MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Biện pháp 1. Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ
nghiệp vụ cho bản thân.
Biện pháp 2. Tìm hiểu đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 24
- 36 tháng tuối.
Biện pháp 3. Tạo môi trường phong phú hấp dẫn nhằm phát triển
ngôn ngữ cho trẻ.
Biện pháp 4. Tổ chức giờ học theo chương giáo dục lấy trẻ làm
trung tâm, có ứng dụng công nghệ thông tin.
Biện pháp 5. Phối hợp với các bậc phụ huynh phát triển ngôn
ngữ cho trẻ.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
- Kết luận.
- Kiến nghị
1
chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của bản thân, hiểu mục đích và cách thức con
người sử dụng chữ viết. Cùng với quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, trẻ lĩnh hội và
phát triển các năng lực tư duy như xây dựng và biểu đạt ý tưởng, chia sẻ thông
tin với người khác và tiếp nhận, đáp lại ý tưởng, thông tin của người khác. Phát
triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát triển khác
của trẻ. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng
đối với sự phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tư duy ký hiệu
tượng trưng ở trẻ. [2]
Đối với trẻ 24 đến 36 tháng tuổi có số lượng từ tăng nhanh. Trong vốn từ
của trẻ, phần lớn là các danh từ, động từ, các từ loại khác nhau, như tính từ, đại
từ,… được xuất hiện với số lượng ít và tăng dần theo tháng tuổi. [3].
Do tốc độ phát triển nhanh về ngôn từ, ngữ pháp, giọng điệu… trẻ dễ vấp
phải những tật ngôn ngữ nói như: nói ngọng, nói lắp… nên rất ảnh hưởng đến sự
2
phát triển tâm lý, thái độ của trẻ. Trong xã hội hiện nay, nhiều gia đình bố mẹ
còn bận mải lo làm ăn ít quan tâm đến nhu cầu gắn bó của trẻ. Nó thể hiện ở mối
quan hệ, nếu trẻ không được đối xử tốt trẻ sẽ ngại giao tiếp mà giao tiếp với
người lớn là điều kiện quyết định để trẻ lớn lên và trưởng thành.
Đối với trẻ 24 - 36 tháng tuổi do tôi phụ trách nhiều cháu còn nói ngọng,
nói lắp, sai lỗi chính tả nhiều, trẻ nói tiếng địa phương. Đặc biệt, nhiều bố mẹ
mải lo làm ăn nên chưa chú ý đến việc dạy nói đúng khoa học. Là giáo viên trực
tiếp nuôi dạy trẻ, tôi được chứng kiến và là người khơi nguồn “Vốn ngôn ngữ
của trẻ”. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số biện pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng thông qua hoạt động nhận biết ở
lớp A1 trường Mầm non Nga Thái - Nga Sơn”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng của giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36
tháng trường Mầm non Nga Thái - Nga Sơn. Từ đó đề xuất một số giải pháp
các câu chuyện đơn giản qua tranh, qua hình ảnh. Đặt một số loại câu hỏi giúp
trẻ kể bằng ngôn ngữ của trẻ [ 3].
Bên cạnh đó, giáo viên, cha mẹ trẻ phải thường xuyên cho trẻ tiếp xúc với
thế giới bên ngoài một cách độc lập, thay đổi cả hình thức giao tiếp với người
lớn. Thế giới đồ vật đã trở thành đối tượng nhận thức của trẻ, nhu cầu nhận thức
tò mò, ham hiểu biết được phát triển hết sức mạnh mẽ. Hứng thú hoạt động với
đồ vật ngày một tăng lên, kích thích trẻ hướng đến người lớn để nhờ giúp đỡ. Từ
đó nảy sinh nhu cầu giao tiếp bằng ngôn ngữ, đây là thời kỳ chuyển từ tiền phát
triển ngôn ngữ sang phát triển ngôn ngữ và là thời kỳ phát triển ngôn ngữ nhanh
nhất. Do vậy muốn trẻ có ngôn ngữ chính xác, có vốn từ phong phú giáo viên,
người lớn và những người xung quanh trẻ phải có kế hoạch, có phương pháp dạy
trẻ phù hợp. Giáo viên phải phát âm chuẩn, có kiến thức và kỹ năng tổ chức các
hoạt động nhận biết tốt [6].
