tóm tắt luận án tiến sĩ giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản các huyện phía nam thành phố hà nội - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

GIẢI PHÁP KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
CHO PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
CÁC HUYỆN PHÍA NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 62 31 01 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2014

- Thư viện Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Thuỷ sản là một trong những ngành hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn của đất
nước (đứng thứ tư về kim ngạch xuất khẩu). Thủy sản có đóng góp đáng kể vào sự
nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nó còn góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo an sinh xã hội. Phát
triển nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) của Hà Nội đang chưa tương xứng với tiềm năng hiện
có. Mặt khác, sự phát triển NTTS một cách tự phát, ồ ạt cũng đã dẫn đến nhiều vấn đề
bất cập. Hầu hết các hộ NTTS sử dụng trực tiếp nguồn nước tự nhiên cho NTTS, không
qua kiểm tra chất lượng đầu vào, nước thải không xử lý mà xả thải trực tiếp ra môi
trường (MT), việc sử dụng hoá chất và chất kháng sinh một cách tuỳ tiện, việc quản lý
chất thải rắn kém hiệu quả, đã làm cho MT NTTS bị ô nhiễm. Đây là những vấn đề kinh
tế, xã hội và MT bức xúc cần được giải quyết và nó có ảnh hưởng đến sự phát triển của các
ngành kinh tế khác.
Trước thực tế đa dạng, phong phú, rộng lớn và lại có nhiều đặc thù như vậy, cần
phải thay đổi cách nhìn nhận về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) cũng như
bảo vệ môi trường (BVMT) trong NTTS. Vì vậy, tôi tiến hành lựa chọn nghiên cứu đề
tài “Giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản các
huyện phía Nam thành phố Hà Nội”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đánh giá thực trạng phát triển NTTS
và việc thực hiện các giải pháp kinh tế và quản lý môi trường (QLMT) NTTS ở các
huyện phía Nam thành phố Hà Nội từ đó đề xuất và hoàn thiện hệ thống các giải pháp
kinh tế và QLMT cho phát triển NTTS trong thời gian tới nhằm đảm bảo phát triển bền
vững ngành NTTS vùng nghiên cứu.

nước và quốc tế, đề tài luận giải các nội dung kinh tế và QLMT cho phát triển NTTS;
Bản chất các vấn đề về MT; phân tích ảnh hưởng của các yếu tố (quy mô, cơ cấu NTTS)
đến hiện trạng MT cũng như ảnh hưởng của MT đến phát triển NTTS.
(2) Đề tài tập trung phân tích, đánh giá kết quả phát triển NTTS giai đoạn 2009 -
2011, những ảnh hưởng của sự phát triển này đến các thành phần MT, các kết quả đánh
giá, phân tích dựa trên những nguồn số liệu khảo sát (sơ cấp và thứ cấp); khẳng định mối
quan hệ giữa phát triển NTTS với chất lượng MT nước.
(3) Đề tài phân tích các giải pháp kinh tế và QLMT cho phát triển NTTS hiện đang
áp dụng đồng thời chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu trong việc thực thi chính sách, pháp luật
BVMT trong hoạt động phát triển NTTS nhằm đáp ứng yêu cầu hiện nay.
(4) Luận án đề xuất, hoàn thiện hệ thống các giải pháp về kinh tế và QLMT nhằm
thức đẩy NTTS phát triển ổn định hơn nữa trong tương lai.Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển nuôi
trồng thuỷ sản
1.1.1
Phát triển n
uôi trồng thuỷ sản
Luận án phân tích các quan điểm về phát triển NTTS, nội dung của phát triển
NTTS; Các hướng chính của phát triển NTTS bao gồm bền vững về kinh tế, xã hội, môi
trường và thể chế; Vai trò của phát triển NTTS bao gồm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu và đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm.

3
1.1.2 Môi trường nuôi trồng thuỷ sản
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 đưa ra khái niệm “Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con
người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên

từ quan điểm định lượng hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên thuỷ sản.
QLMT nước là quản lý các nguồn nước nhằm hạn chế tối đa sự tạo thành của các

