Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
-------------
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ TỰ DO CỦA HOÀNG NHUẬN CẦM
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Kim Bảng
HẢI PHÒNG, NĂM 2017
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
Tác giả
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ...................................................................................... iv
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................v
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI.........................7
1.1. Thơ và các khái niệm liên quan ...........................................................................7
1.1.1. Khái niệm thơ ....................................................................................................7
1.1.2. Các khái niệm liên quan đến thơ.......................................................................9
1.2. Khái niệm ngôn ngữ thơ.....................................................................................11
1.2.1. Ngôn ngữ thơ là gì? ........................................................................................11
1.2.2. Đặc trưng ngôn ngữ thơ..................................................................................12
1.3. Hoàng Nhuận Cầm và thơ của ông ....................................................................18
1.3.1. Vài nét về Hoàng Nhuận Cầm.........................................................................18
1.3.2. Thơ của Hoàng Nhuận Cầm ...........................................................................19
1.4. Tiểu kết Chương 1..............................................................................................20
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TRONG THƠ TỰ DO CỦA
HOÀNG NHUẬN CẦM .........................................................................................22
2.1. Đặc điểm về vần thơ Hoàng Nhuận Cầm...........................................................23
2.1.1. Vần trong thơ tự do của Hoàng Nhuận Cầm xét theo vị trí của các tiếng hiệp
vần .............................................................................................................................24
2.1.2. Vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm xét theo đường nét thanh điệu ........29
2.1.3. Vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm xét theo mức độ hòa âm .................30
2.2. Đặc điểm về nhịp thơ Hoàng Nhuận Cầm .........................................................35
bảng biểu
2.1
Các loại vần trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm xét theo vị
trí gieo vần
Trang
24
2.2
Các loại vần chân trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm
24
2.3
Các vần theo mức độ hòa âm trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm
30
2.4
Thống kê cách ngắt nhịp trong thơ tự do Hoàng Nhuận Cầm
35
3.1
xu hướng khác nhau trong đó có khuynh hướng tự do hóa trong thơ. Với khuynh
hướng tự do hóa trong thơ ca, việc mở rộng dung lượng nội dung, phản ánh hiện
thực sinh động của cuộc sống; linh hoạt hơn trong hình thức biểu đạt thế giới nội
tâm phong phú của con người và phát huy tối đa các tính sáng tạo của nhà thơ được
xem là những thay đổi mạnh mẽ so với các thể loại thơ truyền thống. Cùng với đổi
mới về nội dung, ngôn ngữ thơ cũng được cách tân mạnh mẽ, không bị bó buộc bởi
những qui tắc cổ hủ. Do vậy, thơ tự do đã khẳng định được những ưu điểm không
thể thay thế được của nó trên thi đàn thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ tự do trước tiên
được đánh dấu bằng phong trào Thơ mới (1930 - 1945), sau đó là thời kì phát triển
mạnh mẽ của nền thơ chiến tranh cách mạng nói chung (1945 - 1975), đặc biệt là
giai đoạn chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) và tiếp nối là từ sau năm 1975 đến nay
gắn liền với giai đoạn xây dựng đất nước. Có thể nói, trong giai đoạn hiện đại, thơ
tự do giữ vị trí thống trị thi đàn so với các thể thơ khác.