Nói tóm lại, việc rèn luyện cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi phát âm, phát triển
vốn từ, nói có ngôn ngữ mạch lạc, chính xác, đúng ngữ pháp, mang tính biểu
cảm là nhiệm vụ rất quan trọng, cấp thiết của cô giáo Mầm non nói chung và
bản thân tôi nói riêng. Đây chính là mục đích của tôi khi nghiên cứu, thực hiện
đề tài này.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
a. Thực trạng chung
Trường Mầm non Nga Thái, có đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình năng động,
được tiếp thu chuyên đề giáo dục Mầm non mới, trên thực tế giáo dục lĩnh vực
phát triển ngôn ngữ cho trẻ, trường Mầm non có nhiều đầu tư về nâng cao
phương pháp, biện pháp và thay đổi hình thức.Vì thế khi thực hiện đề tài, tôi
được Nhà trường phân công trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ ở độ tuổi 24 - 36
tháng, có ít nhiều kinh nghiệm nuôi dạy trẻ, với kinh nghiệm làm mẹ đã giúp tôi
thuận lợi trong công việc hơn. Bản thân tôi cũng nhận được sự động viên giúp
đỡ của Ban giám hiệu Nhà trường, bạn bè đồng nghiệp, sự ủng hộ của gia đình,
* Kết quả của thực trạng
Năm học 2016 - 2017 tôi được nhà trường phân công chăm sóc, giáo dục
trẻ nhóm trẻ 24 - 36 tháng tuổi với tổng số trẻ là 25 cháu, tôi tiến hành khảo sát
khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ vào đầu tháng 9 năm 2016. Kết quả khảo
sát được phản ánh như sau:
Đạt
Chưa đạt
Số
Nội dung
Số
Tỷ lệ
Số
Tỷ lệ
trẻ
cháu
%
cháu
%
Trẻ thực hiện được một số nhiệm
19
76
6
24
vụ khi yêu cầu.
Trẻ trả lời được các câu hỏi đưa ra
20
80
5
20
25 Trẻ phát âm rõ tiếng
khảo học hỏi thêm nhiều tài liệu như “Chương trình bồi dưỡng thường xuyên
giáo viên Mầm non”,“Chương trình giáo dục Mầm non mới”của Bộ giáo dục
Mầm non ban hành. Qua sách báo trên mạng Internet, kinh nghiệm của các đồng
5
nghiệp qua các giờ dạy mẫu, qua các lớp chuyên đề do nhà trường và phòng
giáo dục tổ chức hàng năm. Qua các chuyên đề, các giờ dạy mẫu trong năm.
Khi tổ chức hoạt động cho trẻ phát triển ngôn ngữ tôi thấy đưa ra các hình
thức làm phong phú cách thể hiện nội dung bài dạy để thu hút trẻ hoạt động tích
cực qua các hoạt động đọc thơ kể chuyện, trẻ biết đọc thơ theo cô.
Trò chuyện với trẻ hàng ngày khi đón trẻ, giờ chơi, cho trẻ ăn, cho trẻ ngủ,
Tôi thường xuyên giao tiếp với trẻ và tạo điều kiện cho trẻ nói nhiều cũng là
biện pháp tốt nhất để giúp trẻ hoàn thiện ngôn ngữ, có thể đề ra câu hỏi nhằm
kích thích, để trẻ tham gia vào các câu chuyện, điều đó giúp trẻ tập nói cả câu.
Trong quá trình đặt câu hỏi tôi luôn chú ý đến sự nâng dần của câu hỏi để phù
hợp với khả năng của trẻ.
Ví dụ: Vào giờ đón trẻ tôi đặt câu hỏi cho trẻ trả lời:
+ Hôm nay, ai đưa con đi học? Đi bằng phương tiện gì?
+ Hôm qua con đi đâu?
+ Đi cùng với ai? Con thấy cái gì?
