Luận văn thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ trong lời chúc của giới trẻ hiện nay - Pdf 58

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
___________________________________

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG LỜI CHÚC
CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.02

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Văn Khang

HẢI PHÒNG - 2016


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

i


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

iii

To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN........................................................................................ ............i
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................. ...........ii
MỤC LỤC.................................................................................................... ..........iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT....................................................................... ..........v
DANH MỤC BẢNG.................................................................................... ..........vi
MỞ ĐẦU...................................................................................................... ...........1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI………………………. ..........6
1.1. Một số vấn đề lý thuyết về giao tiếp tương tác của ngôn ngữ học xã hội ...........6
1.1.1. Sự kiện giao tiếp…………………………………………………... ...........6
1.1.2. Quan hệ giao tiếp…………………………………………………... ...........8
1.1.3. Sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp……………………………… ...........9
1.2. Một số vấn đề về lý thuyết nghi thức giao tiếp………………………. .........12
1.2.1. Khái niệm nghi thức và nghi thức giao tiếp………...……………... .........12
1.2.2. Phân loại nghi thức giao tiếp……………………………………….. .........13
1.3. Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ……………………………………….. .........15
1.3.1. Phân loại hành vi ngôn ngữ………………………………………… .........16
1.3.2. Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi…………….. .........17
1.3.3. Điều kiện sử dụng các hành vi ngôn ngữ…………………………... .........18
1.3.4. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp……………………………. .........19


To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

3.2.1. Về khái niệm phân tầng xã hội.......................................................... .........75
3.2.2. Lời chúc của của giới trẻ hiện nay xét từ góc độ giới........................ .........75
3.2.3. Lời chúc của của giới trẻ hiện nay xét từ góc độ nghề nghiệp…….. .........80
3.3. Tiểu kết chương 3.................................................................................. .........86
KẾT LUẬN.................................................................................................. .........88
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................ .........90


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẲT
Từ viết tắt

Giải thích

ĐTNV

Động từ ngữ vi

NTGT




Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

1

To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúc là một trong những nghi thức phổ quát trong giao tiếp của nhân loại.
Xuất phát từ một nền văn hoá có truyền thống trọng tình, lấy tình cảm làm nguyên
tắc ứng xử, các hình thức chúc mừng, chúc tụng đã ra đời và qua thời gian dần trở
thành nghi thức giao tiếp không thể thiếu trong cuộc sống của người Việt.
Từ góc độ ngữ dụng học, chúc là một hành vi ngôn ngữ (speech acts) thuộc
vào nhóm ứng xử (behabitives, comportementaux) với mục đích “tỏ lời mong ước
tốt đẹp cho người khác”. Chúc có mục đích giao tiếp cụ thể, chủ đề rõ ràng và đối
tượng cũng như bối cảnh giao tiếp đặc định. Theo đó, ngôn ngữ sử dụng trong lời
chúc có đặc điểm riêng. Theo hướng này, nghiên cứu chúc phải chỉ ra được các biểu
thức ngôn từ của hành vi chúc ở các bối cảnh giao tiếp khác nhau.
Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, hành vi chúc được nghiên cứu theo quan hệ
tương tác giao tiếp có sự phân tầng về xã hội. Theo hướng này, với tư cách là biến
thể, chúc được xem xét dưới tác động của các biến xã hội như tuổi, giới, nghề
nghiệp, thu nhập, địa vị, học vấn,... của người chúc.
Là hành vi ngôn ngữ xuất hiện thường xuyên, phổ biến trong giao tiếp xã
hội, tuy nhiên, cho đến nay, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ
của lời chúc.
Giới trẻ là bộ phận năng động nhất trong một cộng đồng xã hội. Với đặc

