skkn phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi thông qua giờ kể chuyện ở trường mầm non - Pdf 24

MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 24 – 36 THÁNG
TUỔI THÔNG QUA GIỜ KỂ CHUYỆN Ở TRƯỜNG MẦM NON
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là niếm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của xã hội. Trẻ em hôm nay
là những công dân tương lai của đất nước, việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ là trách
nhiệm của nhà nước và toàn xã hội, của mỗi gia đình. Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu
để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi cón rất nhỏ để người lớn có thể
chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi
hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách của trẻ. Ngôn ngữ phát triển làm cho
tư duy phát triển, ngôn ngữ phát triển toàn diện của trẻ bao gồm cả sự phát triển vế đạo
đức, chuẩn mực hành vi văn hóa, ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị
thẩm mĩ trong thơ ca, truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có
thể đem đến cho trẻ từ những ngày thơ ấu, sự tác động của lời nói nghệ thuật như một
phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mĩ cho trẻ.
Hiện nay việc trẻ em của chúng ta nói trống không, không đủ câu, trọn nghĩa chiếm
một số lượng không nhỏ và rất khó cho việc tiếp cận với các tác phẩm văn học bởi vì trẻ
một phần nghèo nàn về vốn từ, một phần trẻ không biết phải diễn đạt sao cho mạch lạc,
cho nên chuyện được đưa vào trong chương trình giáo dục mầm non rất quan trọng nhằm
phát triển ngôn ngữ, bao gồm việc làm giàu vốn từ, tập cho trẻ phát âm chính xác, diễn
đạt rõ ràng có ngữ điệu, đứng ngữ pháp, tạo điều kiện cho trẻ có khả năng sữ dụng ngôn
ngữ để giao tiếp và học tập với chức năng giáo dục bằng phương tiện văn học. Chuyện
giúp cho trẻ làm quen với lời hay ý đẹp, hình tượng trong sáng, tập cho trẻ tiếp xúc với
tác phẩm văn học, từng bước xây dựng cho trẻ lòng yêu thích văn học, phát triển mạnh
mẽ những tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mĩ… góp phần làm phong phú hiểu biết
của trẻ và phát triển các năng lực trí tuệ cho trẻ. Vì vậy tôi chọn đề tài “Phát triển ngôn
ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi thông qua giờ kể chuyện ở trường mầm non " làm đề tài
nghiên cứu.
2. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
1
Nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua giờ kể chuyện

Việt Nam đáp ứng các yêu cầu của thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa và hiện đại hóa của
đất nước và xu hướng phát triển của thời đại, là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào
tạo thế hệ trẻ thành những con người có ích, thành những con người mới. Một trong ba mục
tiêu của cải cách giáo dục của nước ta là: Làm tốt việc chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ
thời thơ ấu nhằm tạo ra cơ sở quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động
làm chủ tập thể, phát triển toàn diện nhân cách. Giáo dục mầm non đã góp phần thực hiện
mục tiêu trên. Ngày nay chúng ta không chỉ đào tạo những con người có trí thức có khoa
học có tình yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc, yêu lao động mà còn tạo nên những con người
biết yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp, giầu mơ ước và sáng tạo. Những phẩm chất ấy con người
phải được hình thành từ lứa tuổi mầm non, lứa tuổi hứa hẹn bao điều tốt đẹp trong tương
lai.
1.2 Cơ sở thực tiễn:
Trong những năm gần đây bậc học mầm non đang tiến hành đổi mới, chương trình
giáo dục trẻ mầm non trong đó đặc biệt coi trọng việc tổ chức các hoạt động phù hợp sự
phát triển của từng cá nhân trẻ, khuyến khích trẻ hoạt động một cách chủ động tích cực,
hồn nhiên vui tươi, đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khả năng sáng tạo
trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ một cách linh hoạt,
thực hiện phương châm “Học mà chơi - Chơi mà học” Đáp ứng mục tiêu phát triển của trẻ
một cách toàn diện về mọi mặt.
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách, ngôn ngữ có vai trò là một phương
tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu,
khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh, thông qua cử chỉ và lời nói của người
lớn trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh, trẻ hiểu
những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với từ tương ứng với nó. Nhờ
có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc
trong cuộc sống hàng ngày.
Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ. Ngôn
ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ nhỏ, đó là phương
tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình thành những cảm xúc
tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành

4
chuyện theo chủ đề để phục vụ cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua giờ học kể
chuyện.
2. Học sinh
Huy động trẻ nhà trẻ ra lớp đạt chỉ tiêu quy định.
Lớp tôi phụ trách có 20 trẻ, trẻ cùng độ tuổi từ 24- 36 tháng tuổi, nên việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ khá thuận tiện.
3. Phụ huynh
Tất cả phụ huynh rất quan tâm đến con em mình, thường xuyên đưa đón trẻ đi học
chuyên cần và trao đổi tình hình sức khỏe, học tập, vui chơi của trẻ khi ở nhà cũng như ở
trường với giáo viên phụ trách lớp.
4 Giáo viên
Bản thân tôi đã được đào tạo đạt trình độ Đại học, luôn có tinh thần nhiệt tình, học
hỏi, yêu nghề mếm trẻ, luôn tìm tói vận dụng các phương pháp, hình thức đổi mới vào các
hoạt động nhằm thu hút trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động.
Luôn học tập đúc rút kinh nghiệm khi thăm lớp dự giờ đồng nghiệp.
Tham gia học tập đầy đủ các nghị quyết, chuyên đề mà ngành cũng như nhà trường đề
ra để đúc rút kinh nghiệm cho bản thân, nâng cao trình độ chuyên môn.
Trên đây là những mặt thuận lợi rất cần thiết cho việc chăm sóc – giáo dục trẻ. Bên
cạnh những thuận lợi, còn không ít mặt khó khăn.
b. Khó khăn
1. Cơ sở vật chất
- Phòng học hẹp không đủ diện tích cho trẻ hoạt động học cũng như vui chơi.
- Đồ dùng đồ chơi theo TT 02 còn thiếu nhiều chưa đáp ứng được nhu cầu học tập,
vui chơi, khám phà của trẻ
2. Học sinh
Một số cháu phát âm chưa chuẩn, diễn đạt câu chưa mạch lạc, cháu nhận biết chậm,
chưa mạnh dạn, tự tin trong các hoạt động.
3. Phụ huynh
Là một xã thuộc miền núi, hầu hết phụ huynh là nông dân, làm ruông, vì vậy điều

lốc, thiếu lễ phép nếu giáo viên không kịp thời uốn nắn cho trẻ.
6
Trong quá trình dạy trẻ, bản thân tôi thấy rất lo lắng đến vấn đề này, nếu như
không kịp thời nghiêm túc thực hiện đúng chương trình quy định sẽ dẫn đến hậu quả rất
lớn đối với trẻ, bởi trẻ từ 2 đến 3 tuổi ở gia đình đang ở thời kì cần cung cấp nhiều vốn từ
giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt hơn.
- Vì chưa hiểu hết được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ cho
nên trong quá trình chăm sóc giáo dục hầu như giáo viên chưa chú ý đến việc thay đổi
nội dung và cách thức trò chuyện, tạo các tình huống cho trẻ thể hiện những tình cảm và
yêu cầu của mình bằng các âm các từ. Khi nói chuyện với trẻ cô hay nói nhanh và không
chú ý tới việc sửa sai lỗi về từ, âm, câu cho trẻ.
- Giáo viên chưa chú ý luyện câu, từ cho trẻ, nhiều trẻ nói thiếu, nói lặp cô không
kịp thời điều chỉnh và sửa sai.
- Quá trình tổ chức giờ học cô chưa chú ý đến hệ thống câu hỏi để giúp trẻ được tư
duy và phát triển ngôn ngữ.
- Đối với trẻ thì hệ thống ngôn ngữ không được mở rộng do cô đưa hệ thống câu
hỏi đóng, trẻ hay nói câu thiếu các thành phần.
- Khả năng lĩnh hội thông tin của trẻ rất hạn chế nếu cô truyền đạt một câu dài
hoặc một sự việc có nội dung truyền tải nhiều.
3. Những biện pháp
3. 1. - Nghiên cứu kĩ yêu cầu của giờ kể chuyện kể cả về kiến thức, kĩ năng và giáo dục
đạo đức. Từ đó đưa ra phương pháp, hệ thống câu hỏi, đồ dùng phục vụ giờ dạy đạt
hiệu quả cao.
Ví dụ: Kết quả mong đợi của giờ kể chuyện “Cây táo”
* Về kiến thức:
- Trẻ biết tên câu chuyện, biết tên nhân vật và hành động của các nhân vật trong chuyện.
- Đọc được các từ: “ông”, “bé”, “gà trống”, “mặt trời”, “bươm bướm”, “sưởi nắng”, “bật
ra”.
- Biết lắng nghe và trả lời các câu hỏi của cô.
7