Tôi tranh thủ mọi lúc, mọi nơi như giờ đón trả trẻ để trò chuyện với trẻ,
đặc biệt chú ý những trẻ yếu về ngôn ngữ. Khi trò chuyện với trẻ phải dựa vào
kinh nghiệm có sẵn của cô và sự hiểu biết của trẻ để sử dụng câu hỏi cho phù
hợp và khuyến khích trẻ được nói. Khi tiến hành trò chuyện với trẻ phải tạo điều
kiện và bầu không khí tự do, thoải mái, nói chuyện tự nhiên, cô thật sự thu hút
hấp dẫn trẻ thông qua giọng nói, nét mặt, cử chỉ, hành động.
Với trẻ mới đến trường còn lạ cô, lạ bạn nên hay sợ sệt, hoảng sợ nên tôi
phải gần gũi, âu yếm, vuốt ve để biểu hiện cảm xúc yêu thương, gần gũi, khi trò
chuyện với trẻ tôi thường bế và nựng trẻ rồi “ Ôi bạn Anh có áo mới đẹp quá
thức cho trẻ.
Biện pháp 2. Tìm hiểu đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ 24 - 36 tháng
tuối.
Ở lứa tuổi này cơ quan phát âm và tai nghe ngôn ngữ đã phát triển hoàn
thiện hơn trước. Trẻ có khă năng phát âm đúng hầu hết các âm và thanh điệu .
Số lượng từ tăng nhanh. Xét về số lượng các âm vị dần dần xuất hiện. Hầu hết
các phụ âm đầu lưỡi chưa được trẻ phát âm đúng hoàn toàn.
Ví dụ:
Âm đ thành âm t: Đóng - tóng.
Âm l thành âm n: Làm - nàm
Âm kh thành âm h: Không - hông
Âm th thành âm ch: Thật - chật
Âm ch thành âm t: Cháu - táu
Âm ng thành âm nh: Ngủ-nhủ
- Trong số các phụ âm đầu thì phụ âm “b, m” được trẻ nói đúng nhất.
- Âm đệm: Các từ có âm đệm khi phát âm thường bị lược bỏ:
Ví dụ:
Hoa – ha
Xoăn- xăn
Quả - cả
Hòe -- hè
- Âm chính : Các nguyên âm dài bốn nguyên âm ngắn và ba nguyên âm đôi
đã xuất hiện trong các từ của trẻ nhưng có một số âm trẻ nói chưa đúng như:
Ví dụ:
ê - â : ếch - ấc
i - ia: bút chì - bút chìa
ươ - iê: hươu - hiêu, rượu - riệu
- Phụ âm cũng xuất hiện trong vốn từ của trẻ, trong đó có một số âm cuối bị
trẻ phát âm sai.
Ví dụ:
Cái làn – Cái đi chợ
Trong giai đoạn này khả năng sử dụng ngôn ngữ của trẻ dưới 3 tuổi tuy có
những bước tiến mới nhưng cũng chỉ là bước đầu.
Vì vậy, là giáo viên chúng ta cần giúp trẻ phát triển, mở rộng các từ loại
trong vốn từ, biết sử dụng nhiều loại câu bằng cách thường xuyên trò chuyện với
trẻ về các sự vật hiện tượng trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hằng ngày. Nói cho trẻ
biết các từ biểu hiện về các đặc điểm tính chất, công dụng của chúng.
Biện pháp 3. Tạo môi trường phong phú hấp dẫn nhằm phát triển ngôn ngữ
cho trẻ.
Để giúp trẻ cảm thụ tốt các hoạt động thì việc tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc
với môi trường chữ viết phải thường xuyên liên tục là điều tôi luôn chú trọng.
3.1. Xây dựng môi trường trong lớp học
Ngay đầu năm học, tôi đã vận động phụ huynh và trẻ cùng tham gia làm đồ
dùng, đồ chơi, trang trí lớp nhằm giúp trẻ lĩnh hội, khám phá, tìm tòi và phục vụ
cho quá trình học tập của trẻ. Chẳng hạn tôi vận động phụ huynh cùng may các
con rối, may các trang phục đóng kịch cùng với cô giáo để giúp trẻ có các trang
phục đóng kịch… Hay vận động phụ huynh mang sách, báo có các câu chuyện,
bài thơ phù hợp đối với trẻ để những lúc trẻ hoạt động ở góc sách, trẻ mang ra
xem hình ảnh để trẻ kể chuyện sáng tạo… Bên cạch đó, trong lớp tôi luôn tận
dụng diện tích phòng học xây dựng góc thư viện, góc kể chuyện cùng bé
yêu...chú ý bố trí, sắp xếp các học cụ, đội hình để tạo môi trường học tập thoải
mái cho trẻ.