Nghiên cứu về các nghi thức giao tiếp có các công trình: Nghi thức lời nói
tiếng Việt hiện đại qua các phát ngôn: chào, cám ơn, xin lỗi (Luận án Phó tiến sĩ
khoa học ngữ văn của Phạm Thị Thành, Trường ĐHKHXHNV, 1995); So sánh nghi
thức giao tiếp tiếng Nhật và tiếng Việt: Qua từ ngữ xưng hô (Luận án tiến sĩ ngữ văn
của Hoàng Anh Thi, Trường ĐHKHXH NV, 2001), Đặc điểm ngôn ngữ trong nghi
thức chào, mời, chúc mừng của người Việt (luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn của
Phạm Thị Kim Trung, Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, 2003)... Trong công trình [35]
tác giả Phạm Thị Kim Trung đã khảo sát nghi thức chào, mời, chúc mừng của người
Việt trên phương diện cấu trúc và đặt trong mối liên hệ với văn hóa.
Nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ như một sự kiện lời nói trong tương tác
hội thoại có các công trình: Hành vi nhờ và sự kiện lời nói nhờ trong giao tiếp
(Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Dương Tuyết Hạnh, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006),
Sự kiện lời nói chê trong tiếng Việt (cấu trúc và ngữ nghĩa) (Luận án tiến sĩ Ngữ
văn của Nguyễn Thị Hoàng Yến, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007), Sự kiện lời nói
cam kết trong hội thoại (luận án tiến sĩ ngữ văn của Vũ Tố Nga, Trường ĐHSP Hà
Nội, 2010); Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua hành vi khen và
tiếp nhận lời khen (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Phạm Thị Hà, Học viện Khoa học xã
hội, Viện Hàn lâm KHXHVN, 2013); Hành vi nịnh trong tiếng Việt (Luận án tiến sĩ
của Nguyễn Thị Thanh Huệ, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm KHXHVN,
2015); Hành động ngôn ngữ chào và đáp chào qua ngữ liệu của cư dân vùng ven
biển Quảng xương, Thanh Hoá (luận văn thạc sĩ của Ngô Xuân Dũng, Trường Đại
học Hồng Đức, 2015)...


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

3

To remove this notice, visit:

trong lời chúc được biểu hiện bằng ngôn từ (bằng lời). Các biểu hiện bằng cử chỉ
(phi lời) như bắt tay, ôm hôn và các cử chỉ khác tạm gác lại, không được xem xét
đến trong luận văn này.


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

4

To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

5.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong lời chúc của giới trẻ hiện nay.
Tư liệu mà chúng tôi thu thập chủ yếu theo bằng hai nguồn là giao tiếp nói và
giao tiếp viết.
- Đối với tư liệu từ giao tiếp nói, luận văn tiến hành thu thập tư liệu bằng
cách chủ yếu là quan sát ghi chép, hoặc bằng khả năng ghi nhớ để lưu lại những lời
chúc được sử dụng trong đời sống.
- Đối với tư liệu từ giao tiếp viết, luận văn tiến hành thu thập tư liệu từ một
số báo điện tử, website, mạng xã hội như facebook...
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về lý thuyết
Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu lý thuyết giao tiếp, lý thuyết nghi thức
giao tiếp, lý thuyết hành vi ngôn ngữ.
6.2. Về thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để
giảng dạy ngôn ngữ trong địa hạt dụng học và ngôn ngữ học xã hội.
- Ứng dụng vào việc xây dựng các mô thức ngôn ngữ văn hoá của người

