skkn Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi thông qua hoạt động kể chuyện - Pdf 26

Mục lục
TT Nội dung Trang
Mục lục 1
Phần I. Phần mở đầu 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3
Bản chất cần được làm rõ của sự vật, đóng góp sau
nghiên cứu
4
4 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Giới hạn về không gian của đối tượng nghiên cứu 6
7 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 6
Phần II Phần nội dung 7
I Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn 7
1 Cơ sở lý luận 7
2 Cơ sở thực tiễn 8
2.1 Đặc điểm nhà trường 8
2.2 Đặc điểm lớp 8
2.3 Đối với giáo viên 8
2.4 Đối với phụ huynh 8
II Nội dung nghiên cứu 8
1
Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển toàn diện
của trẻ
8
1.1 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ 8
1.2 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức 9
1.3 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mĩ 9
1

tạo ra cơ sở quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ
tập thể, phát triển toàn diện nhân cách. Giáo dục mầm non đã góp phần thực
hiện mục tiêu trên. Ngày nay, chúng ta không chỉ đào tạo những con người có trí
thức có khoa học có tình yêu thiên nhiên, yêu Tổ quốc, yêu lao động mà còn tạo
nên những con người biết yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp, giầu mơ ước và sáng tạo.
Những phẩm chất ấy con người phải được hình thành từ lứa tuổi mầm non, lứa
tuổi hứa hẹn bao điều tốt đẹp trong tương lai.
Trong những năm gần đây bậc học mầm non đang tiến hành đổi mới,
chương trình giáo dục trẻ mầm non, trong đó đặc biệt coi trọng việc tổ chức các
hoạt động phù hợp sự phát triển của từng cá nhân trẻ, khuyến khích trẻ hoạt
động một cách chủ động tích cực, hồn nhiên vui tươi. Đồng thời, tạo điều kiện
cho giáo viên phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và tổ chức các
hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ một cách linh hoạt, thực hiện phương châm
“Học mà chơi – Chơi mà học” đáp ứng mục tiêu phát triển của trẻ một cách toàn
diện về mọi mặt.
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách, ngôn ngữ có vai trò là một
phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ
giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh, thông qua
cử chỉ và lời nói của người lớn trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong
môi trường xung quanh, trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các
sự vật cùng với từ tương ứng với nó. Nhờ có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng
nhiều các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày.
3
Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm
mĩ. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ
nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh
hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với
cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ
dẫn của người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của cộng
đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng phải thực hiện, mặt khác trẻ cũng có

đặc biệt là tâm sinh lí của trẻ để từ đó thu hút trẻ vào hoạt động giúp cho cô có
những phương pháp, biện pháp chăm sóc cho phù hợp.
- Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt.
- Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ.
- Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp và nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn.
- Phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
- Giáo dục văn hoá giao tiếp ngôn ngữ
3.1. Bản chất cần được làm rõ của việc nghiên cứu.
*Lựa chọn từ: Sau khi đã lựa chọn nội dung trẻ cần lựa chọn từ để diễn tả
chính xác nội dung mình cần thông báo, chọn từ giúp cho lời nói của trẻ rõ
ràng, chính xác và mang sắc thái biểu cảm.
* Sắp xếp cấu trúc lời nói:
- Sự liên kết các câu nói lại với nhau tạo thành chuỗi lời nói nhằm diễn tả
trọn vẹn một ý, một nội dùng nào đó để giúp người nghe hiểu được. Đây là sự
sản xuất toàn bộ nội dung thông báo một cách có lôgic.
- Để diễn tả một ý, một nội dung ngắn gọn nào đó thì việc sắp xếp cấu trúc
lời nói là đơn giản đối với trẻ nhưng nếu yêu cầu trẻ kể lại truyện hay tự sáng tác
5
miêu tả những hiện tượng sự kiện xảy ra trong đời sống thì trẻ gặp khó khăn cần
phải luyện tập dần dần.
* Diễn đạt nội dung nói:
- Khi trẻ diễn đạt phải ngừng nghỉ ngắt giọng đúng, để giọng nói của trẻ
không ê a ậm ừ. Luyện cho trẻ tác phong khi nói thoải mái, tự nhiên, khi nói
nhìn vào mặt người nói. Trong trường mầm non tôi muốn đề cập tới việc luyện
cho trẻ ngôn ngữ mạch lạc thể hiện qua việc thực hiện hai nhiệm vụ dạy trẻ đối
thoại giữa trò chơi và độc thoại qua bộ môn làm quen văn học thể loại truyện kể.
3.2. Đóng góp sau khi nghiên cứu đề tài.
- Đóng góp một số biện pháp giúp trẻ học tốt môn làm quen văn học.
- Giúp trẻ nhà trẻ phát triển ngôn ngữ qua môn làm quen văn học hoạt động
kể chuyện.