Hằng ngày đến lớp, trẻ luôn được hoạt động với đồ chơi, tranh ảnh; trẻ
được nhận biết, gọi tên các đặc điểm, đặc trưng của đồ vật, đồ chơi, tranh
ảnh….Từ việc được tích cực các hoạt động, tích cực nói, vốn từ của trẻ sẽ hình
thành và phát triển. Trong quá trình trẻ hoạt động, trải nghiệm, tôi luôn quan
tâm, hướng dẫn tỷ mỉ tạo cơ hội cho trẻ hứng thú tham gia các hoạt động thực
hành, vui chơi, giao tiếp, giúp trẻ biết đoàn kết, giúp đỡ, nhường nhịn lẫn nhau,
từ đó hình thành nhân cách cho trẻ.
8
ảnh thân thuộc với trẻ để giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đồng thời tận
dụng những khoảng tường trống để vẽ tranh về nhân vật có trong bài thơ, câu
chuyện có trong chương trình, những hình ảnh về trò chơi dân gian … gợi mở
cho trẻ cùng nhau kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng giao, câu đố:
Ví dụ: Tranh chuyện “ Quả táo”, “ Cháu chào ông ạ”, “ Ai thông minh hơn” thơ
“Cây bắp cải”…
10
( Hình ảnh: Tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua môi
trường ngoài lớp )
Ngoài ra tôi đã tham mưu với nhà trường để xây dựng “Vườn thiên
nhiên của bé” được chia thành các ô trồng các loại cây khác nhau: Vườn hoa,
vườn thuốc nam, vườn rau sạch, vườn cây ăn quả, các cây xanh bóng mát sân
trường đều được gắn tên gọi cho cây.
( Hình ảnh : Môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ ngoài nhóm, lớp )
* Kết quả:
- Tôi đã tạo được môi trường phong phú được thể hiện qua góc sách truyện,
vườn thiên nhiên, các mảng tường quanh lớp.
- 100% trẻ hứng thú với môi trường tôi và trẻ đã xây dựng.
- Ngôn ngữ của trẻ được phát triển một cách phong phú và đa dạng được là
nhờ vào việc tạo môi trường hoạt động tích cực.
Biện pháp 4. Tổ chức giờ học theo chương giáo dục lấy trẻ làm trung tâm,
có ứng dụng công nghệ thông tin.
4.1. Tạo hứng thú phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động nhận
biết:
11
trẻ trong lớp, khi đến gia đình bạn nào, thì cho bạn đó lên kể về những người
thân trong gia đình mình. Qua đó, cho trẻ hiểu ai cũng có một gia đình, mọi
12
người trong gia đình đều thương yêu, kính trọng, quan tâm, chia sẻ lẫn nhau.
Cuối cùng cô mở nhạc và cho trẻ hát bài “ Cả nhà thương nhau”.
- Hình thức tổ chức trên gúp trẻ hứng thú và tiếp thu bài một cách nhẹ
nhàng thoải mái. Trong khi dạy trẻ nhận biết tập nói, tôi luôn chú ý quan sát, nếu
trẻ nào nhận biết chưa đúng các sự vật, hiện tượng, tôi hướng dẫn lại cụ thể cho
trẻ. Khi trẻ nói sai, nói ngọng, tôi luôn kiên trì sửa cho trẻ, tôi nhắc lại, nhấn
mạnh để trẻ nói theo. Sau mỗi lần trẻ nói đúng, trả lời đúng câu hỏi, tôi không
quên động viên, khích lệ để trẻ tự tin mạnh dạn, hứng thú trong hoạt động nhận
biết.