4
chất gây ô nhiễm. Sự ô nhiễm các nguồn nước có thể xảy ra do ô nhiễm tự nhiên và ô
nhiễm nhân tạo. Nguồn nước bị ô nhiễm có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thuỷ sinh vật, việc
sử dụng nguồn nước vào mục đích cấp nước hoặc mỹ quan.
Hệ thống QLMT cho phát triển NTTS có thể phân chia thành 4 cấp (trung ương,
địa phương, cộng đồng và cá nhân/hộ NTTS). Các loại công cụ QLMT NTTS cơ bản bao
gồm: pháp luật và chính sách, kỹ thuật quản lý, và giáo dục và truyền thông MT.
1.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến môi trường nuôi trồng thuỷ sản
Các yếu tố ảnh hưởng đến MT NTTS bao gồm nhóm các yếu tố tự nhiên, KT-XH
và chính sách. Một số yếu tố cơ bản là vị trí khu vực nuôi, nguồn nước và chất lượng
nước, lựa chọn và quản lý thức ăn trong NTTS, chất thải, và sử dụng nguồn lợi.
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện giải pháp kinh tế và quản lý môi
trường cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực thi hay tình hình tuân thủ các quy định
QLMT cho phát triển NTTS. Ảnh hưởng của các yếu tố này tuỳ thuộc vào thể chế luật
pháp, tình trạng nền kinh tế, vấn đề đạo đức, văn hoá của mỗi cộng đồng cũng như mỗi
quốc gia, phụ thuộc vào mỗi cá nhân, chủ đơn vị sản xuất kinh doanh… Nếu chi tiết các
yếu tố ảnh hưởng có thể theo nội dung của chính sách và các tác nhân tham gia vào quá
trình quản lý và thực thi chính sách. Luận án cũng đề cập đến nhóm các yếu tố ảnh
hưởng đến cộng đồng và hộ NTTS.
1.2 Cơ sở thực tiễn
Luận án đã tổng hợp các giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển
NTTS áp dụng bởi các nước Trung Quốc và Thái Lan làm cơ sở để đúc rút kinh nghiệm
cho Việt Nam. Trung Quốc hạn chế số lượng và qui mô các trang trại NTTS ở một số
tỉnh, nhất là phái Nam, áp dụng khoa học kỹ thuật như công nghệ “hiếu khí”, sử dụng
cây thuốc truyền thống địa phương. Thái Lan áp dụng tiêu chuẩn đói với các công ty sản

ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.
- Điều kiện cơ sở hạ tầng: đang trên đà hoàn thiện đồng bộ để kịp xứng tầm với các
nước bạn trong khu vực
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005 - 2011 khoảng 27%/ năm.
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn
Các huyện phía Nam thành phố Hà Nội là vùng gần trung tâm văn hoá, chính trị
xã hội, dễ dàng giao lưu kinh tế với các vùng lân cận; Có điều kiện tự nhiên tốt để phát
triển nuôi trồng các đối tượng thuỷ sản khác nhau. Vùng cũng có nhiều tiềm năng phát
triển NTTS với hệ thống ao, hồ có trữ lượng nước khá lớn, hệ thống sông phong phú.
Những khó khăn chính là tình hình thời tiết, khí hậu trong những năm gần đây
biến đổi thất thường, trong khi công tác dự báo còn hạn chế nên ảnh hưởng trực tiếp đến
sản xuất NTTS. Hệ thống sông trong khu vực nội thành bị ô nhiễm nặng do phải tiếp
nhận một lượng lớn chất thải sinh hoạt, y tế, chất thải công nghiệp.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án sử dụng hướng kết hợp tiếp cận định tính và định lượng. Tiếp cận định
tính được sử dụng để đưa ra các nhận định, đánh giá dựa trên các ý kiến của chuyên gia, cán
bộ, người NTTS (PRA). Tiếp cận định lượng chủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích
của thống kê. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng mô hình hàm sản xuất và mô hình phân tích biến
rời rạc (mô hình logit). Hai phương pháp: tiếp cận có sự tham gia và tiếp cận từ dưới lên

6
cũng được sử dụng, đó là dựa trên các số liệu điều tra hộ NTTS, tham vấn và ý kiến từ các
nhà quản lý, các cán bộ thực thi QLMT để tổng quát vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập số liệu, thông tin: Thu thập thông tin thứ cấp ở các cơ
quan, ban ngành, các báo cáo nghiên cứu, các công trình công bố. Thông tin và số liệu sơ
cấp được thu thập từ 225 hộ NTTS của 4 huyện: Thanh Trì, Phú Xuyên, Chương Mỹ và
Thường Tín.
- Phương pháp xử lý số liệu: gồm kiểm chứng số liệu, phân loại số liệu theo
phương pháp phân tổ thống kê và xử lý số liệu theo chương trình SPSS, LIMDEP.
- Các phương pháp phân tích chủ yếu gồm: thống kê mô tả, thống kê so sánh, đánh

1
:
Hình thức nuôi (D
1
= 1, nếu hộ nuôi thâm canh, D
1
=0, nếu hộ nuôi khác); D
2
: Kênh lấy
nước riêng (D
2
= 1 là hộ có kênh lấy nước vào ao riêng, D
2
=0 là không có kênh lấy nước
riêng); D
3
: Dùng hóa chất xử lý ao nuôi (D
3
=1 là hộ có dùng hóa chất xử lý ao nuôi,
D
3
=0 là không dung hoá chất xử lý ao nuôi).
Chúng tôi cũng sử dụng mô hình Logit để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố ảnh
hưởng đến xác suất xảy ra biến cố nào đó. Mô hình lý thuyết có dạng:
Prob(Y=1) =
1
X
X
e
e


7
ô nhiễm, có 5 mức theo đánh giá của hộ
1
; D
1
là biến giả phản ánh hình thức nuôi (như
mô hình 1).
Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của hộ sử dụng các biện pháp
BVMT (sử dụng kênh lấy nước riêng hoặc hoá chất), đề tài sử dụng mô hình muti-logit
(mô hình biến rời rạc có nhiều mức khác nhau). Mô hình lý thuyết như sau:
'
'
0
Pr ( | )
1
ji i
ji i
X
n
X
j
e
ob Y j X
e
β
β
=
= =
+

3.1.1 Tổng quan tình hình phát triển NTTS của các huyện
Cũng như các vùng khác trên cả nước, các huyện phía Nam Hà Nội ít có hộ nào
chuyên về nghề cá hay NTTS. NTTS thường được kết hợp với nông nghiệp và các nghề
khác theo mùa vụ và thời gian. Những năm qua, trong vùng số hộ tham gia NTTS đều có
xu hướng tăng, BQ gần 15% trong giai đoạn 2008-2010. Số lao động TS cũng có xu
hướng tăng, từ 12.141 lên 16.082 lao động trong cùng thời kì.

