnh có đường biên giới hoặc có liên
quan đến khu vực biên giới chung giữa ba nước là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đăk Nông
(Việt Nam), Sekong, Attapeu, Saravan (Lào) và Stung Treng, Rattanak Kiri, Mondul Kiri
(Campuchia).
Tại Hội nghị Ủy ban điều phối chung ba nước về Tam giác phát triển tại Đắk Lắk
ngày 21- 22 tháng 12 năm 2009, ba nước nhất trí bổ sung tỉnh Bình Phước (Việt Nam),
tỉnh Kratie (Campuchia) và tỉnh Champasak (Lào) vào Tam giác phát triển Campuchia -
Lào - Việt Nam.
Như vậy, đến nay tam giác Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia bao
gồm lãnh thổ của 13 tỉnh có đường biên giới hoặc có liên quan đến khu vực biên giới
chung giữa ba nước là: Mondul Kiri, Rattanak Kiri và Stung Treng, Kratie (Campuchia),

thì CLVDT vẫn là khu vực có trình độ phát triển thấp và có sự chênh lệch về trình độ phát
triển giữa các tiểu vùng trong khu vực.
3.1.1.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp) từ trước đến nay
vẫn là ngành sản xuất chủ yếu trong đời sống kinh tế của người dân ở đây. Nông nghiệp
giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp ổn định đời sống nhân dân, trật tự an ninh, an toàn
xã hội của các tỉnh vùng biên giới.
Là khu vực có tiềm năng về nông nghiệp, nên trong những năm qua bên cạnh việc gia
tăng sản lượng lương thực thì khu vực này cũng quan tâm khai thác các lợi thế nông
nghiệp khác của vùng như phát triển cây công nghiệp lâu năm, chăn nuôi đại gia súc.
Nông nghiệp dần phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa.
Bước tranh nông nghiệp của CLVDT đã thay đổi nhiều kể từ khi hình thành tam giác
đến nay. Nếu như năm 2002 và trước đó, sản xuất nông nghiệp ở đây chỉ tập trung vào cây
lương thực là chủ đạo với mục tiêu là đảm bảo an ninh lương thực thì đến nay đã mở rộng
nhiều loại cây trồng khác, trong đó đặc biệt là cây công nghiệp dài ngày đã phát triển
nhanh hơn cả quy hoạch 2004 đề ra.
Như vậy, trong sản xuất nông nghiệp đã có những bước cải thiện rõ ràng, mặc dù
chưa phát triển mạnh về nông nghiệp hàng hóa nhưng điều quan trọng nhất là CLVDT từ
một vùng chưa đảm bảo an ninh lương thực nay đã có sản lượng xuất khẩu (tính chung
trên toàn vùng). Đã phát triển được những vùng cây công nghiệp, vùng chăn nuôi quy mô
lớn. Dù chưa đóng góp nhiều cho giá trị gia tăng trong vùng nhưng đây được ghi nhận là
bước tiến lớn trong phát triển nông nghiệp của vùng.
3.1.1.3. Thực trạng phát triển thương mại và dịch vụ
Do là khu vực biên giới nên thương mại và kinh tế cửa khẩu được đặc biệt quan tâm
và ưu tiên phát triển. Nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại, nhiều chính sách ưu đãi về
thuế và thủ tục hải quan đã được áp dụng. Những chính sách này đã thúc đẩy kim ngạch
thương mại hai chiều giữa các nước trong vùng. Nhưng do mới trong giai đoạn đầu của
sản xuất nên thương mại ở đây còn chưa thực sự phát triển.
Về dịch vụ, mặc dù là khu vực có nhiều tiềm năng khai thác du lịch và đã bước đầu
có những đầu tư vào dịch vụ du lịch nhưng đến nay tiềm năng và lợi thế về phát triển du