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

6

To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Một số vấn đề lý thuyết về giao tiếp tương tác của
ngôn ngữ học xã hội
1.1.1. Sự kiện giao tiếp
“Sự kiện giao tiếp (speech event) là đơn vị cơ bản trong nghiên cứu giao tiếp
ngôn ngữ. Dù trong bất kỳ tình huống giao tiếp nào, ngay cả những tình huống giao
tiếp mang tính đặc thù như nghi thức trong giáo đường, thẩm vấn của toà án hay
trong giao tiếp buôn bán đấu thầu, chuyện trò trong tiệc rượu, v.v. thì các hoạt động
tương tác được thể hiện trong hoạt động giao tiếp phải tuân thủ theo những quy tắc
nhất định.” [20, tr.353]
Cấu trúc dân tộc học của D. Hymes về mối quan hệ tương tác và mô thức của
ngôn ngữ và đời sống. Cấu trúc này gồm 8 thành tố viết tắt bằng 8 chữ cái:
S.P.E.A.K.I.N.G. Trong đó:
(1) Chu cảnh/thoại trường (S - setting and scence)
Chu cảnh gồm khung cảnh và hiện trường. Khung cảnh chỉ thời gian và địa
điểm, tức là hoàn cảnh vật chất cụ thể mà ở đó xảy ra giao tiếp. Hiện trường chỉ
hoạt động tâm lý trừu tượng hoặc ranh giới về mặt văn hóa của hoạt động giao tiếp
(trường hợp chính thức – phi chính thức, quy thức – phi quy thức)… Trong một
khung cảnh nhất định, người tham gia giao tiếp có thể tự do thay đổi hiện trường
khi họ thay đổi mức độ chính thức. Ví dụ: trong một cuộc họp căng thẳng, người
chủ trì có thể pha trò để làm giảm không khí căng thẳng, hoặc khi họ thay đổi các

chuyện lúc trà dư tửu hậu. Điều làm nên sự khác biệt này là phong cách giữa các
tình huống giao tiếp khác nhau, nội dung trao đổi, nói chuyện cũng khác nhau.
(5) Phương thức (K - key)
Phương thức diễn đạt chỉ ngữ điệu (tone), cách (manner), tinh thần chứa
đựng trong thông tin đó như: vô tư, thoải mái (light- hearted); nghiêm túc (serious);
rõ ràng, tỉ mỉ (precise); mô phạm (pedantic), chế giễu (mocking), châm chọc, mỉa
mai (sarcastic); vênh vang (pompous)... Ngoài việc được biểu thị bằng ngôn ngữ,
phương thức diễn đạt có thể dùng các yếu tố phi lời như: cử chỉ, điệu bộ thậm chí là
dáng điệu... Khi một người nói mà giữa nội dung nói với phương thức diễn đạt
người đó đang sử dụng không “khớp” nhau thì người nghe có thể sẽ chú ý đến
phương thức diễn đạt hơn là nội dung lời nói.
(6) Phương tiện (I - Intrumentalities)
Phương tiện đề cập đến sự lựa chọn kênh giao tiếp như nói, viết, hoặc điện
báo... hoặc hình thức giao tiếp được sử dụng, chẳng hạn như phương ngữ, mã, hoặc
phong cách nào được lựa chọn. Người ta có thể sử dụng nhiều phương tiện khác
nhau trong một cuộc giao tiếp, ví dụ: mở đầu lẩy một câu Kiều hay một câu châm
ngôn, sau đó có thể nói theo kiểu kể chuyện vui bằng phương ngữ, sau đó trích dẫn
một vài điển tích, hoặc nói chêm vào mấy câu tiếng nước ngoài...


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

8

To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

(7) Chuẩn tương tác và chuẩn giải thích (N - norm of interaction and
interpretation)

Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

9

To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

gia giao tiếp phải chú ý đến mối quan hệ giữa họ với các thành viên tham gia giao
tiếp.


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

10

To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

1.1.2.2. Quan hệ “quyền uy” và quan hệ “thân hữu”
Căn cứ vào những nhân tố liên quan đến khoảng cách xã hội (tuổi tác, giới
tính, vị thế xã hội...) và mức độ gắn bó giữa những nhân vật tham gia giao tiếp
(thân, sơ...), người ta có thể quy thành hai loại quan hệ giao tiếp là: quan hệ quyền
uy (hay quan hệ vị thế) và quan hệ thân hữu.
- Quan hệ quyền uy: là quan hệ trên - dưới, sang - hèn, tôn - khinh...
- Quan hệ thân hữu: là quan hệ ngang bằng.
Khi xác định được vai của người tham dự giao tiếp ở vào một quan hệ nào đó
thì sẽ có sự lựa chọn phong cách ngôn ngữ tương ứng để giao tiếp sao cho thoả
đáng. Ví dụ: lời chúc mừng của học trò dành cho thầy cô giáo (quan hệ quyền uy)