Các huyện phía Nam thành phố Hà Nội có nhiều tiềm năng phát triển NTTS nước
ngọt. Vùng có nhiều loại hình mặt nước lớn và có lợi thế phát triển nhiều hình thức nuôi

1
Rất tốt, Khá tốt, Bình thường, Ô nhiễm, và Rất ô nhiễm. Tuy nhiên, không có hộ nào phản ánh mức rất
tốt.

8
khác nhau, như nuôi thâm canh, bán thâm canh. Tốc độ tăng diện tích NTTS BQ cao,
gần 7%, từ 5.392 ha năm 2005 lên 8.083 ha năm 2011. Trong 6 huyện của vùng thì
huyện Chương Mỹ có diện tích NTTS nhiều nhất với 1.852,6 ha (năm 2011).
Bảng 3.1 Diện tích nuôi thuỷ sản giai đoạn 2005 – 2011 của vùng (ĐVT: ha)
TT

Huyện 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
Tốc độ
PTBQ
(%)
1 Thanh Trì 754,0

784,1

812,5


1.446,0

1.331,0

1.379,3

1.343,0

1.381,0

1.366,4

101,28

4

Thanh Oai

503,0

466,0

663,0

681,9

991,8

1.000,5


1.266,0

1.093,9

1.471,5

1.891,7

1.852,6

107,55

Tổng 5.392,0

6.156,1

6.376,5

6.356,9

7.603,5

8.180,6

8.083,5

106,98
Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội, UBND các huyện (2005 - 2011)


đắp bờ bao xung quanh ao chứ chưa đầu tư nhiều vào kè vở, thời gian sử dụng chỉ được
khoảng 2 - 3 năm, thậm chí có những hộ chỉ đến năm nào lo tu sửa năm đó. Cách làm
này không hiệu quả và rủi ro cao khi lũ lụt xảy ra.
Chi phí về giống BQ khoảng 24 triệu đồng/ha chiếm 13,15% tổng chi phí. Chi phí thức
ăn chiếm khá lớn trong tổng chi phí đầu vào NTTS (trên 50%). Bình quân hộ NTTS chi 28,75
triệu đồng/ha thức ăn tươi và 68,35 triệu đồng thức ăn công nghiệp (tương ứng 15,87% và
37,73% tổng chi phí). Như vậy, sử dụng hợp lý và có hiệu quả thức ăn là yếu tố quyết định
đến giá thành và hiệu quả kinh tế trong NTTS. Thực tế khảo sát cho thấy hiện nay các hộ
NTTS còn sử dụng một lượng lớn thức ăn tươi, vượt nhiều so với yêu cầu kỹ thuật cho phép.
Đây là yếu tố chính gây ô nhiễm môi trường (ÔNMT) nước do dư lượng thức ăn tươi.
3.1.2.3 Kết quả và hiệu quả nuôi cá của các hộ nuôi trồng thuỷ sản
Kết quả cho thấy năng suất cá thịt của hộ nuôi theo hình thức thâm canh cao hơn
46% so với hộ nuôi bán thâm canh (12,1 và 8,29 tấn/ha). Tương tự như chi phí, năng
suất của những hộ có qui mô nuôi dưới 1 ha cũng cao hơn nhiều so với hộ nuôi có qui
mô 1-3 ha và trên 3 ha, tương ứng là 44 và 55% (mức sai khác có ý nghĩa thống kê).
Bình quân chung, các hộ đạt năng suất gần 9 tấn cá/ha và sản lượng hơn 26 tấn/hộ.
Nếu xét theo chỉ tiêu giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng (VA) và thu nhập hỗn
hợp (MI) thì hình thức nuôi và qui mô nuôi có ảnh hưởng tới các chỉ tiêu kinh tế này
(bảng 3.2). GO, VA và thu nhập/hộ đều đạt giá trị cao nhất ở hình thức nuôi thâm canh.
Thu nhập từ NTTS của hộ đạt trên 200 triệu chiếm tỷ lệ 51% đối với mô hình thâm canh
và 43% với bán thâm canh.
Bảng 3.2 Kết quả và hiệu quả NTTS của các hộ phân theo quy mô nuôi
(Bình quân 1 ha)
STTChỉ
tiêu
ĐVT
Hình thức nuôi Quy mô nuôi

***

198,21

139,49
***

135,14
***

147,11

3 VA Trđ/ha 144,85

217,41
***

221,33

158,92
**

137,77
**

161,30

4 MI Trđ/ha 115,47

167,52

0,98

1,01

0,99

Ghi chú: So sánh bán thâm canh với thâm canh, qui mô từ 1-3 ha và trên 3 ha với dưới 1 ha;
***, **, và * tương ứng với các mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%; ns: Không có ý nghĩa thống kê.