- Để tổ chức hoạt động theo hướng đổi mới, tôi đã sưu tầm, học hỏi đồng
nghiệp, lựa chọn trò chơi, các bài ca dao, đồng dao sao cho phù hợp với bài dạy
như:
+ Tổ chức cho trẻ làm quen với các trò chơi, các sự vật, các hiên tượng,
trước khi tiến hành hoạt động. Khi dạy bài mới, tôi tận dụng các thời điểm khác
nhau trong ngày như: Họat động dạo chơi ngoài trời, hoạt động góc, chơi tự do
để hướng dẫn trẻ. Trong quá trình tổ chức, để kích thích trẻ tích cực hoạt động,
cô dùng các thủ thuật tạo tình huống có vấn đề để khơi dậy sự tìm tòi khám phá
của trẻ. Với hình thức này trẻ tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng thoải mái.
Trong khi dạy trẻ tôi luôn chú ý để biết trẻ nào nói đúng, trẻ nào nói sai, nhằm
kịp thời sửa sai, uốn nắn giúp trẻ nói đúng, nói đủ câu, đủ ý. Khi cho trẻ nhận
biết sự vật, hiện tượng, tôi tạo cơ hội cho trẻ hoạt động, trải nghiện, khám phá
bằng nhiều giác quan như: Nếm, ngửi, sờ, nắm, nhìn. Tôi luôn coi trọng quá
trình trẻ hoạt đông hơn là kết quả hoạt động, do vậy mỗi hoạt động đều diễn ra
một cách tự nhiên, thoải mái thực hiện đúng phương châm “ Học mà chơi, chơi
mà học”.
+ Quả gì đây nữa? ( Quả dừa )
+ Đây là con gì? ( Con dao)
+ Mẹ đang làm gì? ( Mẹ đang bổ đu đủ)
Nếu trẻ nói sai, cô nhắc lại và phát âm chính xác các từ cho trẻ nhắc lại theo cô.
( Hình ảnh: Tranh cho trẻ nhận biết tập nói)
- Hoặc khi dạy trẻ nhận biết tập nói: “Con chó, Con mèo”. Tôi lại dùng
tranh di động, những con chó, con mèo di chuyển sinh động, vừa xuất hiện nhân
vật đã thu hút được trẻ gây hứng thú cho trẻ trong giờ học. Trẻ rất thích và rất
chú ý vì khi con vật di chuyển trẻ được nhìn, được chỉ, được gọi, được chạy đuổi
bắt khi tôi di chuyển các nhân vật.
Tôi thấy biện pháp dùng tranh di động này rất thích hợp cho sự phát triển
lời nói của trẻ nhất là các trẻ nhút thát, chậm phát triển. Biện pháp này còn rất
thuận lợi cho tôi trong việc di chuyển theo ý muốn và cung cấp kiến thức một
cách đầy đủ nhất cho trẻ.
- Đối với trẻ hiếu động, nhận thức nhanh, tôi đưa ra câu hỏi có yêu cầu cao
hơn, kích thích sự phát triển tư duy của trẻ.
Ví dụ: “ Vỏ cam thế nào?”, “Cam có vị gì?”, “Nhà con có những ai?”,
“Nhà con nuôi những con gì?”, “Con thích vật nào nhất?”, “Vì sao?”..
- Với những trẻ nhận thức chậm, nhút nhát, tôi có thể cho trẻ nhắc lại những
câu nói của bạn, hoặc dùng câu hỏi có tính chất gợi mở.
Ví dụ: “Vỏ cam nhẵn hay sần sùi?”, “Con gì gáy ò ó o”..
- Đối với những trẻ nói ngọng, tôi thường xuyên gọi trẻ trả lời nhiều hơn,
sửa cho trẻ nhiều lần.
14
- Đối với những trẻ nói lắp, nói câu thiếu thành phần, tôi tập cho trẻ nhiều
lần, nói thong thả, bình tĩnh tạo không khí vui vẻ thoải mái cho trẻ yên tâm tập
nói.