1.1.3.2. Các đặc trưng của ngôn ngữ tự nhiên làm cơ sở cho sự lựa chọn
ngôn ngữ trong giao tiếp
a/ Tính dị biến: là tính đa khả năng trong cách biểu đạt của ngôn ngữ với các
hình thức biểu đạt khác nhau ở các bình diện của ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng,
ngữ pháp. Nhờ tính đa khả năng này mà con người khi giao tiếp có thể lựa chọn cho
phù hợp với bối cảnh cũng như mục đích giao tiếp.
b/ Tính thương lượng
Liên quan đến việc tạo ra tính thương lượng là quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng ngôn ngữ. Quyền (rights) là những hành động ngôn từ mà người giao tiếp
được quyền sử dụng. Nghĩa vụ (obligation) là những việc mà người giao tiếp phải
làm để đảm bảo nguyên tắc thông tin.
Trên cơ sở quyền và nghĩa vụ mà tạo ra nguyên tắc thương lượng
(negociation principle) làm cho có sự cân đối giữa quyền và nghĩa vụ lựa chọn ngôn
ngữ trong giao tiếp.
c/ Tính thích nghi
Tính thích nghi làm cho người giao tiếp có thể lựa chọn ngôn ngữ theo cách
thương lượng.
1.1.3.3. Mã và sự lựa chọn mã trong giao tiếp
a/ Khái niệm mã
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê mã là “hệ thống ký hiệu quy ước,
dùng vào việc truyền tin” [27]. Thuật ngữ mã được dùng trong thông tin với ý nghĩa
các từ, chữ cái, ký hiệu… đại diện cho những cái khác dùng cho những thông báo
mật hoặc để trình bày hoặc ghi lại thông tin một cách vắn tắt. Trong ngôn ngữ học,
thuật ngữ mã dùng với ý nghĩa: “hệ thống các tín hiệu có thể truyền đạt thông tin”.
Dựa trên năng lực và phương thức biểu đạt hiện thực khách quan, ngôn ngữ
của con người có thể chia thành hai mã khác nhau là mã hữu hạn và mã phức tạp.
“Mã hữu hạn (restricted code) có kết cấu đơn giản, sử dụng nhiều đại từ nhân
xưng và câu hỏi phụ. Muốn nhận tin tức truyền từ mã hữu hạn, người ta phải căn cứ
vào việc tìm hiểu bản thân người nói cũng như bối cảnh cụ thể cùng mục đích giao
tiếp. Mã hữu hạn thường được dùng giữa các thành viên trong gia đình, giữa bạn bè

Vì thế, thuật ngữ mã được dùng cho cả ngôn ngữ và phương ngữ trong sự lựa chọn
ngôn ngữ. “Sử dụng khái niệm “mã” tương đối thuận lợi vì nó mang tính trung gian
khi mà hàng loạt các khái niệm và ranh giới giữa các khái niệm này còn mơ hồ như
ngôn ngữ, tiếng địa phương, biến thể, chuẩn mực. Với quan niệm này, mã ngôn ngữ
có thể là ngôn ngữ, có khi chỉ là biến thể của ngôn ngữ” [20, tr.379].
c/ Hiện tượng chuyển mã
Chuyển mã là hiện tượng sử dụng hai hoặc trên hai biến thể ngôn ngữ trong
một lần đối thoại.
Ví dụ:
- Merry christmas and happy giáng sinh. Chúc cậu được mãi mãi mạnh khỏe
chung với gia đình. to love another, wish love another I love u.