1.3. Đặc điểm về mặt hình thức của thơ tự do là không quy định số lượng câu
chữ, vần điệu, cấu trúc bài thơ; biến đổi linh hoạt, cởi mở theo cảm xúc và không bị
2
gò ép như thơ truyền thống (lục bát, song thất lục bát) hay thơ Đường luật. Chính vì
thế mà rất nhiều nhà thơ hiện đại đã lựa chọn thơ tự do là thể loại chính trên bước
đường sáng tạo thi ca và nhiều tác giả đó thành danh ở thể loại thơ ca này. Những
nhà thơ nổi tiếng trong giai đoạn hiện đại có rất nhiều trong đó có thể kể đến những
nhà thơ nổi tiếng với thể thơ tự do như Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Nguyễn
Đình Thi, Hoàng Cầm, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Tế
Hanh...Trong số những nhà thơ trải qua chiến tranh chống Mỹ cứu nước và trưởng
thành trong giai đoạn hiện nay, được nhiều người yêu thích, đặc biệt là giới trẻ, tên
nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm luôn được đề cập. Ông một người lính và một người
cầm bút; sáng tác nhiều và khỏe đặc biệt trong thời gian cầm súng từ 1971 đến
1975. Trong số các bài thơ tiêu biểu của ông, tập thơ “Xúc xắc mùa thu" được nhận
giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993. Đến năm 2012, tuyển tập thơ
Văn Nguyên và Hà Minh Đức (1971). Trong công trình nghiên cứu Thơ ca Việt
Nam, các ông đã đề cập đến thể thơ tự do, đặc biệt là về mặt hình thức: Nói đến thơ
tự do là muốn nói đến một thể thơ ít bị ràng buộc nhất về mặt vần điệu, về sự hạn
định câu ... như thế đúng về mặt hình thức cấu tạo thơ tự do có thể có câu dài ngắn
khác nhau [33]. Cũng trên tinh thần này, Lam Giang (1994) đánh giá: Tự do dùng
chữ, tự do đặt câu, tự do gieo vần hay bá vần, tự do chọn điệu cũ hay sáng tạo điệu
mới, tự do chọn nghĩa lí hay không cần nghĩa lí. [15].
Trong công trình Hành trình thơ Việt Nam hiện đại (1998), Trần Đình Sử có
thống kê tỉ lệ thơ tự do trong các tuyển tập thơ và khẳng định: Xét về hình thức bề
ngoài, thơ sau cách mạng năm 1945 phát huy hình thức tự do [37]. Theo kết quả
thống kê sơ bộ của nhà nghiên cứu này, ở tập Thơ kháng chiến 1945 - 1954 (NXB
Tác phẩm mới, năm 1986) có 62/147 bài thơ tự do. Ở tập Thơ Việt Nam 1945 - 1985
(NXB Văn học, năm 1985) có 98/213 bài thơ tự do. Điều đó chứng tỏ rằng, thơ tự
do chiếm ưu thế vượt trội hơn hẳn so với các thể thơ khác. Các kết quả khảo sát đã
chỉ rõ ràng là xu thế phát triển của thơ Việt Nam hiện đại là xu thế tự do hoá hình
thức thơ.
Xu hướng tự do hoá hình thức thơ gắn với sự phát triển của thế thơ tự do đó
trở thành hướng phát triển của thơ Việt Nam hiện đại. Nhiều nhà nghiên cứu trong
giai đoạn hiện nay như: Mã Giang Lân, Nguyễn Xuân Nam, Hữu Đạt, Nguyễn Văn
Long, Nguyễn Thị Phương Thùy...đã khẳng đinh xu hướng này. Đây cũng là một
luận điểm quan trọng mà chúng tôi lưu ý khi triển khai đề tài luận văn.
4
2.2. Nghiên cứu thơ tự do từ góc độ ngôn ngữ học
Nghiên cứu thơ tự do từ góc độ ngôn ngữ học, cho đến nay chưa có nhiều.