15
( Hình ảnh: Trẻ tham gia chơi thao tác vai )
Muốn trẻ chơi thành thạo, biết giao tiếp với bạn, tôi luôn phải hòa nhập,
đóng vai chơi cùng với trẻ để hướng dẫn trẻ chơi, gợi ý để trẻ trả lời, tạo điều
kiện cho trẻ giao tiếp với bạn chơi, tạo ra những tình huống chơi để trẻ xử lý.
Thông qua góc “Bé xem tranh, truyện” tôi đã tạo môi trường gây nhiều sự
chú ý, hấp dẫn cho trẻ. Trẻ được gài ô tô, xem album, xem tranh truyện. Khi trẻ
hoạt động trẻ được gọi tên, nói đặc điểm, đặc trưng của các sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Đây là cái gì? (Đây là cái xe máy), Con có nhận xét gì về xe máy ?
( Xe máy có 2 bánh, có yên xe, vành xe…)
Cô gợi ý để trẻ trả lời và củng cố nhấn mạnh lại để cho trẻ phát âm chính
xác các bộ phận của xe.
* Qua giờ ăn: Tôi thường đặt ra câu hỏi giúp trẻ nhận biết, gọi tên các món
ăn.
Ví dụ: Hôm nay con ăn cơm với gì?, Canh rau gì?, Có ngon không?…
- Qua giờ dạo chơi thăm quan: Tôi cho trẻ quan sát các đồ vật, đồ chơi theo
từng chủ đề. Tùy từng loại đồ vật, đồ chơi mà tôi đặt ra câu hỏi cho phù hợp.
Ví dụ: Chủ đề “ Bé và gia đình thân yêu của bé”
Khi quan sát bếp ăn, Tôi hỏi “Ai đây?”, “Bác đang làm gì?”, “Cái gì đây?”,
“để làm gì?”…
* Trong các giờ hoạt động khác: Tôi thường xuyên lồng nghép, giúp trẻ
nhận biết sự vật, hiện tượng một cách nhẹ nhàng, phù hợp nhằm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ.
- Thông qua cho trẻ hoạt động với đồ vật :
Ví dụ: Trong giờ hoạt động với đồ vật cô có thể phát triển ngôn ngữ cho trẻ
bằng cách đặt hệ thống câu hỏi để trẻ trả lời như: Đây là các hình khối gì? Con
đang xếp gì đấy? (Con xếp ngôi nhà), Con xếp như thế nào? (Con xếp chồng
được cách sử dụng ngô ngữ nghệ thuật.
17
Ví dụ: Chủ đề “Bé và những người thân yêu của bé” Hoạt động văn học.
Vào bài tôi cho trẻ hát bài “Ông cháu”.
Tôi hỏi trẻ: Con vừa hát bài hát gì? Bài hát nói về ai? Sau đó tôi đọc, kể
chuyện, thơ “Cháu chào ông ạ!” cho trẻ nghe.
Lần 1: Cô đọc bằng cử chỉ điệu bộ
Lần 2: Cô sử dụng tranh thơ để đọc
Lần 3: Cô sử dụng mô hình
Sau đó cô đàm thoại, gợi nhớ để trẻ kể tên các nhân vật trong chuyện và
được ghi nhớ và đọc lại. Cô phải sửa sai từ ngọng như: “Nhỏ xíu, lông vàng”.
Qua tác phẩm còn giáo dục trẻ lễ phép với người lớn.
Ngoài ra cô hướng dẫn trẻ sắc thái, biểu cảm của các nhân vật trong tác
phẩm.
Ví dụ: Như “Chủ đề giao thông” Hoạt động nhận biết tập nói “Nhận biết
Ô tô khách”. Tôi cho trẻ hát bài “Lái ô tô”.
Khi trẻ hát xong tôi hỏi trẻ: Con vừa hát bài hát gì? Bài hát nói về cái gì?
Sau đó tôi cho trẻ nhận biết về Ô tô khách?
Cô phải luyện phát âm chính xác cho trẻ. Có trẻ nói ngọng là “Ô tô hách”.
Cô phải nhắc lại cho đúng là “Ô tô khách”.
Cô luyện cho trẻ nói câu đúng ngữ pháp “Ô tô dùng chở khách”. Muốn trẻ
nói thật chính xác thì cô phải là người phát âm chuẩn, không ngọng, nói đúng
ngữ pháp.