10
3.1.3 Đánh giá chung ngành nuôi trồng thuỷ sản các huyện phía Nam thành phố Hà Nội
3.1.3.1 Điểm mạnh và tác động tích cực
Các mô hình NTTS đã góp phần huy động được nguồn vốn trong dân vào đầu tư
phát triển sản xuất, cải tạo ao, hồ, đầm lầy bị bỏ hoang thành những ao cá có giá trị kinh
tế cao. Phát triển NTTS góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho các tầng lớp dân cư
ở khu vực nông thôn.
Mô hình NTTS đã làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: nhiều ruộng trũng
cấy lúa hiệu quả thấp, đã được thay thế bằng các mô hình NTTS có hiệu quả hơn.
Mô hình NTTS có vai trò quan trọng góp phần vào việc bảo đảm an ninh thực
phẩm cho các hộ nông dân các huyện phía nam Thành phố Hà Nội.
Trong vùng nghiên cứu có ¾ số hộ NTTS vẫn nuôi theo hình thức quảng canh.
Trong tương lai, khi vấn đề ÔNMT trầm trọng hơn thì nuôi quảng canh lại là hướng để
có thể BVMT tốt hơn.
3.1.3.2 Điểm yếu và tác động tiêu cực đến môi trường
Những điểm yếu và tác động tiêu cực đến MT bao gồm (i) Suy giảm chất lượng
MT nước; (ii) Tài nguyên bị suy thoái; và (iii) Một số vấn đề kinh tế - xã hội có thể nảy
sinh (mâu thuẫn trong sử dụng đất, qui hoạch hạn chế, vấn đề an toàn thực phẩm, ).
3.2 Ô nhiễm môi trường nuôi trồng thuỷ sản các huyện phía Nam Hà Nội
3.2.1 Hiện trạng môi trường nước
Các chỉ tiêu chính được sử dụng để phân tích chất lượng nước trong ao nuôi và

nuôi bán thâm canh. Nếu phân theo quy mô nuôi, mức độ ô nhiễm nguồn nước cao nhất
được đánh giả bởi nhóm hộ nuôi có quy mô nhỏ dưới 1 ha (Bảng 3.3).
Bảng 3.3 Ý kiến của các hộ về môi trường nước NTTS năm 2011
ĐVT: % số hộ
Ý kiến của hộ
Hình thức nuôi Quy mô nuôi
Tính
chung
Bán thâm
canh
Thâm
canh
Dưới 1ha

Từ 1-3ha Trên 3ha
Rất ô nhiễm 19,54 13,73 17,14 23,21 11,54 18,22
Ô nhiễm 43,68 62,75 54,29 45,54 48,72 48,00
Bình thường 33,33 21,57 28,57 26,79 37,18 30,67
Khá tốt 3,45 1,95 0,00 4,46 2,56 3,11
3.2.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến nuôi trồng thuỷ sản của các hộ
3.2.3.1. Ảnh hưởng tới kết quả nuôi trồng thủy sản
Kết quả cho thấy có 28,5% số hộ (64 hộ) trả lời là đã từng bị thiệt hại, họ có năng
suất, sản lượng NTTS thấp hơn hẳn những hộ chưa từng bị thiệt hại. Trong đó, số hộ
NTTS huyện Chương Mỹ cho rằng họ bị thiệt hại nhiều nhất (56,7% số hộ). Hai huyện ít
bị thiệt hại (và thậm chí không bị thiệt hại) là Thanh Trì và Thường Tín. Điều này cho
thấy rằng thiệt hại trong NTTS chủ yếu là do dịch bệnh và khác nhau theo theo vùng.
Bình quân mỗi hộ trong vùng nghiên cứu bị thiệt hại 43,44 triệu đồng, trong đó huyện
Chương Mỹ bị thiệt hại nặng nhất, BQ 85,3 triệu đồng/hộ.
Bảng 3.4 Mối quan hệ giữa kết quả NTTS và mức độ ô nhiễm
Đánh giá

sunfat đồng xử lý ao) thì năng suất đều cao hơn, tương ứng gần 0,28 và 0,12%. Kết quả
này cho thấy ÔNMT trong NTTS có thể có ảnh hưởng tới năng suất NTTS (gián tiếp
thông qua 2 biện pháp này). Như vậy, các hộ bước đầu đã biết ứng xử với công tác
BVMT trong NTTS (họ cố gắng để có thể có được nguồn nước sạch trong NTTS).
Diện tích của hộ có ảnh hưởng ngược chiều đối với năng suất (hệ số -0,2). Điều
này có nghĩa trong vùng nghiên cứu, ngành NTTS đang có hiệu quả theo qui mô giảm
dần, những hộ có nhiều diện tích thì năng suất thấp hơn. Kết quả này phản ánh mức độ
quản lý của hộ còn thấp nên khi diện tích nhiều, kết quả sản xuất của hộ thường không
cao. Một nguyên nhân nữa là những hộ diện tích nhiều thường là diện tích đấu thầu hay
đi thuê, thời hạn ngắn, nên mức độ đầu tư cải tạo chưa cao. Mục tiêu của những hộ này
chủ yếu hướng sang tận dụng diện tích.
Bảng 3.5 Kết quả ước lượng hàm sản xuất của các hộ NTTS
các huyện phía nam thành phố Hà Nội
Các biến Hệ số Sai số chuẩn t kiểm định
Hệ số tự do (C) 1,8098*** 0,0965 18,7602
LnX
1
(Diện tích) -0,2008*** 0,0426 -4,7122
LnX
2
(Giống) -0,0058
ns
0,0265 -0,2198
LnX
3
(Thức ăn tươi) 0,0516*** 0,0085 6,0550
LnX
4

