Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
––––––––––––––––––––
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU GIÁO LỚN
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON QUẬN KIẾN AN,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG XÉT TRÊN BÌNH DIỆN
TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
HẢI PHÒNG – 2016
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
( Đã ký)
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian theo học tại trường Đại học Hải Phòng và đặc biệt là
trong khoảng thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
hết lòng về mặt vật chất, tinh thần, kiến thức và những kinh nghiệm quí báu từ gia
đình, thầy cô, bạn bè. Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân
thành tới TS. Nguyễn Thị Hiên, người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn, động viên và
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp; Quí Thầy, Cô giảng
dạy chuyên ngành Ngôn ngữ học Việt Nam; Ban giám hiệu, giáo viên và các bé lớp
mẫu giáo lớn tại Trường Mầm non Thực Hành; Trường Mầm non Trần Thành
Ngọ; Trường Mầm non Hoa Hồng; Trường mầm non Quán Trữ; Trường mầm non
Hoa Mai - quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu thực tiễn và khảo nghiệm.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị học viên trong lớp Cao học Ngôn ngữ
Việt Nam khóa 6, tất cả các bạn bè và đồng nghiệp, những người thân yêu trong
gia đình, những người luôn ủng hộ, động viên, khích lệ, giúp đỡ, chia sẻ kiến thức,
kinh nghiệm và tài liệu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện để tôi hoàn
thành luận văn này.
Cuối cùng xin kính chúc sức khỏe tới quí thầy cô, gia đình và các anh
chị học viên.
Hải Phòng, ngày 19 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
2.2. Câu – phát ngôn của trẻ xét trên bình diện ngữ nghĩa ..................................46
2.2.1. Hiểu biết của trẻ về nghĩa biểu hiện trong các phát ngôn ..........................46
2.2.2. Hiểu biết của trẻ về nghĩa tình thái trong các phát ngôn ...........................48
iv
2.3. Tiểu kết chương 2..........................................................................................51
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG MẦM NON QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG XÉT
TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ PHÁP .........................................................................53
3.1. Đặc điểm sử dụng từ của trẻ mẫu giáo lớn xét về mặt ngữ pháp ..................53
3.1.1. Đặc điểm sử dụng từ xét theo cấu tạo từ ....................................................53
3.1.2. Đặc điểm sử dụng từ xét theo từ loại .........................................................70
3.2. Đặc điểm sử dụng câu của trẻ mẫu giáo lớn xét về mặt ngữ pháp .........................83
3.2.1. Đặc điểm sử dụng các thành phần câu của trẻ ...........................................83
3.2.2. Đặc điểm sử dụng các kiểu câu ở trẻ .........................................................89
3.3. Tiểu kết chương 3..........................................................................................92
KẾT LUẬN ..........................................................................................................94
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................97
v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Số hiệu
Tên bảng
bảng
2.1
Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn xét theo chủ đề khảo sát
Trang
46
2.7
Các nét nghĩa tình thái được trẻ sử dụng trong câu - phát ngôn
49
3.1
Số lượng từ trẻ sử dụng xét theo cấu tạo ngữ pháp
53
3.2
Đặc điểm sử dụng từ đơn của trẻ
54
3.3
Đặc điểm sử dụng từ ghép của trẻ
57
3.4
Đặc điểm sử dụng từ láy của trẻ
1.1. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người.
Ngôn ngữ là sự sáng tạo kỳ diệu của con người. Sự tuyệt vời của ngôn ngữ
là do ngôn ngữ ngay từ khi hình thành đã trở thành phương tiện giao tiếp cơ
bản nhất, hữu hiệu nhất của cả loài người. Chúng ta, ai cũng có thể sử dụng
phương tiện "không mất tiền mua" này để trao đổi thông tin cho nhau một
cách nhanh nhất, nhiều nhất, đầy đủ nhất, từ đó có thể dễ dàng hiểu nhau,
thông cảm, chia sẻ, liên kết hay hợp tác với nhau… Nhờ ngôn ngữ mà con
người từ khắp năm châu bốn bể, con người ở các thời đại khác nhau, các thế
hệ khác nhau có thể tìm hiểu hoặc giao lưu với nhau… Hơn thế nữa ngôn
ngữ là công cụ để chúng ta tư duy, là chìa khoá vạn năng thông minh để
chúng ta mở ra kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại, chiếm lĩnh nó, phát
triển nó, đưa nó đến với mọi người…
Quá trình phát triển của ngôn ngữ luôn đi kèm với sự phát triển của xã hội
loài người. Đối với con người, sự tạo thành và tiếp thu, sử dụng ngôn ngữ là một
quá trình lâu dài. Từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ, con người đã có sự giao
tiếp riêng. Đến khoảng 12 tháng tuổi trở đi, con người ở giai đoạn này mới có
khả năng tạo ra ngôn ngữ nói. Và dần dần, ngôn ngữ của mỗi người ngày càng
được phát triển, mở rộng trong quá trình sống. Ngôn ngữ càng mở rộng thì tri
thức thu được càng lớn, đồng nghĩa với việc cá nhân ngày càng hoàn thiện, xã
hội càng phát triển mạnh mẽ.