một trong những trụ cột của công cuộc xóa đói giảm nghèo. Dù còn khó khăn nhưng nếu so
với 5 năm trước đây thì hệ thống chăm sóc y tế ở đây đã được cải thiện rất nhiều.
Trong vùng CLVDT thì các tỉnh của Việt Nam có hệ thống y tế phát triển hơn hẳn.
Trong những năm qua kết quả chăm sóc y tế cho người dân đã được cải thiện nhiều. Trong
những năm gần đây một số bệnh viện, cơ sở y tế đã được đầu tư nâng cấp, tuy nhiên với
mức đầu tư hạn hẹp nên các cơ sở y tế nhanh chóng xuống cấp.
Nhìn chung toàn bộ vùng CLVDT về công tác phát triển dịch vụ y tế và chăm sóc sức
khỏe người dân chưa đáp ứng được với nhu cầu phát triển. Trong đó đặc biệt kém phát
triển ở các tỉnh của Campuchia. Ở các tỉnh của Lào và Việt Nam mặc dù nhận được sự
quan tâm đầu tư của nhà nước nhưng chất lượng y tế vẫn chưa cao, còn nhiều bất cập
trong cung cấp và tiếp cận dịch vụ y tế của người dân.
3.1.2.2. Giáo dục, đào tạo
Giáo dục là lĩnh vực được quan tâm và ưu tiên đầu tư tại tất cả các tỉnh trong
CLVDT. Trong nhưng năm qua hệ thống trường lớp đã được nâng cấp và xây mới. Tỷ lệ
học sinh đến lớp tăng hàng năm. Chất lượng giáo dục bước đầu được cải thiện.
Nhìn tổng thể vấn đề giáo dục và đào tạo toàn vùng có thể thấy nếu đánh giá ở mức
trung bình chung so với mỗi quốc gia thì còn thấp, nhưng nếu so sánh theo thời gian thì
trong những năm gần đây giáo dục, đào tạo đã thực sự có những bước chuyển biến lớn,
trong đó đặc biệt là đối với vùng Tây Nguyên của Việt Nam đã được quan tâm đầu tư
nâng cao cả chất lượng và quy mô. Trong các tỉnh thuộc vùng tam giác thì các tỉnh của
Lào đã được quan tâm đầu tư hệ thống giáo dục nhưng hiện tại vấn đề chất lượng giáo dục
và đào tạo chưa cao. ở các tỉnh của Campuchia thì do vấn đề về nguồn lực và trình độ
nhận thức nên dù đã cải thiện nhiều nhưng giáo dục, đào tạo ở đây có thể đánh giá là kém
phát triển.
3.1.2.3. Lao động, việc làm
So với các vùng khác trên cả nước, khu vực Tam giác có số lượng dân cư và mật độ
dân số tương đối thấp, nhất là khu vực Đông Bắc Campuchia và Nam Lào. Chính vì vậy,
lực lượng lao động và việc làm của khu vực này cũng không lớn và chủ yếu tập trung ở
khu vực của Việt Nam.
Lực lượng lao động của các tỉnh Campuchia và Lào có những đặc điểm chủ yếu đó

từ khi hình thành nên Tam giác phát triển, khu vực Nam Lào, Đông Bắc Campuchia nói
riêng và các tỉnh của Việt Nam đều nhận được nhiều sự quan tâm đầu tư hơn của chính
phủ mỗi nước và ưu tiên đầu tư chung của 3 chính phủ. Các trọng tâm đầu tư trong giai
đoạn đầu hình thành Tam giác đều tập trung chung vào vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng của
khu vực này. Phát triển cơ sở hạ tầng cho CLVDT là thành tựu nổi bật và quan trọng nhất
trong thời gian qua. Tuy vậy, đến nay khu vực nay vẫn là khu vực kém phát triển về cơ sở
hạ tầng.
3.2. Các nhân tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng CLVDT
3.2.1. Điều kiện tự nhiên
CLVDT là một vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, có
nhiều yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế. Bên cạnh đó đây là vùng có vị trí địa lý quan
trọng và thuận lợi. Tam giác phát triển có vị trí chiến lược đối với cả ba nước về chính trị,
kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái. Đây là điểm giao thương kết
nối lý tưởng chung cho cả ba nước về mặt vận chuyển. Xét về mặt kinh tế thì đây là điểm
tập trung và trung chuyển hàng hóa lý tưởng cho bản thâm khu vực tam giác và các tỉnh
khác của Campuchia, Lào ra với bên ngoài với chi phí giá thành vận chuyển thấp hơn do
quãng đường di chuyển ngắn hơn. Vị trí địa lý của khu vực còn được thể hiện ở vị trí kết
nối của vùng với bên ngoài. Nằm trong tiểu vùng sông Mê Kông, CLVDT có khả năng kết
nối tới các điểm khác của GMS một cách thuận lợi. Và hơn nữa, trong tổng thể của lộ trình
xây dựng ASEAN thì đây là một trong những điểm kết nối quan trọng cho sự phát triển
chung của khu vực
3.2.2.Vốn cho đầu tư phát triển còn hạn chế
Tại CLVDT, trong thời gian qua vốn cho đầu tư phát triển đến từ ba nguồn chính.
Thứ nhất là vốn hỗ trợ của mỗi nước dành cho các tỉnh thuộc tam giác phát triển của mình.
Đối với hoạt động khởi đầu của Tam giác phát triển, nguồn vốn đóng góp của Chính phủ
ba nước là rất quan trọng, đặc biệt cho việc nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Đến
nay giữa Việt Nam và Lào đã có sự hợp tác xây dựng quốc lộ 18B nối thủ phủ của Attapeu
tới biên giới Việt - Lào, nối tiếp với quốc lộ 40 của Việt Nam; giữa Việt Nam
và Cămpuchia cũng đang triển khai các hoạt động tiến tới việc nâng cấp quốc lộ 78 nối thủ
phủ của Rattanak Kiri tới biên giới Việt Nam - Campuchia. Trong quá trình phát triển tiếp