(Thức ăn công nghiệp) 0,0356*** 0,0097 3,6573

(Marginal effect)
Hệ số tự do (
β
0
)
- 5,5366*** -1,0073
Kinh nghiệm NTTS của chủ hộ (X
1
) 0,0658** 0,0120
Trình độ học vấn của chủ hộ (X
2
) - 0,0561 ns -0,0102
Diện tích nuôi (X
3
) - 0,0549ns -0,0010
Mức độ ô nhiễm (X
4
) 1,1629***

0,2116
Hình thức nuôi (D
1
) - 0,9878** -0,1545
Likelihood ratio test statistic
(Kiểm định thống kê tỷ lệ Likelihood)
50,9580***
Ghi chú: *, **, và *** có ý nghĩa tương ứng tại mức 10%, 5%, và 1%; ns là không có ý nghĩa
thống kê. Đơn vị tính và định nghĩa các biến được trình bày trong Chương 2.
Để phân tích chúng tôi sử dụng mô hình Logit (Chương 2). Kết quả cho thấy mô
hình phù hợp với số liệu nghiên cứu. (Kiểm định tỷ lệ hợp lý của mô hình (Likelihood

huyện phía Nam của Thành phố. Một lượng không nhỏ thuốc bảo vệ thực vật được sử
dụng. Phần lớn lượng phân bón và hóa chất được hấp thụ bởi các cây trồng. Tuy nhiên,
dư lượng của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật vẫn còn lại trong đất và tan trong nước.
Những dư lượng này sẽ theo nước ra các sông, hồ, ao và gây ô nhiễm nguồn nước của
NTTS trong vùng.
3.2.4.5 Sử dụng thức ăn trong nuôi trồng thủy sản
Một trong những nguyên nhân gây ra ÔNMT NTTS trong vùng nghiên cứu là do
sử dụng thức ăn trong NTTS. Theo đánh giá của hộ thì sử dụng nhiều thức ăn công
nghiệp thì MT nước của hộ cũng được xếp vào loại ô nhiễm. Hiện nay, các hộ nuôi theo
hình thức thâm canh thường sử dụng nhiều thức ăn công nghiệp. Lượng thức ăn này, các
đối tượng TS nuôi (chủ yếu cá) chưa ăn hết hoặc chưa tận dụng hết, sẽ phân hủy, tan vào
nước gây ra ô nhiễm.
3.3 Thực trạng giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển nuôi trồng
thuỷ sản vùng nghiên cứu
3.3.1 Các giải pháp kinh tế nhằm bảo vệ môi trường nuôi trồng thuỷ sản
3.3.1.1 Các văn bản chính sách đã được ban hành và áp dụng
Bao gồm các văn bản, chính sách của Thành phố Hà Nội; Các chính sách liên
quan đến phát triển NTTS; Hà Nội chưa có chính sách riêng về QLMT NTTS nhưng
trong thời gian qua cũng đã được đầu tư nhiều mặt do vận dụng các chính sách về MT và
phát triển NTTS. Tuy nhiên, một số chính sách còn có những hạn chế và bất cập như
chưa cụ thể, khó áp dụng và còn chồng chéo,
3.3.1.2 Thuế môi trường
Giải pháp kinh tế trong QLMT NTTS được thực hiện dựa trên các công cụ kinh
tế, trong đó thuế MT là công cụ chủ yếu. Thuế MT đã được quy định trong Luật BVMT
2005. Tuy nhiên, cho đến nay công cụ này vẫn chưa được thực hiện trong thực tế. Hiện
tại, Chính phủ vẫn đang nghiên cứu để hoàn thiện danh mục tính thuế MT và mức thuế
suất cho các trường hợp, bao gồm cả MT trong NTTS.
3.3.1.3 Quỹ môi trường
Quỹ MT thành phố Hà Nội được thành lập năm 2000. Ban đầu Quỹ được thành