Có thể kể đến một sổ luận văn, luận án nghiên cứu về thơ tự do từ góc độ này như:
Khương Thị Thu Cúc với luận văn Sự vận động của thể thơ tự do từ phong trào thơ
Mới đến nay [6], nhìn nhận vấn đề thơ tự do theo quan điểm thể loại hình thức. Hà
Thị Diễm Hường với luận văn Khảo sát nhịp điệu trong thơ tự do [18] nghiên cứu
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Thơ và các khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm thơ
Thơ, một loại hình nghệ thuật ra đời hầu như sớm nhất gắn liền với nhảy
múa và ca nhạc (thơ ca), được sử dụng trước tiên trong các nghi lễ thần linh, ma
thuật ngay từ thời nguyên thủy. Trong tiếng Trung Hoa, thơ được đọc là thi được
dùng để ghi chép lịch sử (sử thi) và được dùng chung ở vùng Đông Á cổ và trung
đại. Thuật ngữ poiè sis của Hi Lạp được dùng chung ở vùng châu Âu để nói về nền
thi ca. Đối lập với thơ, văn xuôi (thuật ngữ văn ở Trung Hoa và Đông Á và prosa
gốc La tinh được dùng ở châu Âu) thường được dùng để gọi chung những tác phẩm
chữ viết không mang tính nghệ thuật như sử, triết, chính luận, hành chính,... Vào
thời cận đại, hiện đại, thơ có nghĩa hẹp chỉ riêng loại hình sáng tác cụ thể như thơ
trữ tình, thơ tự sự, trường ca...Mặc dù thơ luôn hiện hữu thường xuyên trong cuộc
sống hàng ngày, trong thực tế cuộc sống, tuy nhiên đưa ra một định nghĩa chung về
nó là điều khó khăn.
Định nghĩa về thơ, Jakobson đưa ra luận điểm: Thơ là thứ ngôn ngữ tự quy
chiếu, tự nó đầy đủ cho nó [22]. Ông bình luận thêm: ý nghĩa của bài thơ không
phải chỉ ở cái được nói mà chủ yếu còn ở cách nói. Ngôn ngữ không còn là phương
tiện truyền thông mà là nội dung của việc truyền thông. Với những mức độ khác
nhau có thể nói hầu hết các trường phái phê bình hiện đại đều tập trung vào một
nội dung đặc biệt trong thơ: bản thân hình thức của thơ [22]. Từ đó, ông khái quát:
Là thơ, theo các nhà hình thức luận của Nga là kỹ thuật, theo các nhà cấu trúc luận
của Pháp là một hệ thống kí hiệu, theo các nhà phê bình mới của Mỹ là một cấu
trúc của ý nghĩa [22].
Phạm Quỳnh đã đưa ra một định nghĩa rất đơn giản về thơ, chú ý tương quan
giữa thơ và họa: Ta coi thơ tức là vẽ, và vẽ tức là thơ; thơ là vẽ bằng lời, bằng âm
học mới tại Việt Nam: Nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ. Và đến năm 1995,
trong công trình Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Phan Ngọc đã đưa ra
định nghĩa về thơ: Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp
nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ
này [32]. Theo đó, ông khẳng định thêm: Một khi đã nhìn theo quan điểm này thì từ,
nhịp, vần, phách, thể loại, trường phái... cái gì cũng có nội dung của nó và nội dung
ấy là những kiểu quan hệ [32]. Cùng với Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh đã đi sâu
9
nghiên cứu những đặc trưng của thơ từ phương diện ngôn ngữ trong tiểu luận Ngôn
ngữ thơ [3]. Lĩnh hội tư tưởng về thơ của Jakobson, Nguyễn Phan Cảnh đã có
những phân tích cụ thể về các đặc trưng của thơ trong phân biệt với văn xuôi.
Từ góc độ lý luận, xem xét thơ trong mối quan hệ tổng hòa giữa nội dung
và hình thức, Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa thơ là: Hình thức sáng tác
văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ
bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu [45]. Định nghĩa
này đã bao quát được đầy đủ các tiêu chí về cả nội dung và hình thức nghệ thuật
của thơ, hơn nữa nó còn chỉ ra đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ để khu biệt
với ngôn ngữ trong các thể loại văn học khác.
1.1.2. Các khái niệm liên quan đến thơ
1.1.2.1. Khái niệm thi pháp học
Thi pháp học (poetics) là một phân môn của lý luận văn học được định
nghĩa: "Thi pháp học là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương
tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn
học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hoá các yếu tố của văn bản
nghệ thuật tham gia vào việc tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và
chiều sâu của sáng tác nghệ thuật" (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục
2009, tr. 304).