Công việc phát triển ngôn ngữ được tiến hành trong cả chế độ sinh hoạt.
Với lời nói của cô giáo trẻ học cách cầm thìa, ăn uống gọn gàng, lau mồm…
nghĩa là không chỉ học các hành động mà học cả những quy tắc hành vi.
- Cô giáo, người lớn là tấm gương sáng cho trẻ noi theo về cách nói năng
và phát âm theo cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt.
dung của chúng. Trên cơ sở đó hình thành nên lời nói tích cực. Trẻ được phát
âm, tập nói từ, ngữ, câu đúng ngữ pháp mang tính biểu cảm giúp cho ngôn ngữ
trẻ mạch lạc và chính xác hơn. Bản thân tôi luôn nói chuẩn mực đạo đức, nói
đúng ngữ pháp, không có biểu hiện của những hành vi thiếu văn hóa hoặc thiếu
chuẩn mực trước trẻ, trước đồng ngiệp.
Biện pháp 5. Phối hợp với các bậc phụ huynh phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Gia đình, là môi trường đầu tiên và lâu dài trong việc giáo dục hình thành kỹ
năng sống của trẻ, là cơ sở để con người phát triển một cách toàn diện. Chính vì
vậy, để giúp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng đạt kết quả tốt.
Ngay từ đầu năm học, ở nhóm tôi thành lập Ban đại diện cha mẹ phụ huynh học
sinh, thống nhất nội dung, phương pháp hình thức về chăm sóc con theo khoa
học. Đặc biệt là về phát triển ngôn ngữ. Thông qua Ban chấp hành phụ huynh tổ
chức họp trong nhóm truyên truyền kinh nghiệm với nhau.
Sau mỗi ngày, lúc trả trẻ tôi trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập,
sinh hoạt của trẻ ở trường. Sau mỗi chủ đề tôi gửi kết quả thông báo đến từng
phụ huynh về sự tiến bộ của con em mình để phụ huynh phối kết hợp giữa gia
đình và nhà trường. Tôi đã thống nhất nội dung, phương pháp giáo dục ngôn
ngữ cho trẻ giữa cô giáo ở lớp và cha mẹ ở nhà. Tránh tình trạng cô dạy thế này,
mẹ dạy thế kia. Đối với những trẻ cá biệt, kém về ngôn ngữ tôi cũng kịp thời
trao đổi cho phụ huynh thấy được sự tiến bộ của cháu chính là nhờ sự giáo dục
đồng bộ và thống nhất mà trẻ có thể tiến bộ rõ rệt. Các cháu đến lớp biết chào
cô, về nhà chào ông bà, cha mẹ, cháu nào cũng ngoan ngoãn, đáng yêu, giúp phụ
huynh yên tâm, tin tưởng.
Khi ở gia đình bố mẹ có mua sắm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ nhưng chơi như
thế nào? thì phương pháp thực sự còn chưa quan tâm, chơi cùng trẻ và hướng
dẫn trẻ chơi. Do đó sự trao đổi giữa cô và phụ huynh là rất cần thiết.
Ví dụ: Mua búp bê chỉ đưa cho trẻ thì trẻ chỉ chơi một lúc là chán. Nhưng
ở lớp trẻ chơi với búp bê thì cô phải hướng dẫn trẻ bế em, cho em ăn, lau miệng,
uống nước rồi cho em ngủ, thông qua lời nói kết hợp với động tác, qua đó trẻ bắt
chước những thao tác đó với những lời nói mang tính biểu cảm như “Chị yêu
Đạt yêu cầu
Nội dung
Trẻ thực hiện được một số nhiệm
vụ khi yêu cầu.
Trẻ trả lời được các câu hỏi đưa ra
25
Trẻ phát âm rõ tiếng
Đọc được các bài thơ, ca giao,
đồng giao với sự giúp đỡ của cô
giáo.