Việc sử dụng thuốc, hoá chất bị cấm trong NTTS vẫn xảy ra (chiếm 11% số hộ). Nhiều
hộ NTTS đã sử dụng hoá chất để xử lý MT nước (64,5%). Tuy nhiên, vẫn xuất hiện sản
phẩm TS có tồn dư dư lượng kháng sinh. Một trong những lí do các cơ quan QLNN chưa
thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát hoạt động NTTS.
+ Vị trí khu vực nuôi: NTTS của vùng tiếp tục phát triển nhưng chưa có quy hoạch
không gian hài hoà và thân thiện với MT. Theo đánh giá của các hộ thì họ chọn đúng vị
trí khu vực nuôi chỉ khoảng 40%, số còn lại chưa đúng vị trí. Công tác quản lý và quản
lý quy hoạch còn nhiều hạn chế. Trong thời gian qua các địa phương vẫn chưa chú trọng

16
đúng mức đến quy hoạch phát triển theo chiều sâu (thay đổi cơ cấu, tăng chất lượng và
tăng sản lượng), vẫn tập trung phát triển theo chiều rộng (mở rộng qui mô).
+ Hệ thống thuỷ lợi phục vụ NTTS: Trong những năm qua, thành phố đã đầu tư xây
dựng hệ thống kênh mương cho các vùng NTTS tập trung. Một số vùng nuôi đã được
đầu tư khá hoàn chỉnh như xã Đông Mỹ, còn lại hầu hết các vùng nuôi khác do kinh phí
hạn chế nên chỉ được đầu tư một phần. Hệ thống kênh mương hiện nay chủ yếu là kênh
đất (chiếm 80%) chưa được cứng hoá bằng bê tông dẫn đến thường bị sạt lở bờ kênh gây
khó khăn cho việc cấp thoát nước.
+ Hệ thống xử lý môi trường: MT nông thôn tại các huyện đang nghiên cứu có
nguy cơ bị ô nhiễm nặng do thiếu hệ thống thoát nước, thiếu hệ thống thu gom và xử lý
chất thải. 100% các hộ điều tra chưa có hệ thống xử lý MT cho NTTS.
+ Sử dụng hóa chất và kênh lấy nước riêng: Trong vùng, hộ NTTS sử dụng 2 biện
pháp cơ bản để xử lý nước cho NTTS, bao gồm (i) Sử dụng hóa chất (dùng pencolit để
khử trùng hay sunfat đồng xử lý ao) và (ii) Có kênh lấy nước riêng. Trong số 225 hộ
khảo sát, có 35% số hộ không sử dụng 2 biện pháp này, gần 39% số hộ sử dụng hóa chất
để xử lý, khoảng ¼ số hộ kết hợp vừa sử dụng hóa chất và có kênh lấy nước riêng.
Chúng tôi sử dụng mô hình multi-logit để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử
dụng các biện pháp BVMT nước (xử lý nước) của hộ. Kết quả mô hình cho thấy Trình
độ học vấn của chủ hộ, Mức độ ô nhiễm, Diện tích nuôi và Hình thức nuôi có ảnh hưởng
đến việc quyết định đến việc có hay không hộ NTTS áp dụng 2 biện pháp xử lý môi

-0,0053
Trình độ học vấn của chủ hộ (X
2
) 0,1393
**

0,0129 0,4175
***
0,0607
Diện tích nuôi (X
3
) 0,0054
ns

0,0218 0,2049
**

0,0369
Mức độ ô nhiễm (X
4
) 1,6823
***

0,2371 1,6065
***
0,1038
Hình thức thâm canh (D
1
) 2,0157
***

3.3.3 Đánh giá chung về thực hiện các giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát
triển nuôi trồng thuỷ sản
Trong vùng nghiên cứu đang từng bước hình thành các vùng nuôi hiện đại, có quy
mô lớn, không gây ÔNMT Các giải pháp kinh tế nhằm BVMT NTTS hầu như chưa áp
dụng. Các giải pháp QLMT cho phát triển NTTS đã có. Tuy nhiên, sự thiếu đồng bộ
trong thể chế, chính sách; công tác quy hoạch còn chậm; cơ sở hạ tầng thiếu về số lượng
và chất lượng; ứng xử của người NTTS và người tiêu dùng chưa thay đổi nhiều, người
dân chỉ chú trọng vào lợi ích trước mắt mà chưa chú trọng đến việc BVMT, nên phát
triển NTTS của vùng còn hạn chế.
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát
triển nuôi trồng thuỷ sản
3.4.1 Chính sách về bảo vệ môi trường
Một số các quy định, nghị định không rõ ràng, cụ thể điều này gây khó khăn cho
Bộ Tài chính và Bộ TN và MT khi xác định số tiền cần bổ sung vào kinh phí hoạt động
hàng năm cho Quỹ BVMT. Các quy định hiện hành về QLMT NTTS bộc lộ nhiều bất
cập, chưa hoàn chỉnh. Điều này dẫn đến nhiều KCN có nhiều đường xả nước thải và rất
khó kiểm soát tình trạng ô nhiễm môi trường.
Việc thu phí và lệ phí BVMT NTTS chưa thực hiện được và còn gặp nhiều khó
khăn do chưa có những hướng dẫn thực hiện rõ ràng, do năng lực thực hiện ở cấp cơ sở