Thi pháp coi đối tượng là văn bản nghệ thuật (trong đó có thơ) đề cập đến 3
môn này đó phát triển và hoàn thiện và được coi là phần quan trọng nhất của ngành
thi học. Nội dung của thi luật nghiên cứu:
- Cách thức tổ chức và hoà phối các âm/thanh trong dòng thơ, câu thơ, khổ
thơ, bài thơ (thi âm);
- Cách thức tạo lập một dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ thông qua các
bước thơ (thi tiết);
- Qui tắc về nhịp điệu của dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ (thi điệu);
- Qui tắc về vần điệu dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ (thi vận);
- Cách thức tổ chức một khổ thơ từ nhiều dòng thơ (thi đoạn).
Tuy nhiên, tuỳ từng ngôn ngữ, quan niệm về thi luật có khác nhau.
Các học giả Pháp khảo sát các kĩ thuật liên quan đến câu thơ, sự cấu thành
khổ thơ, nhịp điệu và âm hưởng (sonorite'). Họ còn nói đến tính nhạc của thơ mà
tính nhạc này được thể hiện bằng vần (nhiều kiểu koại vần khác nhau); sự điệp âm
(nguyên âm và phụ âm) trong nhiều dòng thơ; sự điệp khúc và sự tương quan giữa
âm và nghĩa. Các học giả Pháp cũng nhấn mạnh: thơ là để đọc ra bằng miệng cho
11
nên nhịp điệu, số lượng âm tiết, trọng âm, chỗ ngắt giọng...là quan trọng. Các học
giả Anh Mỹ xem thi luật là là thuyết về cấu trúc và đặc điểm của thơ, nghiên cứu về
nghệ thuật làm thơ, các nguyên lí và kĩ thuật làm thơ. Do vậy họ quan tâm đến: tiết
điệu tức âm tiết khi làm thơ, nhịp điệu, vần và hình thức của một khổ thơ. Các học
giả Nga xem thi luật nghiên cứu trước hết về các đặc điểm ngữ âm và cách tổ chức
ngôn ngữ thơ đặt trong sự phân biệt với văn xuôi.
Tóm lại, thi luật dù theo quan niệm của trường phái nào cũng phải quan tâm
đến: nguyên âm, phụ âm, âm tiết, trọng âm, thanh điệu, nhịp điệu, chỗ ngừng và
ngữ điệu. Thi luật không nghiên cứu các hiện tượng này rời rạc mà chúng phải được
kết nối, tập hợp, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau trong sáng tạo và cảm thụ thi ca.
1.2. Khái niệm ngôn ngữ thơ
1.2.1. Ngôn ngữ thơ là gì?
hóa... tạo nên những hình ảnh tượng trưng, gợi nên những liên tưởng phong phú.
Ngôn ngữ thơ được tổ chức có vần, có nhịp, có số lượng âm tiết, có đối, có
số câu, có niêm luật, có sự vận dụng về trọng âm và trường độ... chính nhờ cách tổ
chức ngôn ngữ độc đáo ấy mà ngoài ngữ nghĩa thông báo của bài thơ ta còn có
những ngữ nghĩa khác. Điều đó làm nên tính đa tầng ý nghĩa của thơ, giúp nhà thơ
chuyển tải tối đa sự phức tạp, tinh tế vô cùng của tâm trạng, tình cảm con người
trong sự hữu hạn của câu chữ.
1.2.2. Đặc trưng ngôn ngữ thơ
Để làm rõ đặc trưng của ngôn ngữ thơ ta sẽ dựa vào ba phương diện sau:
1.2.2.1. Về ngữ âm
Thơ là tiếng nói của tâm hồn tình cảm con người. Thế giới nội tâm của nhà
thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp
điệu của từ ngữ ấy. Trong thơ, các đặc trưng về ngữ âm được tổ chức một cách chặt
chẽ, có dụng ý để tạo nên tính nhạc. Vì vậy, tính nhạc được xem là đặc thù cơ bản
của ngôn ngữ thơ ca và cũng là một đặc điểm nổi bật để phân biệt với văn xuôi.