với thế giới mà còn lạc hậu so với bản thân mức trung bình chung của mỗi quốc gia.
3.2.5. Hợp tác giữa ba nước CLV và trong vùng CLVDT ngày càng được tăng
cường.
Hợp tác CLVDT là một hình thái hợp tác đặc biệt. Trong bản thân nội bộ vùng thì hợp
tác này cũng gồm những yếu tố liên kết vừa mang tính liên tỉnh lại vừa mang yếu tố quốc tế.
Sự hợp tác nội vùng trong thời gian qua được kết hợp khá tốt và đã có nhiều hỗ trợ tích cực
cho quá trình phát triển của vùng. Điều này được nhìn từ sự kết hợp giữa các tỉnh trong
cùng một nước tạo thành vùng phát triển của nước đó như Tây Nguyên của Việt Nam, Nam
Lào, Đông Bắc Campuchia đều là những vùng quy hoạch phát triển của mỗi nước.
Đối với nhân tố hợp tác của vùng, đặc biệt là với vùng quốc tế như CLVDT thì cho
đến nay nhân tố này đang phát huy hiệu quả tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát triển
chung của vùng.
3.2.6. Kết cấu hạ tầng yếu kém, lạc hậu cản trở sự phát triển chung.
Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng hiện nay thì thấy rằng lợi thế và tiềm năng còn
nhiều nhưng chưa thực sự được khai thác và đầu tư thích đáng. Muốn phát triển vùng bền
vững thì còn là một quá trình dài với những chính sách định hướng và đầu tư tổng hợp.
Đây là khó khăn chung của cả ba nước. Do vậy, để phát triển cần phải có những bước
hoạch định thận trọng và không nên nóng vội, trong đó nên ưu tiên cho tăng trưởng trước
mắt nên là đầu tư cho cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu tại chỗ.
3.2.7. Cơ chế chính sách của mỗi nước và cho riêng vùng đang phát triển theo hướng
thuận lợi hóa tối đa cho phát triển.
CLVDT tuy mới được hình thành nhưng đã có những bước phát triển tương đối vững
chắc. Cho tới nay, chính phủ ba nước đã dần hình thành cơ chế hợp tác trên các cấp độ
khác nhau, giữa ba chính phủ, giữa các bộ ngành, giữa các địa phương trong việc phát
triển thương mại và đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng và dần định hướng được cơ cấu phát
triển cho khu vực.
4. 3. Đánh giá chung về sự phát triển kinh tế - xã hội của CLVDT.
Điểm mạnh
Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng và là những tài nguyên có thể khai thác
phục vụ phát triển nông nghiệp, công nghiệp và du lịch.

trọng để thu hút FDI vào khu vực.
Thách thức
Áp lực cạnh tranh đang ngày càng gia tăng trên thế giới, giữa các quốc gia và bản
thân giữa các địa phương với nhau.
Thiếu vốn và thiếu những cơ chế đề huy động vốn từ bên ngoài một các hiệu quả
khiến cho nguồn lực dành cho phát triển hạn chế.
Cơ chế vận hành các chính sách còn chưa thống nhất từ trên xuống và giữa các bên.
Các vấn đề liên quan đến buôn lậu, di cư trái phép, dịch bệnh, môi trường.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
4.1. Đánh giá kết quả hợp tác phát triển CLVDT
So với mục tiêu đề ra ban đầu thì có thể khẳng định đã đạt và vượt mục tiêu đề ra ban đầu.
Lợi ích mà CLVDT mang lại là có thể được đánh giá là lớn hơn lợi ích mà mỗi nước
hay mỗi tiểu vùng trong mỗi nước thu được nếu không có cơ chế CLVDT. Có thể khẳng
định CLVDT là hình thức hợp tác quốc tế hiệu quả đối với CLV xét trên các góc độ chính
trị, kinh tế, xã hội và cả văn hóa.
Về chính trị, CLVDT đã góp phần củng cố hòa bình và an nình trong khu vực. Thông
qua hợp tác trong CLVDT, mối quan hệ hợp tác không chỉ được phát triển ở cấp độ quốc
gia với nhau mà còn phát triển theo chiều sâu ở các cấp địa phương. Thông qua hợp tác đã
tạo nên sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế địa phương. Điều này đặc biệt
quan trọng đối với một vùng có nhiều dân tộc ít người sinh sống. Thông qua phát triển
kinh tế sẽ góp phần ổn định đời sống dân cư, người dân hài lòng với cuộc sống hơn sẽ hạn
chế bớt các tình trạng xung đột và chống phá nhà nước. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối
với Việt Nam khi những vấn đề chính trị ở Tây Nguyên nhưng năm gần đây nổi lên và cần
được ổn định. Sự ổn định về chính trị của toàn vùng trong những năm gần đây cũng là một
minh chứng cho lợi ích chính trị mà ba nước đã đạt được.
Nếu không có CLVDT, chắc chắn mỗi quan hệ chính trị CLV vẫn được phát triển,
tuy nhiên, cộng thêm nữa hình thức hợp tác trong CLVDT đã làm sâu sắc và cụ thể hơn
những hợp tác vốn có của CLV.
Về mặt kinh tế, qua phân tích đáng giá ở Chương 3 cho thấy kinh tế của vùng đã có
bước tăng trưởng cao so với trước đây, một số địa phương có tốc độ tăng trưởng cao hơn