18
còn yếu. Hiện mới chỉ thực hiện được việc thu phí nước thải ở các khu công nghiệp
nhưng cũng không quan tâm đến lượng ô nhiễm ở địa phương. Số tiền phí này về Quỹ
BVMT còn rất thấp, chỉ đạt dưới 10% (quy định là 40%).
3.4.2 Nhân lực tham gia quản lý môi trường
Nguồn nhân lực phục vụ QLMT nói chung, QLMT NTTS nói riêng còn thiếu và
yếu về chất lượng . Vì vậy việc kiểm tra, thanh tra tình hình vi phạm các quy định về
BVMT NTTS chưa được thực hiện và không phản ánh được đầy đủ tình hình ÔNMT
trong quá trình phát triển NTTS. Mặt khác, thù lao cho cán bộ làm công tác QLMT
không cao, chi phí đi lại cho cán bộ, tình hình cung cấp các thiết bị còn hạn chế. Điều

gây ÔNMT. Do vậy, không cần xây dựng hệ thống nước thải, và cũng không cần đóng
phí BVMT theo quy định. Một số người lại cho rằng vấn đề BVMT là trách nhiệm của
các cơ quan Nhà nước chứ không phải của họ. Bên cạnh đó ý thức chấp hành quy định
về QLMT cho phát triển NTTS của các hộ chưa tốt, các hộ thường trốn tránh trách
nhiệm nộp phí. Trong khi đó các cơ quan QLNN không có chế tài đủ mạnh để xử phạt
việc không nộp hay nộp chậm của các hộ, các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm.
3.4.6.2 Kinh phí bảo vệ môi trường của hộ nuôi trồng thuỷ sản
Các quy định về QLMT NTTS đối với các hộ và cơ sở sản xuất bao gồm nhiều
quy định như xây dựng hệ thống cấp và thoát nước riêng đạt tiêu chuẩn, quy định về nộp
phí BVMT Tuy nhiên, chi phí để xây dựng hệ thống kênh cấp và thoát đạt tiêu chuẩn
MT đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn. Chính vì do hạn chế nguồn lực tài chính nên các hộ
không thể xây dựng được hệ thống kênh mương mà trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà
nước. Theo ý kiến của các hộ điều tra thì không đủ kinh phí chính là nguyên nhân cơ bản
của việc không xây dựng hệ thống kênh cấp nước.
Chính vì vậy tình hình thực hiện các công cụ luật pháp, QLMT còn có hạn chế.
Điều này tạo ra tiền lệ để các hộ khác tiếp tục có vi phạm chứ không có động thái để
tuân thủ các quy định QLMT.
3.4.6.3 Tình hình thực hiện qui định quản lý môi trường của các hộ
Hiện nay tình hình chấp hành các qui định về BVMT và QLMT cho phát triển
NTTS của các hộ NTTS còn hạn chế. Qua kết quả điều tra cho thấy: địa điểm hộ NTTS,
trình độ văn hoá và tuổi của chủ hộ là những yếu tố có ảnh hưởng rõ ràng đến tình hình
chấp hành các quy định QLMT cho phát triển NTTS. Còn những yếu tố khác như loại
hình NTTS, quy mô NTTS là những yếu tố không có ảnh hưởng rõ ràng đến tình hình
chấp hành QLMT cho phát triển NTTS.
3.4.7 Quan hệ thị trường
Khi nói đến quan hệ thị trường với BVMT NTTS và ngành NTTS sẽ đề cập đến 2
mối quan hệ tác động qua lại: (i) tác động của thị trường bên ngoài đến BVMT NTTS và
phát triển NTTS của vùng nghiên cứu, và (ii) Tác động theo chiều ngược lại của ngành
NTTS các huyện phía Nam đến thị trường sản phẩm thủy sản. Thị trường thủy sản của
các huyện phía Nam

Xuất phát từ quan điểm trên, định hướng phát triển NTTS từ nay đến năm 2020 là:
Phát huy lợi thế, phát triển NTTS nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả kinh tế cao gắn với
BVMT; Phát triển NTTS đi đôi với BVMT sinh thái để thực hiện PTBV.
4.1.
2
Mục tiêu phát triển nuôi trồng thủy sản
Phát triển NTTS phải phù hợp với chiến lược phát triển TS của cả nước và nhất là
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội. Nhằm đảm bảo sản lượng TS
tăng trưởng được đúng kế hoạch đề ra. Đến năm 2020, tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành
thủy sản chiếm 11,5% trong cơ cấu GDP toàn ngành nông nghiệp. Giá trị sản xuất thủy
sản tăng bình quân 11,3% giai đoạn 2015-2020. Ngoài ra, phát triển NTTS còn phải
không ngừng nâng cao trình độ và tinh thần cho người dân, những người lao động thuỷ
sản, gắn với BVMT sinh thái. Do đó, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp kinh tế và
QLMT cho phát triển NTTS.
4.1.
3
Căn cứ đề xuất và hoàn thiện các giải pháp
Căn cứ vào quan điểm, định hướng, mục tiêu phát triển ngành NTTS, từ thực trạng
NTTS, tình hình ÔNMT trong NTTS, tình hình thực hiện các giải pháp kinh tế và QLMT
cho phát triển NTTS và các yếu tố ảnh hưởng đến giải pháp này là căn cứ quan trọng để
luận án đề xuất và hoàn thiện hệ thống các giải pháp cần trong tương lai. Ngoài ra, cơ sở

21
của các giải pháp còn xuất phát từ ma trận SWOT hay phân tích các điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội và thách thức trong nghiên cứu giải pháp.
4.2 Đề xuất và hoàn thiện giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển
nuôi trồng thuỷ sản các huyện phía Nam thành phố Hà Nội
Giải pháp thường khó tách bạch giữa nội dung quản lý và kinh tế. Trong quản lý
thường bao hàm cả nội dung kinh tế. Tuy nhiên, để cụ thể và chi tiết, trong chương này
chúng tôi đề xuất nhóm giải pháp kinh tế và quản lý riêng.