Tiếng Việt có sự phong phú về thanh điệu, số lượng các nguyên âm, phụ âm,
đó là cơ sở để tạo tính nhạc trong thơ. Đặc biệt là sự phong phú về thanh điệu đã tạo
nên dáng vẻ riêng biệt của tính nhạc trong thơ.
Khi khai thác tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý đến những đối lập sau:
- Sự đối lập về trầm - bổng, khép - mở các nguyên âm.
- Đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh
trong các phụ âm cuối.
- Đối lập cao - thấp, bằng - trắc của các thanh điệu.
13
Bên cạnh đó, hai yếu tố quan trọng góp phần tạo nên tính nhạc cho ngôn ngữ
thơ ca là vần và nhịp (sự hòa âm và tiết tấu). Các tiết tấu ngữ âm này là chất liệu để
tạo nên âm hưởng du dương, trầm bổng của ngôn ngữ thơ ca. Tính nhạc trong ngôn
ngư thơ đã rút ngắn khoảng cách giữa thơ với âm nhạc. Trong thực tế, nhiều nhạc
phần vào sự hòa âm này, âm chính có một quy luật phân bố chặt chẽ trong các vần
thơ: các nguyên âm làm âm chính của hai âm tiết hiệp vần phải hoặc đồng nhất hoàn
toàn, hoặc đồng nhất về một đặc trưng nào đó (đặc trưng âm sắc: trầm hoặc bổng; đặc
trưng về âm lượng: nhỏ, lớn). Ngoài ra có những trường hợp âm chính không cùng
dòng, cùng độ mở cũng hiệp vần với nhau. Các âm tiết này hiệp vần là nhờ âm cuối
giống nhau.
Phụ âm đầu và âm đệm đều có chức năng tạo nên sự khác biệt cho vần thơ để
tránh lặp vần. Thực tế, khi các âm tiết hiệp vần với nhau đã có sự hòa âm, đắp đổi
âm chính, âm cuối và thanh điệu thì sự xuất hiện của bất kỳ âm đầu nào trong âm
tiết cũng không ảnh hưởng đến sự hòa âm. Từ đó, ta thấy: “Âm đầu có tham gia
cùng với các thành phần khác để tạo nên sự hòa âm nhưng vai trò của nó không
đáng kể” [4]. Còn âm đệm mức độ hòa âm rất thấp, có những khuôn vần mà sự có
mặt của âm đệm không ảnh hưởng đến sự phân loại của các vần thơ.
Như vậy, tất cả các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào
việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh lặp vần. Trong đó, thanh
điệu, âm cuối, âm chính là những yếu tố chính quyết định âm hưởng chung của toàn
âm tiết và do đó quyết định sự hòa âm của các âm tiết hiệp vần.
b) Nhịp điệu
Tiết tấu trong thơ ca là sự sáng tạo ra những khoảng cách tương tự về mặt
thời gian. Tiết tấu trong thơ chính là nhịp thơ. “Nhịp thơ là cái được nhận thức
thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo
thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản như câu thơ
(dòng thơ), khổ thơ và thậm chí là đoạn thơ” [7]. Như vậy, yếu tố quan trọng nhất
tạo nên nhịp điệu chính là ở chỗ ngừng, chỗ ngắt theo một cách thức nhất định khi
phát âm. Trong thơ có hai kiểu nhịp: ngừng nhịp ở cuối dòng và ngừng nhịp ở trong
dòng thơ.
