ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------
DOÃN KIÊN
(YIN JIAN)
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG HỒI ĐÁP LỜI KHEN
CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY TRONG TIẾNG HÁNVÀ TIẾNG VIỆT
(QUA TƢ LIỆU CÁC TRANG MẠNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------
DOÃN KIÊN
(YIN JIAN)
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG HỒI ĐÁP LỜI KHEN
CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY TRONG TIẾNG HÁNVÀ TIẾNG VIỆT
(QUA TƢ LIỆU CÁC TRANG MẠNG)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60220240
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Doãn Kiên
(YinJian)
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... - 1 1. LÍ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI ............................................................ - 1 2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN ........................... - 1 2.1. Mục đích nghiên cứu..................................................................... - 1 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... - 2 3. PHƢƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... - 2 4. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI VÀ TƢ LIỆU NGHIÊN CỨU ............. - 4 5. Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN .............. - 5 6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN .......................................................... - 5 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN .............................................. - 5 1.1
Tổng quan tình hình nghiên cứu .................................................. - 6 -
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở phương Tây ......................................... - 6 1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc ......................................... - 8 1.1.3 Tình hình nghiên cứu ởViệt Nam ..............................................- 11 1.2 Cơ sở lý thuyết liên quan đến luận văn ......................................... - 17 1.2.1 Xung quanh thuật ngữ “giới tính” và “giới” ........................... - 17 -
1.2.2Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới. ..... - 20 1.2.3 Hành vi ngôn ngữ và hành vi tiếp nhận lời khen .................... - 29 1.2.4Cấu trúc và loại hình tiếp nhận lời khen. .................................. - 33 1.3 Tiểu kết ............................................................................................. - 36 CHƢƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM CỦA HỒI ĐÁP LỜI KHEN CỦA GIỚI TRẺ
VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TRONG TIẾNG HÁN TIẾNG VIỆT- 37 2.1.Một số loại hình của chiến lƣợc hồi đáp lời khen của giới trẻ Trung
Quốc và Việt Nam trong tiếng Hán và tiếng Việt ............................... - 38 2.1.1.Hồi đáp lời khencủa giới trẻ Trung Quốc trong tiếng Hán ..... - 38 2.1.2.Hồi đáp lời khencủa giới trẻ Việt Nam trong tiếng Việt ........... - 42 2.2Những khảo sát cụ thể ..................................................................... - 44 2.2.1 Phân tích hồi đáp lời khen và giới tính khác nhau trong tiếng Hán- 44 2.2.2 Phân tích hồi đáp lời khen và giới tính khác nhau trong tiếng Việt- 47 2.3 Phân tích hội đáp lời khen về hình thức bên ngoài trong tiếng Hán
và tiếng Việt............................................................................................ - 50 2.3.1 Trong tiếng Hán .......................................................................... - 50 2.3.2Trong tiếng Việt ............................................................................ - 51 2.4Tiểu kết .............................................................................................. - 52 -
Chƣơng 3. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐNGOÀI NGÔN NGỮ
ĐẾN HỒI ĐÁP LỜI KHEN CỦA GIỚI TRẺ TRUNG QUỐC VÀ VIỆT
NAM .......................................................................................................... - 53 3.1 Nhận xét chung ................................................................................ - 53 3.2. Những nguyên nhân về văn hóa xã hội tác động đến lời hồi đáp
khen của giới trẻ Trung Quốc và Việt Nam ........................................ - 54 3.2.1. Về tính lịch sự trong hồi đáp .................................................... - 54 3.3. Nhận xét .......................................................................................... - 57 3.3.1 Lý do khác nhau trong lời đáp lời khencủa giới trẻ hai nước . - 57 3.3.2Lý do khác nhau về hồi đáp lời khen giữa nam và nữ .............. - 58 3.4Tiểu kết .............................................................................................. - 62 KẾT LUẬN ............................................................................................... - 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... - 65 -
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Khen người khác hay được người khác khen và hồi đáp lời khen là một trong
những cách ứng xử văn hóa phổ biến trong cuộc sống của con người nhưng lại
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nêu tr ên, luận văn đã đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu như sau:
1) Giới thiệu, hệ thống hóa một số nội dung cơ bản về lí thuyết giao tiếp bằng
ngôn ngữ liên quan đến ngữ dụng học (như lí thuyết hành vi ngôn ngữ) và liên
quan đến ngôn ngữ học xã hội (như mối quan hệ giữa ngôn ngữ vàngữ dụng)
2) Đưa ra một cái nhìn tổng quát về hành vi tiếp nhận lời khen trong giao tiếp
bằng ngôn ngữ nói chung và tiếng Hán-Việt nói riêng qua cách phân tích, khảo sát
và chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ giới của hành vi hồi đáp lời khen trong giao tiếp
ngôn ngữ tiếng Hán và tiếng Việt.