22
trồng thuỷ sản; Quy hoạch phát triển dịch vụ kỹ thuật phục vụ phục vụ sản xuất và từng
bước giải quyết tình trạng ÔNMT, đảm bảo cho NTTS PTBV hơn. Nội dung thực hiện
giải pháp bao gồm: Quy hoạch diện tích ruộng trũng nuôi trồng thuỷ sản; Quy hoạch
thuỷ lợi phục vụ NTTS
4.2.2.2 Hoàn thiện văn bản pháp qui về quản lý môi trường
Nội dung thực hiên bao gồm: Bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp qui về
BVMT NTTS; Xây dựng chính sách hỗ trợ BVMT cho các hộ NTTS như chính sách về
cơ chế hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, chính sách về hỗ trợ và sử dụng đất đai, chính sách
về giống thuỷ sản và một số chính sách khác;
4.2.2.3 Xây dựng và hoàn thiện kỹ thuật quản lý môi trường
Ban hành các qui trình kỹ thuật QLMT nhằm giúp BVMT, hướng các hộ nông
dân NTTS bền vững. Nội dung thực hiện giải pháp: Kỹ thuật giảm thiểu và phòng chống
ÔNMT nước; Kỹ thuật bảo vệ môi trường NTTS ở cấp hộ; Công cụ giảm thiểu và phòng
chống ô nhiễm môi trường đất; Công cụ giảm thiểu và phòng chống ÔNMT không khí;
Áp dụng khoa học công nghệ.
4.2.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng (và cả tuyển dụng) lực lượng cán bộ kỹ thuật có
chuyên môn về NTTS để nâng cao chất lượng và hiệu quả gắn với BVMT NTTS. Bởi
cán bộ kỹ thuật hiện nay của ngành TS còn thiếu nhiều, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển
trong thời gian tới. Nội dung thực hiện giải pháp: đào tạo đối với cán bộ, nhân viên kỹ
thuật, đào tạo đối với các hộ và cá nhân
4.2.2.5 Tăng cường công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường
Nâng cao nhận thức, trình độ của các tầng lớp dân cư, nhất là người NTTS về
BVMT thông qua hệ thống phương tiện truyền thông, các hội thảo, hội nghị, thảo luận
của cộng đồng. Nội dung thực hiện giải pháp: Nâng cao nhận thức về MT cho toàn thể
cộng đồng; Thông qua các phương tiện tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức của
người dân trong việc BVMT và sự thay đổi sở thích tiêu dùng hàng hoá có lợi cho MT
như ưa dùng sản phẩm TS “sạch”; Đưa kiến thức về NTTS và MT vào chương trình

mới chỉ tập trung đắp bờ xung quanh hồ, ao, đầm, chưa đầu tư nhiều vào kè vở. Thủy sản
vẫn là ngành mang lại thu nhập cao cho nông dân. Trong 225 hộ điều tra của 4 huyện có
tới gần 45% số hộ có thu nhập từ NTTS đạt trên 200 triệu/ năm.
- Đối với môi trường NTTS: kết quả cho thấy chất lượng nước trong ao nuôi đang
bị giảm sút, cụ thể chỉ tiêu DO thấp và đều có mức ô nhiễm cao; 65% số hộ NTTS có chỉ
tiêu COD vượt quá ngưỡng cho phép; 40% số hộ có BOD cao hơn giới hạn cho phép;
NH
3
và H
2
S vượt giới hạn từ 1,2 – 2,7 lần. Nguồn nước sử dụng trong NTTS của vùng
nghiên cứu đang bị ô nhiễm. Có tới 2/3 số hộ điều tra cho rằng nước sử dụng NTTS là
rất ô nhiễm hoặc ô nhiễm. Để nâng cao chất lượng nước NTTS, các hộ sử dụng 2 biện
pháp xử lý ô nhiễm chủ yếu là có kênh lấy nước riêng và dùng hóa chất. Kết quả cũng
chỉ rõ nguyên nhân ÔNMT NTTS của vùng tập trung vào các nhóm: chất lượng nguồn
cung cấp nước cho NTTS, chất thải từ các ngành khác trong vùng NTTS và bản thân
ngành NTTS.
- Các giải pháp QLMT cho phát triển NTTS tại vùng nghiên cứu đã và đang thực
hiện bao gồm: Giải pháp hỗ trợ đầu tư phát triển thuỷ sản; Giải pháp giao, cho thuê mặt
đất, mặt nước phát triển NTTS; Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status