9
3.4: Nội dung tích hợp.
- Sau khi xác định được mục đích yêu cầu của giờ kể chuyện. Tôi suy nghĩ để tích hợp các
môn học khác vào giờ kể chuyện sao cho hợp lý, logíc phù hợp với giờ học.
Ví dụ: Trong câu chuyện cây táo tôi có thể tích hợp thêm các môn:
- Nhận biết tập nói.
- Vận động.
- Âm nhạc.
- Dinh dưỡng và vệ sinh chăm sóc.
3.5. Mọi lúc, mọi nơi.
- Cho trẻ xem tranh liên quan đến câu chuyện.
Ví dụ: Tranh cây táo trong chuyện cây táo:
- Tôi có thể cho trẻ tiếp xúc với vật thật trong sinh hoạt hàng ngày.
Ví dụ: Cho trẻ quan sát và tiếp xúc với cây táo, quả táo.
- Nói chuyện âu yếm, trò chuyện đàm thoại cùng với trẻ.
3.6: Tiến trình hoạt động.
- Để có một giờ dạy tốt trước hết phải rèn luyện cho trẻ nề nếp trong học tập đó là cơ sở
ban đầu hỗ trợ cho giờ dạy đạt kết quả cao. Trong lớp học tôi chia ra từng tổ, trong mỗi tổ
đều có các cháu có khả năng tiếp thu bài khác nhau: Giỏi có, khá có, trung bình và yếu
cũng có. Đối với những cháu khuyết tật như khiếm thị, khiếm thính tôi sắp xếp cho trẻ
ngồi ở gần cô, thuận lợi cho việc nghe, nhìn của trẻ.
- Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 đến 36 tháng tuổi trong giờ kể chuyện đạt kết quả cao
tôi đã tiến hành như sau:
Hoạt động 1. Gây hứng thú cho trẻ.
- Bằng các thủ thuật: Câu đố, thơ, bài hát, bài vận động có nội dung thích hợp tôi nhẹ
nhàng gây hứng thú cho trẻ tập trung vào giờ kể chuyện.
Ví dụ: Trong giờ kể chuyện “Cây táo” tôi cho trẻ vận động bài “Cây cao – cây thấp”
Hoạt động 2. Nội dung chính.
- Trong giờ kể chuyện tôi luôn luôn chú ý cho trẻ đọc và phát triển từ, chú ý sửa sai cho
trẻ khi trẻ đọc chưa đúng, khi đó theo tôi thì có thể thực hiện như sau:

Đặc biệt nổi bật lên có 30% số trẻ trong số các trẻ đạt loại khá có khả năng ngôn
ngữ rất tốt, hiểu được lời nói của mọi người, biết trả lời các câu hỏi, biết kể lại các câu
truyện đã được nghe. Vốn từ phong phú và dần dần hoàn thiện theo độ tuổi.
2. Bài học kinh nghiệm.
- Muốn giúp trẻ từ 24 - 36 tháng tuổi phát triển ngôn ngữ thông qua giờ kể chuyện tôi rút
ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
1. Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ để có biện pháp giáo dục phù hợp. Vận
dụng các biện pháp giáo dục mọi lúc, mọi nơi. Chú ý đến trẻ cá biệt, luôn tạo ra niềm tin,
sự hứng thú cho trẻ.
2. Cần phát huy tính tích cực, thu hút sự chú ý và tạo hứng thú cho trẻ bằng các thủ thuật
như trò chơi, câu đố, thơ, hát, hò, vè
3. Đầu tư thời gian để nghiên cứu kĩ đề tài để có các phương pháp dạy học cụ thể, phù
hợp và đạt hiệu quả tốt nhất.
4. Trước khi thực hiện một đề tài phải chuẩn bị chu đáo đồ dùng trực quan cũng như gợi
mở kiến thức cho trẻ. Thông qua các hoạt động ở mọi lúc, mọi nơi nhằm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ.
5. Thường xuyên học hỏi, trao đổi với đồng nghiệp, học hỏi nâng cao trình độ chuyên
môm.
12
6. Áp dụng hình thức phải phù hợp, tạo được môi trường tốt giúp trẻ làm quen với tác
phẩm văn học nói chung và làm quen vời truyện kể nói riêng.
IV. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 -36 tháng tuổi thông qua bộ môn làm quen văn học thể
loại truyện kể là sự tổng hợp toàn bộ nội dung rèn luyện ngôn ngữ nói mạch lạc chứng tỏ
ngôn ngữ của trẻ đạt yêu cầu cao về mặt biểu hiện âm thanh, từ diễn đạt, câu đúng ngữ
pháp cũng như sự mạnh dạn tin tưởng trong giao tiếp. Đề tài nghiên cứu này sẽ làm cơ
sở vững chắc cho việc học tập của trẻ những năm tiếp theo.
+ Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng đề tài trong quá trình giảng dạy tôi đã rút ra một
số kết luận sau:

Mục Lục
I. PHẦN MỞ ĐẦU
14
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 1
3. Xác định mục tiêu nghiên cứu 2
4. Xây dựng giả thiết nghiên cứu 2
5. Phương pháp nghiên cứu 2
6. Dự báo những đóng góp của đề tài 2
II. PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1 Cơ sở lý luận 2 3
1.2 Cơ sở thực tiễn 3 4
2. THỰC TRẠNG TRƯỜNG LỚP
a. Thuận lợi: ……… 4 5
b. Khó khăn: 5 7
3. NHỮNG BIỆN PHÁP
3.1. Nghiêm cứu kỹ yêu cầu của giờ kể chuyện về kiến thức, kỹ năng và giáo dục đạo
đức 7 9
3.2. Chuẩn bị giáo án 8 9
3.3. Chuẩn bị đồ dùng 9
3.4. Nội dung tích hợp 10
3.5. Mọi lúc, mọi nơi 10
3.6. Tiến trình hoạt động 10 11
4. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
a. Khảo sát trẻ 12
b. Bài học kinh nghiệm 12 13
III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ :
Kết luận …………………… … 13
Kiến nghị 13 14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status