Chưa đạt
yêu cầu
Số
Tỷ lệ
cháu
%
Số
cháu
Tỷ lệ
%
24
96
Phát triển vốn từ và ngôn ngữ cho trẻ 25 – 36 tháng tuổi là hoạt động vô
cùng quan trọng. Vì vậy, các trường mầm non và mỗi giáo viên cần có biện pháp
thiết thực để phát triển vốn từ cho trẻ một cách tích cực.
20
Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp. Điều này giúp trẻ có
điều kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh. Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ
sớm tiếp thu những giá trị thẩm mỹ trong thơ ca, truyện kể, những tác phẩm
nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đem đến cho trẻ từ những ngày ấu
thơ. Sự tác động của lời nói có nghệ thuật như một phương tiện hữu hiệu giáo
dục thẩm mỹ cho trẻ.
Để phát huy được hiệu quả về lĩnh vực phát triển cho trẻ lứa tuổi 25 - 36
tháng tuổi đòi hỏi: Giáo viên phải nắm vững nội dung phát triển ngôn ngữ cho
trẻ ở nhóm 25 - 36 tháng tuổi. Xây dựng môi trường giáo dục trong và ngoài
lớp. Đa dạng hình thức gây hứng thú. Tạo cơ hội phát huy tính tích cực của trẻ ở
mọi lúc mọi nơi. Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng đồ chơi để cho trẻ được trải nghiệm.
Tổ chức các hoạt động một cách linh hoạt, sáng tạo hơn..
- Kiến nghị
* Đối với bản thân, đồng nghiệp: Muốn phát triển ngôn ngữ, làm giàu vốn
từ cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi, giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung, kiến thức,
xác định rõ mục đích, yêu cầu của bài dạy, để tổ chức tốt giờ dạy nhận biết, tạo
môi trường học tập phong phú, thân thiện với trẻ. Trang trí và sắp xếp lớp học
theo chủ đề. Giáo viên là người tạo cơ hội, tạo tình huống có vấn đề để trẻ tích
cực hoạt động, tích cực nói, trả lời câu hỏi, trò truyện với cô. Giáo viên phải
nắm được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, từ đó có biện pháp rèn luyện, uốn nắn
kịp thời, không nhắc lại những lời nói sai của trẻ. Cho trẻ tiếp xúc với các sự
vật, hiện tượng xung quanh, đặt nhiều câu hỏi để trẻ trả lời. Chuẩn bị tốt mọi
điều kiện, phương tiện, đồ dùng, đồ chơi phong phú, đẹp mắt, phù hợp với trẻ,
tận dụng phế liệu làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình giáo dục mầm non (Ban hành kèm theo thông tư số
17/2009/ BGD&ĐT ngày 19 tháng 07 năm 2009.
2. Mô đun MN1 - A - Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm
giáo dục phát triển ngôn ngữ (Dành cho giáo viên) Bộ giáo dục và đào tạo.
3. Các hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non theo chương trình
giáo dục mầm non mới – Bùi Kim Tuyến (Chủ biên) Nhà xuất bản giáo dục Việt
Nam.
4. Hướng dẫn thực hiện chương trình cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi – Trần Thị
Ngọc Trâm - T.S Lê Thu Hương – PGS.TS Lê Thị Ánh Tuyết (Đồng chủ biên)
5. Các hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non theo chương trình
giáo dục mầm non mới – Bùi Kim Tuyến (Chủ biên) Nhà xuất bản giáo dục Việt
Nam.
6. Những sáng kiến kinh nghiệm chọn lọc nâng cao chất lượng chă sóc,
giáo dục trẻ (Dành cho giáo viên mầm non) – Phan Lan Anh – Lý Thị Hằng –
Nguyễn Thị Hiếu – Nguyễn Thanh Giang – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
7. Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện kể, câu đố theo chủ đề cho trẻ
3 – 36 tháng _ Lê Thu Hương (Chủ biên) – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.
8. Tạp chí GDMN, Qua mạng Internet
9. Các trò chơi và hoạt động cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi
23
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36
tháng thông qua hoạt động
nhận biết ở lớp A1 trường
Mầm non Nga Thái - Nga
Sơn”.
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, C)
Năm học
được đánh giá
xếp loại
B
Năm học:
2011 - 2012
B
Năm học:
2014 - 2015
A
Năm học:
2016 - 2017