3) Khảo sát, nghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ giới ở hồi đáp lời khen trong
giao tiếp tiếng Hán và tiếng Việt:
– Khảo sát phân tích hồi đáp lời khen trong tiếng Hán và tiếng Việt của giớinam
và nữ trẻ tuổi ở Trung Quốc và Việt Nam.
–Phân tích, giải thích nguyên nhân hồi đáp lời khen của giới nam nữ trẻ Trung
Quốc và Việt Nam trong tiếng Hán và tiếng Việt.
3. PHƢƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện luận vănnày, chúng tôi sử dụng một số phương pháp và thủ pháp
sau:
-2-
Các phương pháp và thủ pháp điều tra, khảo sát của ngôn ngữ học xã hội:
phỏng vấn sâu, nhập thân vào vai giao tiếp, quan sát vàthống kê phân loại tư liệu
bằng hệ thống giao tiếptrên mạng.
Phỏng vấn sâu: Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn theo
cách trò chuyện để thu thập thông tin về lời khen. Chẳng hạn, chúng tôi gặp gỡ
bạn bè và các bạn sinh viên khác rồi đưa ra chủ đề về trang phục và hỏi nh ững câu
hỏi gợi ý như: “nếu hôm nay thấy sếp của bạn diện một bộ trang phục mới, đẹp thì
bạn sẽ khen như thế nào để cho vừa lòng”; hoặc tự đưa ra một lời khen hay hồi
đáp lời khen trong bối cảnh giao tiếp cụ thể nào đó để bạn bè và các bạn sinh viên
cách ghi âm, quan sát ghi chép và tiến hành phỏng vấn.
- Luận vănsử dụng tư liệu từ các phim phát sóng trên các chương trình truyền
hình của Trung Quốc và Việt Nam.
- Đối với tư liệu từ giao tiếp viết, chúng tôi thu thập tư liệu từ các báo điện
tử, các website, blog, facebook,...và một số truyện đã phát hành.
3) Nguồn tư liệu của luận văn là các cuộc giao tiếp hiện nay. Nếu trong luận
văncó sử dụng các tư liệu giao tiếp củaluận văn khác hay của người nghiên
cứutrước thì đây chỉ là tư liệu được lấy làm gương mà thôi.
-4-
5. Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Về mặt lí luận, luận văn muốn góp phần vào nghiên cứu những vấn đề về
giao tiếp trong ngôn ngữtiếng Hán và tiếng Việt dưới tác động của các nhân tố xã
hội - ngôn ngữ. Tách nhân tố giới ra thành một biến xã hội để nghiên cứu hồi đáp
lời khen, luận văn cũng góp phần vào nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và
giới tính.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần vào nghiên cứu giao tiếp trong tiếng
Hán và tiếng Việt dưới tác động của nhân tố giới. Thông qua tiếp nhận lời khen có
thể thấy được những biến đổi về lối ứng xử văn hóa - ngôn ngữ của người Trung
Quốc và người Việt cũng như những thay đổi trong cách nhìn nhận về giới của
người Trung Quốc và người Việt.
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính
của luận vănđược cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết liên quan đến luận
văn.
Chương 2. Đặc điểm của hồi đáp lời khen trong tiếng Hán của giới trẻ Trung
Quốc và trong tiếng Việt của giới trẻ Việt Nam.