Thứ nhất, phải xác định rõ ràng ưu tiên cho tăng trưởng hay phát triển,
Thứ hai, phải tạo cực tăng trưởng thông qua các vùng kinh tế động lực.
Thứ ba, với đặc điểm điều kiện phát triển khá tương đồng như CLVDT cần phải chú
ý đến yếu tố lợi thế kinh tế nhờ quy mô và phải tạo ra được các chuỗi sản xuất ngành hàng
trong vùng.
Thứ tư, phát triển phải đảm bảo tính hệ thống. Nghĩa là phát triển phải theo hướng đã
dạng hóa, hiện đại hóa nhưng vẫn phải đảm bảo tính bền vững.
Thứ năm, cần đảm bảo tính kết nối giữa các vùng với nhau.
Thứ sáu, cần hoàn thiện hệ thống thể chế cho phát triển, điều này đặc biệt cần thiết
với một vùng quốc tế như CLVDT vì với vùng nay vấn đề thể chế cho phát triển chị sự chi
phối từ ba cấp.
Thứ bảy, cần phải chú trọng đến phát huy vai trò tư nhân trong các khu vực kinh tế.
Thứ tám, phải lưu ý yếu tố công nghệ và năng lực công nghệ trong phát triển.
Thứ chín, phải có một bộ máy quản lý tốt đề điều phối đối với các hoạt động của
vùng CLVDT.
Thứ mười, cần lồng ghép sự phát triển của CLVDT trong mối tương quan phát triển
của khu vực tiểu vùng sông Mê Kong, của ASEAN, của các hành lang kinh tế…
4.3. Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển kinh tế xã hội CLVDT trong
thời gian tới.
Thứ nhất, cần định kỳ đánh giá, rà soát việc thực hiện quy hoạch phát triển chung của vùng
Thứ hai, hình thành một số khu kinh tế trọng điểm.
Thứ ba, bên cạnh việc xác định các khu kinh tế trọng điểm cần sớm hình thành cực
tăng trưởng của vùng.
Thứ tư, nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của vùng cần tạo ra các thể chế thuận lợi
cho vùng.
Những giải pháp nêu trên là những giải pháp được lựa chọn bởi tính cần thiết và thời
sự của phát triển vùng. Trong phát triển vùng cần phối hợp nhiều hơn nữa với các giải
pháp khác, đặc biệt cần lưu ý nhóm giải pháp về quản lý phát triển bởi nếu đường hướng
đúng mà thực thi không tốt thì cũng khó dẫn đến thành công.
KẾT LUẬN

cho cả ba nước trong một hình thức hợp tác mới trong CLVDT.
Qua nghiên cứu thực trạng phát triển vùng từ khi hình thành cho thấy phát kinh tế -
xã hội đã có những bước phát triển đáng kể theo chiều hướng tích cực, tuy nhiên trình độ
phát triển phát triển còn yếu kém, ở mức thấp so với mức trung bình chung của mỗi nước.
Kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, sản xuất mới chỉ trong giai đoạn đầu chuyển
sang sản xuất hàng hóa và sử dụng các kỹ thuật mới. Thương mại, dịch vụ và sản xuất
công nghiệp bắt đầu có những chuyển biến nhưng cũng ở dạng sơ khai của tiến trình phát
triển. Đời sống xã hội có nhiều chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ những nhu cầu cơ
bản của người dân. Có thể nói dù cho vùng có những điều kiện tự nhiên khá tốt nhưng
chưa khai thác được hết tiềm năng.
Khi phân tích bảy nhân tố tác động đến khả năng phát triển của vùng cho thấy nhưng
nhân tố mang tính thể chế có chiều hướng thuận lợi hơn là những nhân tố đặc trưng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status