1. Cơ sở lý luận:
Theo điều 23 luật GDMN 2005 ban hành số 38/2005 QH11 ngày
14/6/2005 yêu cầu về nội dung và phương pháp GDMN đã ghi: Phương pháp
8
giáo dục mầm non chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để
giúp trẻ em phát triển toàn diện,.
Theo chương trình Giáo dục mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số :
17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo) cũng đã nêu rõ: Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát
triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên
của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ
emnhững chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng,
những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa
những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và
cho việc học tập suốt đời.
- Dùa vµo ®Æc ®iÓm ph¸t triÓn t©m sinh lý cña trÎ.
* Sinh lý:
Trong sự phát triển về ngôn ngữ của trẻ thì đây là giai đoạn bắt đầu của
ngôn ngữ chủ động. Do vậy, trong quá trình phát triển ngôn ngữ trẻ còn mắc
một số hạn chế sau:
+ Phát âm chưa chính xác hay ngọng chữ n – l; x – s; dấu ngã - dấu sắc;
dấu hỏi – dấu nặng.
+ Đồng thời do vài kinh nghiệm còn ít ỏi nên trẻ còn nhầm lẫn, khi tri giác
chủ yếu dựa vào những đặc điểm bên ngoài để nói.
+ Một số đặc điểm nữa là giai đoạn này tư duy trực quan cụ thể là chủ yếu,
nghĩa là lời nói luôn luôn gắn liền với mọi hành động đồ vật cụ thể thì trẻ mới
hiểu được.
* Tâm lý:
+ Trẻ thích giao tiếp với người xung quanh và có nhu cầu bằng trực quan,
cần giải đáp thắc mắc mà trẻ gặp phải, trẻ thích được người lớn khen, động viên

ngôn ngữ thể hiện qua việc thực hiện hai nhiệm vụ dạy trẻ đối thoại giữa trò
chơi, và độc thoại qua hoạt động kể chuyện. Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ được
thể hiện ở mọi lúc mọi nơi trong sinh hoạt hằng ngày của bé.
II. Nội dung vấn đề nghiên cứu
1. Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển toàn diện của trẻ
1.1 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ
- Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ.
- Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sở của mọi
sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy.
+ Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh. Thông qua ngôn ngữ, lời
nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc
điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng của chúng và trẻ học được từ tương ứng
(từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc). Ngôn ngữ giúp
trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh, từ ngữ giúp cho việc củng cố
những biểu tượng đã được hình thành.
+ Sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt động trí tuệ, các thao tác tư
duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích cực, sáng tạo hoạt động trí
tuệ.
- Có nhiều phương tiện để nhận thức thế giới xung quanh nhưng ngôn ngữ
là phương tiện nhận thức hữu hiệu. Thông qua ngôn ngữ trẻ nhận thức thế giới
xung quanh chính xác, rõ ràng, sâu và rộng. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo
trong hoạt động trí tuệ do vậy việc phát triển trí tuệ không thể tách dời với việc
phát triển ngôn ngữ.
11
1.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức.
- Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc hình thành và điều chỉnh những
hành vi của trẻ.
- Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên, không nên…, qua đó rèn
luyện những phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái
niệm ban đầu về đạo đức ( ngoan - hư, tốt - xấu ).

2.1. Thuận lợi :
Được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu về chuyên môn, xây dựng
phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non, tạo mọi
điều kiện giúp tôi những nguyên vật liệu để làm đồ dùng dạy học và đồ chơi của
các cháu.
2.2. Khó khăn
Do trình độ nhận thức không đồng đều, có một số cháu lúc đầu đến lớp vẫn
chưa phát triển được nhiều ngôn ngữ cần thiết mà độ tuổi cần đạt được, một số
cháu mới ê, a được 1 số từ ngữ đơn giản.
Kinh nghiệm sống của trẻ chưa có nhiều, nhận thức hạn chế dẫn đến tình
trạng trẻ dùng từ không chính xác, câu lủng củng. Trẻ nói, phát âm do ảnh
hưởng ngôn ngữ của người lớn xung quanh trẻ nói tiếng địa phương.
Đa số phụ huynh làm nông nghiệp ít giao tiếp, ảnh hưởng của tiếng địa
phương và ít trò chuyện với trẻ và nghe trẻ nói, thường chiều theo ý của trẻ đây
cũng là một trong những nguyên nhân của việc chậm phát triển ngôn ngữ.
13
Với những khó khăn như thế tôi phải dần dần khắc phục, sửa đổi và hướng
dẫn trẻ phát triển ngôn ngữ một cách đúng đắn nhất qua giao tiếp và tập cho trẻ
làm quen văn học thể loại chuyện kể.
3. Thực trạng.
Thời gian đầu năm học trẻ mới bắt đầu đến trường chưa quen với môi
trường mới và phải xa bố mẹ, người thân trong gia đình nên trẻ đang còn hay
khóc và chưa chịu học, chịu chơi. Vì thế, việc cho trẻ phát triển vốn từ đang còn hạn
chế.
Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học 2012 - 2013 tại lớp nhà trẻ B
trường mầm non Cao Minh như sau:
Xếp loại Tốt Khá Trung bình Yếu
Số
lượng
%