Chương 3. Tác động của các nhân tố ngoàingôn ngữ đếnhồi đáp lời khen của giới
còn đ àn ông New Zealand cũng nhận được những lời khen về vẻ bề ngoài nhưng
-6-
chỉ khoảng 40%, phần lớn các lời khen này là từ giới nữ. Kết quả nghiên cứu được
tiến hành tại khuôn viên của một trường đại học của Mĩ cho thấy, giớinam khen
về ngoại hình của giới nữ nhiều gấp hai lần so với giới nữ khen ngoại hình của
giớinam (52% so với 26%). Phụ nữ thường khá thận trọng trong việc đưa ra lời
khen có liên quan đến bề ngoài,đến vẻ đẹp hình thể của đàn ông bởi đó được coi là
vấn đề khá nhạy cảm. Có thể nói, trong khi đàn ông không để ý thậm chí không
thích nhận được lời khen về ngoại hình thì giới nữ lại đặc biệt coi trọng các lời
khen về vẻ bề ngoài của mình.
Kết quả khảo sát của Wolfson cho thấy, trong thói quen giao tiếp của người
Mĩ, giớinam hiếm khi đưa ra hoặc nhận được những lời khen về ngoại hình từ
những giớinam khác và cũng hiếm khi nhận được những lời khen này từ phụ nữ,
nên nhìn chung, đây không phải là một chủ đề thú vị đối với cả nam và nữ. Tác
giả cũng lưu ý thêm rằng, những lời khen như vậy thường có ởgiớinam còn trẻ
tuổi (hơn là giới nữ cùng độ tuổi này) và đối với giớinam có địa vị cao hơn hoặc
đang thực hiện một số công việc mang tính đặc thù thì dường như có phần khắt
khe hơn. Như vậy thì giới tính,quan hệ tuổi t ác và địa vị xã hội là nh ững nhân tố
quan trọng trong việc lựa chọn chủ đề khen.
Nam và nữ khen như thế nào cũng là một nội dung của mối quan hệ giữa
hành vi khen và giới. Kết quả nghiên cứu đối với hành vi khen cho thấy có sự lặp
đi lặp lại đáng ngạc nhiên của cả chủ đề khen cũng như các từ ngữ chuyên dùng
để miêu tả các chủ đề này, đến mức chúng trở thành các mô thức. Dưới đây là một
số mô hình khen mà Manes và Wolfson đã tổng kết được qua tư liệu khảo sát ở Mĩ
-7-
và New Zealand [55]:
nguyên nhân, chỉ ra nguyên nhân được khenkhi tiếp nhận lời khen.
2.Giảm mức độ lời khen, cách hồi đáp này biểu thị sự khiêm tốn của người Trung
Quốc, trong tiếng Anh, cách tiếp nhận thường là không tiếp nhận hoặc không
chân thành.
3.Hỏi lại, như “thế ạ?” để hồi đáp lời khen, đây không nên hồi đáp vấn đề của đối
phương, thường biểu thị hài lòng, vui vẻ hoặc biểu thị đồng ý.
Các nghiên cứu còn chỉ ra đặc trưng của lời khen và hồi đáp khen về hình
thức trong tiếng Hán nh ư: về đặc trưng từ vựng, sử dụng số lượng cao nhất là tính
từ; trong lời khen tiếng Hán,sử dụng chủ ngữ ngôi thứ nhất cực kỳ ít, đa số đều sử
dụng ngôi thứ hai; nội dung khen chủ yếu tập trung vào bên ngoài và thành tích;
trong lời khen tiếng Hán có hai chủ đ ề đặc biệt hơn là khen v ề tính cách và khen
thành viên gia đình. Truyền thống hồi đáp lời khen tiếng Hán là “từ chối” ( Ye
1995, 何自然 “He ziran” 1995)[58,35]. Tuy nhiên, trong 20 năm trở lại đây có
nhiều biến đổi “nói chung, trong khi từ chối càng ngày càng ít, thì tiếp nhận càng
ngày càng lên cao.” (冯友 “Feng you” 2006:28)[33].Lý do có một số khác biệtđ
ó là do tùy theo xã hội phát triển và văn hóa giao tiếp phương Tây, người Trung
-9-
Quốc sử dụng lời khen tiếng Hán có nhiều biến đổi.