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

13

To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

- Happy birthday bạn! Chúc bạn tuổi mới thành công mới. ☺ Sr (sorry) vì
send greeting muộn nhé! Tớ bận quá.
Có nhiều cách phân loại chuyển mã khác nhau, trong giao tiếp có hai cách
phân loại thường gặp sau [20, tr.380]
Thứ nhất:
+ Chuyển mã tình huống (chuyển mã ngữ cảnh): là sự chuyển mã ngôn ngữ
theo bối cảnh giao tiếp, tức là dựa trên mối quan hệ xã hội giữa những người tham
gia giao tiếp hội thoại và khung cảnh tiến hành giao tiếp hội thoại để chuyển mã.
+ Chuyển mã ẩn dụ là sự chuyển mã nhằm làm thay đổi phong cách giao tiếp

www.foxitsoftware.com/shopping

“Nghi thức là thể lệ quy định cách cư xử và các hình thức đối xử trong một
xã hội nào đó” (dẫn theo [30]).
Như vậy, có nhiều cách định nghĩa về nghi thức, nhưng tóm lại đều thống
nhất ở cách hiểu: nghi thức là một hành vi mang tính xã hội được thực hiện một
cách tất yếu theo quy tắc của xã hội, nhằm duy trì giao tiếp xã hội.
1.2.1.2. Nghi thức giao tiếp
Theo Nguyễn Đức Dân “nghi thức giao tiếp là những hành vi hình thức và
được quy ước mà mỗi cá nhân biểu hiện sự tôn trọng người đối thoại và cũng để tự
giữ danh dự của mình như hành vi tất yếu phải thực hiện… Những nghi thức sẽ giữ
gìn và tạo ra sự cân bằng trong quá trình giao tiếp nên mỗi bên đối thoại phải
thường xuyên duy trì trong suốt cuộc thoại” [4, tr.120].
Theo Tạ Thị Thanh Tâm: “Nghi thức giao tiếp là một tập hợp các dấu hiệu
được quy định trong quá trình giao tiếp của một cộng đồng nói một thứ tiếng nhất
định. Những nghi thức này hàm chứa trong nó một trình tự chặt chẽ với những hành
động cụ thể, hành động ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, mà cả người nói và người nghe
phải tuân thủ” [28, tr.37].
Theo Nguyễn Văn Khang: Nghi thức giao tiếp được hiểu là những quy
định mang tính khuôn mẫu về việc sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp cần phải tuân
thủ để đảm bảo sự phù hợp về ngôn ngữ - văn hóa - xã hội tại một cộng đồng
giao tiếp cụ thể.
Như vậy, có thể thấy khi đưa ra các khái niệm nghi thức giao tiếp các tác giả
đều nhấn mạnh tới những quy định về việc sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp trong
một cộng đồng giao tiếp cụ thể mà những người tham gia giao tiếp cần phải tuân thủ
để đảm bảo đạt được mục đích giao tiếp.
1.2.2. Phân loại nghi thức giao tiếp
Có nhiều cách phân loại nghi thức giao tiếp khác nhau dựa trên những tiêu
chí phân loại khác nhau.
Nguyễn Văn Khang chia nghi thức giao tiếp thành 2 nhóm lớn: NTGT có lời

Ví dụ: nghi thức chúc mừng, chào, giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi… bằng lời. Có thể mô
hình hóa cấu trúc và chức năng của nghi thức giao tiếp có lời. NTGT có lời là
những nghi thức có tính phổ quát cho mọi ngôn ngữ. Khác biệt nếu có, chỉ tập trung
ở cách thức biểu đạt trong mỗi ngôn ngữ dưới sự tác động của một nền văn hóa nhất
định. [30, tr.39].
Ví dụ: trong tiếng Việt, nghi thức chào có thể được thực hiện bằng một hành động
hỏi: Chị đi chợ đấy à? Anh khoẻ chứ? Trong khi đó, ở một số nền văn hoá đặc biệt là văn
hoá Âu Mỹ, nếu thực hiện nghi thức chào tương tự sẽ bị cho là tò mò, bất lịch sự.
1.2.2.2. Nghi thức giao tiếp phi lời
Ngoài ngôn ngữ, các phương tiện phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt,
nụ cười… cũng trở thành phương tiện giao tiếp đắc lực của con người. Ở mỗi nền
văn hoá, mỗi dân tộc hay ở vị thế giao tiếp, vị thế xã hội khác nhau các tín hiệu phi
ngôn ngữ có những ý nghĩa khác nhau.


Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor

16

To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

Ví dụ: Ở Việt Nam, cử chỉ khoanh tay và cúi đầu khi chào là biểu hiện sự lễ
phép, tôn kính của người vai dưới đối với người vai trên. Người Malaysia biểu hiện
sự tôn trọng bằng cách chạm bàn tay phải vào nhau và sau đó áp nó vào ngực. Hay
đối với người Triều Tiên, Nhật Bản, tùy theo mối quan hệ giữa các vai giao tiếp mà
mức độ cúi gập người về phía trước cao hay thấp, cúi người theo tư thế hai tay
buông thõng hay chắp tay trước ngực.” [30, tr.39].
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, các tín


To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping

Theo Austin hành vi ngôn ngữ là thể thống nhất của 3 hành vi :
- Hành vi tạo lời (locutionary act) là hành vi sử dụng sử dụng các phương
tiện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) của một ngôn ngữ để cấu tạo nên phát
ngôn. Mỗi hành vi tạo lời đã tạo ra một nội dung mệnh đề và một ý nghĩa xác định.
- Hành vi ở lời (illocutionary act) là hành vi được thực hiện ngay khi ta phát
ra câu nói. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là gây
ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Các hành vi ở lời
được chi phối bởi những quy tắc đã được xã hội ước chế. Vì vậy, có những điều
kiện dùng cho mỗi loại hành động tại lời.
- Hành vi mượn lời (perlocutionary act) là hành vi mà người nói tác động đến
tâm lý, tình cảm, cảm xúc, hành vi của người tiếp nhận nghĩa là hành động gây được
hiệu quả ở người nghe. Hiệu quả đó chỉ dành riêng cho hoàn cảnh phát ngôn mà thôi.
1.3.1. Phân loại hành vi ngôn ngữ
Các nhà ngôn ngữ có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại hành vi
ngôn ngữ như của: D.Wunderlich, F. Recanatil, K. Bách và R.M. Harnish... Ở đây
chúng tôi xin đưa ra hướng phân loại của L. Austin và Searle.
1.3.1.1. Cách phân loại hành vi ngôn ngữ của Austin
Austin đã phân loại hành vi ngôn ngữ thành 5 phạm trù. Đó là :
- Phán xử (verdictives, verditifs): Đây là những hành vi đưa ra những lời
phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc
dựa vào lí lẽ vững chắc như: hành động tuyên án, đánh giá, xếp loại, kết luận...
- Hành xử (exercitives, exercitifs): Đây là những hành vi đưa ra những quyết
định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, chỉ huy, biện hộ
cho, khẩn cầu, van xin… và các hành vi ngôn ngữ như: bổ nhiệm, đặt tên, tuyên bố
khai mạc, bế mạc, cảnh cáo, tuyên ngôn.
- Cam kết (commissives, commissifs): những hành vi này ràng buộc người

- Biểu cảm (expressives) như : cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng, ...
- Tuyên bố (declarations ) như : tuyên bố, báo cáo, ...
1.3.2. Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi
1.3.2.1. Phát ngôn ngữ vi
Phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn mà khi người ta nói chúng ra thì đồng
thời người ta thực hiện ngay cái việc được biểu thị trong phát ngôn (dẫn theo [2,
tr.87 - 88]).
“Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn thể hiện những hành vi ngôn ngữ” [4, tr.47].
Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn - sản phẩm của một hành vi ở lời nào đó khi hành vi này
được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực... Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc
trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó. Kết cấu lõi đó gọi là biểu thức ngữ vi [2, tr.91].
1.3.2.2. Biểu thức ngữ vi
Biểu thức ngữ vi là một thể thức nói năng cốt lõi do các phương tiện chỉ dẫn
hiệu lực ở lời kết hợp với (hoặc không có) nội dung mệnh đề đặc trưng cho một
hành vi ở lời nào đó. Biểu thức ngữ vi vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của một
hành động ở lời [3, tr.60].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status