- Nghe hiểu
+ Trả lời câu hỏi : Ai đây? Cái gì đây? Làm gì? Làm thế nào?
Ví dụ: Con gà gáy thế nào?
+ Hiểu nội dung truyện ngắn đơn giản: trả lời các câu hỏi về tên truyện, tên
và hành động của các nhân vật trong truyện.
- Nghe nhắc lại các âm và các tiếng, các câu.
+ Phát âm rõ tiếng.
- Sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp.
+ Trẻ phát âm rõ ràng: Trẻ nói được câu đơn , câu có 3 - 4 tiếng, có các từ
thông dụng chỉ hoạt đông đặc điểm quen thuộc. Sử dụng lời nói và các mục đích
khác nhau.
Ví dụ: Con gì đây? Cái gì đây?
15
+ Trẻ nói to đủ nghe, lễ phép.
+ Kể lại đoạn truyện được nghe nhiều lần có gợi ý.
* Trẻ xếp loại trung bình là những trẻ biết:
- Ở những trẻ này trẻ chỉ biết trả lời câu hỏi : Ai đây? Cái gì đây? Thế nào?
+ Hiểu nội dung truyện ngắn đơn giản.
+ Biết sử dụng lời nói vào mục đích khác nhau.
+ Trả lời các câu hỏi về tên truyện,tên và hành động của các nhân vật trong
truyện.
+ Trẻ phát âm còn chưa rõ
+ Trẻ chỉ nói được câu đơn, câu có 2-3 tiếng
* Trẻ xếp loại yếu là những trẻ biết:
- Ở trẻ này trẻ chỉ biết nghe hiểu.
- Chưa biết nghe nhắc lại các âm các tiếng trong câu.
- Trẻ phát âm chưa rõ tiếng.
- Chưa biết kể lại câu chuyện cùng cô.
Từ thực tế trên nên tôi mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ từ 24 đến 36 tháng tuổi thông qua giờ kể chuyện”.

+ Tôi tận dụng các nguyên liệu vật liệu có sẵn ở địa phương như: sách báo,
lịch cũ, ống lon, chai nhựa, xốp, vải vụn, cành cây khô, quần áo cũ nhằm phát
triẻn ngôn ngữ cho trẻ.
+ Dựa vào từng chủ đề tôi triển khai kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi một
cách cụ thể mỗi chủ đề có một bộ đồ chơi phục vụ cho quá trình giảng dạy và
vui chơi tôi cho các cháu vào hoạt đông chơi góc để trẻ tạo ra những đồ chơi
làm bằng lá cây, giấy vụn, hột hạt vẽ và tô màu những bức tranh, những hình
ảnh trẻ sưu tầm gợi mở cho trẻ tưởng tượng kể chuyện.
+ Từ những quần áo, vải vụn, ống giấy, tôi hướng dẫn trẻ làm ra những con
rối thật xinh xắn từ câu truyện cổ tích trẻ học được, sáng tạo ra những nhân
vật trẻ thích.
Ví dụ: Tôi đã làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo từ những quả bóng và những
mảnh vải vụn để thành những con rối rất đẹp phục vụ cho các câu chuyện mà tôi
kể cho trẻ như: Truyện “ Đôi bạn nhỏ” dùng (Rối gà, rối vịt); Truyện “ Thỏ con
không vâng lời” dùng ( Rối gấu, rối thỏ mẹ, thỏ con); Truyện “ Cá và chim”
dùng ( Rối cá, rối chim)
+ Khi kể chuyện tôi dùng những tranh ảnh sáng tác màu sắc đẹp để gây
hứng thu cho trẻ nghe, xem để trẻ biết cách sử dụng và giữ gìn đồ chơi .
+ Tôi sử dụng các nguyên liệu mở như: thanh tre, bìa cứng, gỗ, hộp xốp,
đất để làm thành những con vật xinh xắn, trẻ cũng có thể sử dụng được để kể
chuyện theo ý thích.
Ví dụ: Từ bìa cứng, xốp làm những con vật ngộ nghĩnh, đa dạng màu sắc
để thu hút trẻ. Như khi kể truyện “Gà và vịt” để gây hứng thú cho trẻ tôi chuẩn
bị một sân khấu rối, các con rối được làm bằng vải vụn được cải biên màu sắc
rực rỡ.
3.2. Sắp xếp môi trường.
18
- Mục đích: Việc sắp xếp môi trường lớp học hợp lý sẽ làm tăng thêm hiệu
quả của hoạt động kể chuyện. Nhờ việc sắp xếp đồ dùng, đồ chơi hợp lý tạo cho
trẻ không gian hoạt động tích cực vì vậy sẽ giúp trẻ khắc sâu hơn về tác phẩm