Bắt đầu từ năm 1990, người nghiên cứu lời khen bắt đầu từ góc độ giới
tính.Trong đó, đáng chú ý là nghiên cứu của Ye.Ye (1995: 207-302)[58] áp dụng
phương pháp điều tra bằng anket để thu thập tư liệu, trong nghiên cứu sủ dụng
DCT(Discourse Completion) hoàn thành đối thoại, từ bên ngoài và tính cách để
điều tra tình hình sử dụng lời khen nam và nữ.Kết quả cho thấy, giới nữ sử dụng
khen trực tiếp và khen gián tiếp nhiều hơn, giới nam sử dụng không đồng ý và
không phản ứng.Trong hồi đáp lời khen, giới nữ sử dụng tiếp nhận nhiều và “tiếp
nhận + bổ sung”, giới nam sử dụng không tiếp nhận và không hồi đáp nhiều hơn.
Trong tiếng Hán cũng đã có một số người nghiên cứu lời khen từ góc độ giới
tính(贾玉新 “Jia yuxin” 1997, 魏耀章 “Wei yaozhang” 2001,权立宏 “Quan
nữ chọn cách này là 12.8% [59].
1.1.3 Tình hình nghiên cứu ởViệt Nam
1.1.3.1Nghiên cứu hành vi khen và tiếp nhận lời khen ở Việt Nam
Khen là một động từ thường dùng trong tiếng Việt, vì thế, từ góc nhìn hệ
thống - cấu trúc, động từ khen thường được đề cập đến trong những công trình
nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt của các tác giả như Nguyễn Kim Thản, Diệp
- 11 -
Quang Ban,… những công trình về từ vựng ngữ nghĩa như của Nguyễn Văn Tu,
Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,… và một số luận văn, luận áncó liên quan. Ví
dụ, luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thu Hoa (1996) “Cấu trúc nghĩa của động từ nói
năng “khen”, “tặng”, “chê”. Khi ngữ dụng học được nghiên cứu ở Việt Nam, khen
được nghiên cứu với tư cách là một hành vi ngôn ngữ. Một số bài viết, công trình
nghiên cứu về ngữ dụng học trên cứ liệu của tiếng Việt đã đề cập đến hành vi khen.
Điều cần nhấn mạnh là, cả 4 công trình này đều nghiên cứu hành vi khen và hồi
đáp khen theo hướng đối chiếu với tiếng Anh/Anh Mĩ.
Thứ nhất, luận văntiến sĩ của Nguyễn Quang (1999) về “Một số khác biệt
giao tiếp lời nói Việt - Mỹ trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen”, luận văn
này chú trọng tới yếu tố văn hóa và xuyên văn hóa trong lời khen và tiếp nhận lời
khen giữa hai dân tộc Việt - Mĩ. Trên cơ sở điều tra thực tế 100 phiếu tiếng Việt và
100 phiếu tiếng Anh, luận vănđã đưa ra được các mô hình cũng như những nhận
xét đáng chú ý. Chẳng hạn, theo tác giả, hành vi khen thường phải thỏa mãn hai
điều kiện là không làm mất thể diện của người được khen và cũng không đe dọa
thể diện của chính mình; cách thức tiếp nhận lời khen phụ thuộc nhiều vào thông
số của đối tượng được khen như quan hệ giữa đối tượng khen và đối tượng được
khen,chủ đề khen, ngữ cảnh khen, các yếu tố cận ngôn và phi lời nói đi kèm, ngôn
ngữ vật thể. Theo tác giả Nguyễn Quang, chủ đề khen gồm bốn nhóm: dáng vẻ bề
ngoài; điều kiện kinh tế, cuộc sống vật chất; cuộc sống tinh thần, khả năng trí tuệ,
thăng tiến sự nghiệp; giao tiếp xã hội [25]; Các chiến lược người Việt tiếp nhận
phân theo các nhóm xã hội như vùng miền, tuổi tác, học vấn, giới tính. Điểm đáng
chú ý của luận vănnày là tác giả đưa ra được nhiều mô hình khen - hồi đáp khen,
việc sử dụng ngôn từ trong đó cũng như bổ sung thêm về lí thuyết. Chẳng hạn,
theo tác giả, về mục đích khen, ngoài những nội dung mà các tác giả phương Tây
đưa ra như đã nêu ở trên, hành vi khen còn có những mục đích như: thể hiện sự
khiêm tốn, nhường nhịn; bày tỏ sự ăn năn, hối hận; để khuyên, dạy; để từ chối lời
đề nghị; để đối phó với những tình huống không hay, nhằm cải thiện tình
hình,…[7].