Nhịp thơ có tính mỹ học do con người sáng tạo ra để biểu hiện tư tưởng, tình
cảm con người. Do vậy, các trạng thái rung cảm, cảm xúc, đều ảnh hưởng đến việc
lựa chọn nhịp của câu thơ, bài thơ. Nhịp trong thơ khác nhịp trong văn xuôi. Trong
văn xuôi (nhờ sự đồng thời của lời nói), thời gian được cảm thấy rất rõ, hiển nhiên
Tóm lại, đặc trưng nổi bật của ngôn ngữ thơ ca là sự tổ chức âm thanh một
cách hài hòa, có quy luật của chúng. Vần và nhịp là hai yếu tố làm nên đặc trưng đó
đồng thời nó có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính nhạc cho thơ, để thơ ca có
khả năng biểu đạt tinh tế những rung cảm, cảm xúc của tâm hồn mà bản thân nghĩa
của từ ngữ không thể diễn đạt hết được. Hơn nữa “nhạc tính của một thi phẩm càng
16
giàu, tức là những tham số thanh học của ngôn ngữ càng có độ tin cậy cao, thì hiệu
quả lưu giữ truyền đạt của thi phẩm càng lớn, sức sinh tồn của nó càng mạnh. Ki No
Curajuki cũng đã nói: “Nếu nhịp điệu vĩnh viễn trường tồn, thì làm sao thơ ca bị
tiêu diệt được?” [dẫn theo 4].
1.2.2.2. Về ngữ nghĩa
Ngữ nghĩa trong thơ ca nhiều hơn so với ngữ nghĩa trong giao tiếp đời
thường, thậm chí khác cả với ngữ nghĩa trong văn xuôi. Thơ là một cấu trúc rất cô
đọng, hàm súc. Vì vậy, ngôn ngữ thơ phải chứa đựng nhiều thông báo: một câu,
một chữ có thể gợi lên nhiều nghĩa. Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ được Nguyễn
Phan Cảnh giải thích như sau: “Sức mạnh của cơ cấu lặp lại, song song chính là
chỗ đã tạo ra một từ láy lại, song song trong tư tưởng. Việc chức năng mỹ học
chiếm ưu thế trong các thông báo thơ trong khi không loại chức năng giao tế, đã
làm cho thông báo thành đa nghĩa, có tính chất nước đôi, nhập nhằng hiểu theo
nghĩa tốt của từ này” [3]. Và đấy chính là điều cốt tử cho thơ: “Thơ phải được ý ở
ngoài lời. Trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của người làm thơ. Cho
nên ý thừa hơn lời thì tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn câu thì tuy công phu
nhưng vẫn vụng. Còn như ý hết mà lời cũng hết thì không đáng là người làm thơ
vậy.” [Dẫn theo 3].
Ngôn ngữ thơ ca mang trong mình nó sự sống, nhiều ý nghĩa vô cùng biến
đổi, xuất phát từ ý đồ nghệ thuật của nhà thơ. Mỗi từ ngữ khi đưa vào thơ đã qua
trục lựa chọn của tác giả. Như “con kỳ nhông”, nó hoạt động rất đa dạng và biến
hóa linh hoạt tùy theo chuỗi từ ngữ và nhịp điệu mà trong đó nó được sử dụng. Giá
lộ thế giới chủ quan, thiên về thế giới ấn tượng cảm xúc, cảm giác. Những mạch
biểu cảm thường đan chéo nhau, chiếm những cấp nghĩa thiếu quan hệ nội tại trên
bề mặt cú pháp. Do vậy, cấu trúc cú pháp câu thơ thường " khó phân tích theo
nguyên tắc logic của ngôn ngữ thông thường như trong văn xuôi” [25]. Chịu sự chi
phối của một thể loại văn bản luôn đòi hỏi hiệu quả nghệ thuật có sự thay đổi vượt
bậc: tính đa nhanh, tính hình tượng, tính cảm xúc, nên thơ phải chọn cho mình
những hình thức biểu đạt riêng, mà một trong những hình thức đó là xây dựng kiểu
câu có cấu trúc bất quy tắc. Đó là những câu có sự bẻ gãy trật tự tuyến tính của các
đơn vị ngôn ngữ luôn phải tuân thủ, bao gồm: câu đảo ngữ, câu tỉnh lược, câu tách
biệt, câu trùng điệp, câu vắt dòng, câu có sự kết hợp bất thường về nghĩa. Ngoài ra
còn có cách liên kết từ mang tính “lạ hóa” tạo nên những tác động mạnh mẽ và
những gợi mở phong phú cho lời thơ. Việc sử dụng phổ biến các kết cấu này không
làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản thơ. Ngược lại, chính
18
điều đó đã tạo ra, đem lại những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca, đem
đến khả năng vô tận của ngôn ngữ thơ trong việc chuyển tải những trạng thái tinh
tế, bí ẩn của thế giới và tâm hồn con người, làm nên sức ám ảnh cho thơ.