vừa học.
3.3. Thay đổi hình thức giới thiệu bài gây hứng thú cho trẻ.
- Mục đích: Để tránh sự nhàm chán cho trẻ, tôi luôn thay đổi hình thức giới
thiệu bài để gây được hứng thú nhiều hơn cho trẻ.
- Nội dung và cách thức thực hiện:
+ Tùy thuộc và nội dung bài dạy mà tôi lựa chọn các cách gây hứng thú
cho trẻ một cách linh hoạt nhẹ nhàng. Tôi có thể dùng rối, tranh, ảnh, bài hát,
câu đố, mô hình
● Sử dụng mô hình:
Ví dụ: Trong chủ đề “Cây và những bông hoa đẹp” tên bài dạy là kể
chuyện “ Cây táo” Tôi sẽ sử dụng mô hình vườn cây ăn quả để gây hứng thú và
dẫn dắt trẻ vào bài .
Hình ảnh minh họa:
20
● Sử dụng bài hát:
Còn khi ở chủ đề “Các con vật đáng yêu”, tên bài dạy kể chuyện “ Cá và
chim” Tôi sẽ cho trẻ hát bài “ Cá vàng bơi” để gây hứng thú cho trẻ.
● Sử dụng câu đố :
Sử dụng câu đố để gây hứng thú cho trẻ dẫn dắt trẻ vào câu truyện cũng là
cách tôi thường làm, để kích thích sự tò mò, suy nghĩ của trẻ.
Ví dụ: Ở chủ đề “ Các con vật đáng yêu”, tên bài dạy là “Vịt con lông
vàng” tôi đọc câu đố để cho trẻ đoán tên con vật.
(Con gì kêu vít, vít
Theo mẹ ra bờ ao
21
Chẳng khác mẹ tí nào
Cũng lạch bà lạch bạch)
Tổ chức hoạt động đa dạng dựa vào hoạt động trọng tâm .
Ví dụ: Khi trọng tâm là kể chuyện sáng tạo, tôi cho trẻ lựa chọn cho trẻ
trang phục, đồ dùng phù hợp với nội dung câu chuyện trẻ sẽ tập kể dựa theo

thì giáo viên cần phải tìm ngữ điệu cho từng nhân vật trong câu chuyện đó phù
hợp để khi kể câu chuyện đó được diễn cảm hơn.
Ví dụ: Trong câu chuyện “ Chú vịt xám”
+ Giọng người dẫn chuyện: Đầm ấm, nhẹ nhàng
+ Giọng của vịt mẹ: Nhẹ nhàng, dịu dàng
+ Giọng của vịt con: Sợ hãi
23
+ Giọng con cáo: Gian ác
● Tập luyện và kể thử.
Khi đã tìm hiểu kỹ nội dung, tính cách, ngữ điệu của các nhân vật trong câu
chuyện mà cô sẽ kể thì cô cần tập luyện và kể thử nhiều lần trước khi kể chuyện
cho trẻ nghe. Thông qua việc kể thử, kể lại nhiều lần cô sẽ diễn đạt và thể hiện
tính cách của các nhân vật một cách rõ nét hơn.
3.4.2. Khi kể.
- Khi kể, kể lưu loát bằng giọng cao thấp quấn hút trẻ vào bài.
Ví dụ: Khi kể câu chuyện “ Dê con thích húc” giọng người dẫn chuyện
thấp hơn so với giọng các nhân vật trong truyện.
+ Giọng của dê con : Thách thức
+ Giọng của bác gà trống tây: Nghiêm túc, trịnh trọng
+ Giọng của lợn con: Khó chịu
+ Giọng của bác cừu: Mệt mỏi
+ Giọng của chó con: Tinh nghịch, lém lỉnh
- Cô kể kết hợp giảng giải nội dung câu chuyện: Khi cô kể xong câu
chuyện lần 1 để trẻ khắc sâu nội dung câu chuyện cô đặt câu hỏi đàm thoại kết
hợp giảng giải nội dung câu chuyện.
Ví dụ: Trong câu chuyện “Em bé dũng cảm” cô cần có hệ thống câu hỏi
như sau:
+ Ai đến trường tiêm phòng dịch cho các bé?
+ Bạn Huy đã nấp vào đâu?
+ Các bạn nhỏ hỏi cô giáo như thế nào?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status