1.1.3.2Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính ở Việt Nam
Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính ở Việt Nam cũng đ ã sớm được
chú ý [29], tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Thanh Bình (2003), người đặt vấn đề và
nghiên cứu một cách có hệ thống phải kể đến tác giả Nguyễn Văn Khang, trong
bài “Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ (trên cứ liệu gia đình người
Việt-1996) ”, Nguyễn Văn Khang cho rằng: “yếu tố giới tính là sự tồn tại có thực
trong giao tiếp ngôn ngữ. Nó tồn tại từ hai chiều: chiều tác động của giới tính đến
việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ để giao tiếp và chiều thông qua giao tiếp
thì giới tính được bộc lộ” [14, tr187]. Vấn đề này đã được tác giả trình bày một
cách hệ thống thành một chương và chuyên sâu tại ba cuốn sách về Ngôn ngữ học
xã hội [15,16,17].
Từ đó đến nay, cùng với sự phát triển của các chuyên ngành ngôn ngữ học xã
hội, ngữ dụng học, ngôn ngữ học nhân chủng ở Việt Nam, vấn đề về mối tương
- 14 -
quan ngôn ngữ và giới tính đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả
với tư liệu là tiếng Việt hoặc đối chiếu giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác. Có
thể chỉ ra một số hướng nghiên cứu chính như sau:
Thứ nhất, coi giới tính là một nhân tố tác động đến giao tiếp, các công trình
nghiên cứu trên cơ sở của tư liệu tiếng Việt hoặc theo hướng đối chiếu (tiếng Việt
với các ngôn ngữ khác) đã chỉ ra tác động của giới tính đối với giao tiếp ngôn ngữ
khí từ tiếng Hán và việc chuyển dịch chúng sang tiếng Việt) [33], Đại học Quốc
gia Hà Nội; Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), “Hiện tượng phân biệt giới tính của
người sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật” [27].
Thứ hai, nghiên cứu quan niệm về giới cũng như sự kì thị về giới nữ được
thể hiện trong ngôn ngữ và qua đó góp phần vào việc kế hoạch hóa ngôn ngữ
chống kì thị, tạo ra sự bình đẳng về giới. Ví dụ: Đỗ Thị Kim Liên “Trường ngữ
nghĩa biểu hiện quan niệm về giới nữ trong tục ngữ Việt” [19], Nguyễn Văn
Khang “Kế hoạch hóa ngôn ngữ về chống kì thị giới tính” [15], Nguyễn Văn
Khang “Xã hội học ngôn ngữ về giới: Kỳ thị và kế hoạch hóa ngôn ngữ chống kì
thị đối với giới nữ trong việc sử dụng ngôn ngữ” [16], Trần Xuân Điệp “Sự kỳ thị
giới tính trong ngôn ngữ qua cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt” [4], Quang Minh,
- 16 -
“Thêm một cách nhìn về một số biểu hiện của sự kỳ thị giới tính trong việc sử
dụng tiếng Việt” [20].
Có thể nói, trên cơ sở lí thuyết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới cùng
các nội dung đặt ra trong nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới, giới
ngôn ngữ học Việt Nam đã có đóng góp, một mặt từ tư liệu tiếng Việt để khẳng
định biểu hiện của giới trong ngôn ngữ và tác động của nhân tố giới đến việc sử
dụng ngôn ngữ, mặt khác, góp phân đi sâu, bổ sung thêm những nhận xét về mối
quan hệ này.
1.2 Cơ sở lý thuyết liên quan đến luận văn
1.2.1 Xung quanh thuật ngữ “giới tính” và “giới”
1.2.1.1Từ “giới tính”, “giới” trong đời sống xã hội
Xung quanh hai thuật ngữ “giới tính”, “giới” và mối quan hệ giữa chúng
hiện có những quan niệm như sau:
Giới tính: Khi một đứa trẻ chào đời, một trong những câu hỏi đầu tiên
thường được đặt ra, đó là “con trai hay con gái? ”. Đây chính là giới tính. Trong
tiếng Việt, giới tính được hiểu là “những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ,
(hoặc một cậu bé hay một cô bé) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định”
- 18 -