1.3. Hoàng Nhuận Cầm và thơ của ông
1.3.1. Vài nét về Hoàng Nhuận Cầm
Hoàng Nhuận Cầm sinh ngày 07 tháng 02 năm 1952, quê quán: Đông Ngạc,
Từ Liêm, Hà Nội, vào Hội nhà văn năm 1981. Năm 1971 , ông vào học tai Khoa
Ngữ Văn, trường Đại học tổng hợp Hà Nội (Khóa 16). Những năm 70 của thế kỷ
20, nhiều thế hệ học sinh, sinh viên thủ đô xếp bút nghiên lên đường ra trận. Trong
những năm tháng đó, như biết bao những sinh viên cùng trang lứa, hoàng Nhuận
Cầm đã lên đường nhập ngũ, ông đã chiến đấu trong đội hình của sư đoàn 325B ở
một trong những mặt trận ác liệt nhất giai đoạn đó là mặt trận Quảng Trị. Sau đó,
ông đã từng chiến đấu tại các mặt trận khác nhau như Quảng Bình, Quảng Trị và
Thừa Thiên - Huế cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Năm 1976, ông
Giải thưởng của tuần báo Văn nghệ như một động lực để tác giả tiếp tục sáng
tác và cho ra mắt độc giả những tập thơ riêng của mình: Những câu thơ viết đợi mặt
trời (in năm 1983); Xúc xắc mùa thu, tập thơ được giải thưởng của Hội Nhà văn
Việt Nam (in năm 1992); Thơ với tuổi thơ (in năm 2004). Năm 1992, xét những
đóng góp đối với nền thơ ca đương đại, Hoàng Nhuân Cầm vinh dự được nhận Giải
thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật - một giải thưởng để đời đối với những
người sáng tạo nghệ thuật . Tuyển tập thơ "Xúc xắc mùa thu (thơ) - Hò hẹn mãi cuối
cùng em cũng đến (thơ)” đã đươc Nhà xuất bản Hội nhà văn công bố vào năm 2015
như một sự tôn vinh cho nhà thơ mặc áo lính Hoàng Nhuận Cầm.
Hoàng Nhuận Cầm là nhà thơ được đúc nên bởi tài năng thiên bẩm, mà đáng
nói là giọng thơ đẹp, vang như tiếng hót của một loài chim quý. Trời phú cho ông
giọng thơ sang trọng, trong trẻo. Một khi giọng thơ ấy vút lên, lập tức được chú ý.
Hoàng Nhuận Cầm đã gây ấn tượng đến ngạc nhiên với những câu thơ trần đầy tính
nhạc, vang vọng, óng ả. Giọng thơ ấy, cho đến gần đây vẫn còn hút hồn nhiều người
yêu thơ bởi những cung bậc của cảm xúc chắp trên đôi cánh của âm nhạc luyến láy,
ngân vọng, dịu dàng và những hình ảnh lộng lẫy đầy huyền hoặc.
Một cách khái quát nhất, thơ Hoàng nhuận Cầm sáng tác, có thể được chia
làm hai mảng lớn: Thơ về chiến tranh và thơ về tình yêu. Mảng thơ chiến tranh rất
độc đáo bởi bản thân tác giả là người trải nghiệm cuộc chiến khốc liệt, nhưng mảng
thơ tình yêu của Hoàng Nhuận Cầm được chú ý, đặc biệt là giới trẻ bởi chất trẻ