1.2. Tuổi mầm non là giai đoạn mà ngôn ngữ có sự phát triển nhanh cả về
ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp mà “không có giai đoạn nào có thể đạt tốc độ tăng
trưởng và phát triển bằng”. Đặc biệt, sự phát triển ngôn ngữ thể hiện rõ rệt nhất
ở trẻ thuộc độ tuổi 5-6 tuổi nhằm chuẩn bị cho trẻ bước sang một giai đoạn phát
triển khác cả về mặt tâm sinh lí và tư duy, nhận thức.Việc trẻ biết phát âm đúng
tiếng mẹ đẻ, nói có ngữ điệu, đúng ngữ pháp, biết biểu đạt ý nghĩ bằng ngôn
ngữ, biết dùng ngôn ngữ làm phương tiện chính để tiếp xúc, giao lưu… là
hoàn toàn có thể đạt được ở lứa tuổi 5 - 6 tuổi. Đối với trẻ mẫu giáo lớn, ngôn
phát triển cùng với sự tiến bộ của xã hội loài người. Ngôn ngữ chính là một
3
trong những yếu tố nâng tầm cao của con người lên vượt xa về chất so với
mọi giống loài, phân biệt con người với con vật. Lịch sử dân tộc Việt Nam ta,
nếu xét riêng về mặt ngôn ngữ thì có thể nói rằng đó là lịch sử người Việt Nam
cùng nhau xây dựng, thống nhất và phổ biến tiếng Việt với ý nghĩa là ngôn ngữ
dùng chung trên lãnh thổ nước ta. Ngôn ngữ góp phần làm nên bản sắc của một
dân tộc, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Trong suốt lịch sử lâu dài đấu
tranh vì chủ quyền dân tộc, vì độc lập tự do của đất nước, chúng ta có thể hình
dung dân tộc Việt Nam đã phấn đấu gian khổ như thế nào để thoát khỏi hiểm họa
diệt chủng về ngôn ngữ và văn hóa, góp phần bảo vệ và phát triển tiếng Việt.
Trong các mặt đời sống của một dân tộc, của một đất nước thì ngôn ngữ
gắn bó mật thiết hơn cả với văn hóa. Ngôn ngữ là một trong những nhân tố hợp
thành quan trọng, góp phần làm nên giá trị, bản sắc, tinh hoa của nền văn hóa
dân tộc, bởi lẽ nó liên quan đến ý thức, ứng xử và giao tiếp xã hội, cũng như các
kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con người trong xã hội. Chính tiếng
Việt, ở mặt nội dung ý nghĩa của nó, là nơi ghi lại, phản ánh chủ yếu những tri
thức, kinh nghiệm, những suy nghĩ, quan niệm ... Tiếng Việt hình thành và phát
triển, và ngày nay đã trở thành một ngôn ngữ giàu và đẹp, phong phú và độc đáo.
Không chỉ vậy, nó còn là một công cụ hữu hiệu trong việc xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Điều quan trọng nhất là
mỗi chúng ta, có ý thức sâu sắc về sự giàu đẹp của tiếng Việt, biết yêu và quý tiếng
nói của dân tộc, nói rộng ra đó là ý thức và tình cảm đối với văn hóa dân tộc.
Với mỗi cá nhân, sự phát triển ngôn ngữ diễn ra hết sức mạnh mẽ ở
giai đoạn từ 0 - 6 tuổi (lứa tuổi mầm non). Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ,
đến cuối 6 tuổi - chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời người trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày. Đây
chính là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ. Ở giai đoạn này nếu không có
những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngôn ngữ thì sau này việc bù lại
chung đứa trẻ trước khi bước vào tuổi học sinh đã có khả năng ý thức được ý
nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm gần đúng sự phát âm của người lớn (tùy
theo địa phương có giọng nói như thế nào thì trẻ sẽ nói theo giọng như vậy), biết
dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nắm được hệ thống
ngữ pháp phức tạp, bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương
tiện cú pháp và về phương tiện tu từ, nói năng mạch lạc và thoải mái. Tóm lại,
5
trẻ đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ. Về hoạt động nhận cảm, tác giả đề nghị về
ngôn ngữ rằng tổ chức cho trẻ ghi nhớ những từ biểu thị các chuẩn nhận cảm
giúp trẻ có thể vận dụng những chuẩn đó vào hoạt động thực tiễn có ý thức hơn,
chính xác hơn. Về đặc điểm phát triển trí nhớ, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng
của ngôn ngữ tài liệu thể hiện bằng ngôn ngữ, nếu giàu hình tượng, nhịp điệu,
vần điệu rõ ràng, lại được đọc bằng một giọng truyền cảm, hấp dẫn thì trẻ vẫn có
khả năng nhớ nhanh, lâu bền. Về đặc điểm phát triển tư duy, tác giả kết luận cả
tư duy trực quan – hành động lẫn tư duy trực quan – hình tượng đều liên hệ mật
thiết với ngôn ngữ. Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn. Như vậy, tác giả đã chỉ ra
quá trình phát triển vốn từ ở trẻ mẫu giáo lớn đã khá hoàn thiện và có tác động
nhiều mặt tới tư duy của trẻ. Vì vậy, cần có các biện pháp giáo dục ngôn ngữ phù
hợp cho trẻ.
Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa trong
cuốn Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Đại học Sư phạm (2005) đã đề
cập đến một số vai trò của ngôn ngữ trong đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ mẫu
giáo nhỡ (4 – 5 tuổi), nhưng chưa có hệ thống và khái quát rõ ràng vì vẫn thiên
về bình diện tâm lí học.
Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai trong cuốn Sự phát triển tâm lí
trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Giáo dục, 2009 cũng dành một phần nói về đặc
điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo. Trong đó, tác giả khẳng định suốt
tuổi mẫu giáo, vốn từ của trẻ được tích lũy khá phong phú, không những về danh
giải, đưa câu hỏi), nhóm phương pháp thực hành (phát triển ngôn ngữ qua trò
chơi, phát triển ngôn ngữ qua giao tiếp, các hoạt động, lao động), nhóm phương
pháp sử dụng trò chơi. Đặc biệt, về sự hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ
mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi), tác giả cho rằng, về mặt số lượng, số lượng từ của trẻ
tăng nhanh theo thời gian, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó
quan trọng nhất là các tác động của môi trường như: sự tiếp xúc ngôn ngữ
thường xuyên của những người xung quanh, trình độ của cha mẹ… Sự tăng có
tốc độ không đồng đều. Từ 3 – 6 tuổi có tốc độ tăng vốn từ giảm dần. Về từ loại,
tác giả chỉ ra danh từ là từ loại xuất hiện sớm nhất, sau đó là các loại như động
từ, tính từ, đại từ, số từ, trạng từ, quan hệ từ… Giai đoạn 5 – 6 tuổi, tỉ lệ danh từ,
động từ giảm đi nhường chỗ cho tính từ và các từ loại khác tăng lên. Về khả
năng hiểu nghĩa của trẻ mầm non, tác giả chia làm 4 cấp độ, cấp độ thứ 4 là
7
những biểu thị khái quát tối đa và cho rằng khả năng nắm được mức độ của sự
khái quát xuất hiện vào tuổi thiếu niên. Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi cũng có thể hiểu
được một số khái niệm mang tính khái quát ở mức độ 4 nhưng phải thường
xuyên được làm quen, hiểu được nghĩa của từ, được thực hành những từ ngữ đó
và gắn với những tình huống cụ thể. Về nội dung phát triển vốn từ cho trẻ, tác
giả đã chỉ ra, với trẻ 5 – 6 tuổi cần hiểu và dùng từ đúng về cuộc sống, gia đình,
về công việc của bố mẹ, nắm được các từ ngữ về nội quy, hiểu biết chi tiết và gọi
tên các sự vật trong tầm nhìn của trẻ, nắm được các khái niệm và dùng đúng từ
chỉ thời gian, sử dụng đúng một số từ ghép, từ láy, biết một số từ đồng nghĩa,
nhiều nghĩa, biết một số ẩn dụ, hoán dụ. Ngoài ra, cần mở rộng vốn từ về
phương tiện giao thông và các đặc điểm hoạt động của nó, cung cấp hiểu biết về
vốn từ địa phương. Về ngữ pháp, tác giả cho rằng trẻ ở độ tuổi 4 - 6 tuổi thường
sử dụng các loại câu: câu cụm từ, câu đơn đầy đủ thành phần, câu đơn mở rộng
thành phần, câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ. Tóm lại, tác giả đã nêu rõ
quá trình phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi và đề ra các phương pháp
vào việc chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở lớp 1.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu các cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng ngôn ngữ
của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non quận Kiến An, thành phố Hải
Phòng, đề tài hướng đến việc xem xét, đánh giá những đặc điểm sử dụng ngôn
ngữ (chủ yếu là từ và câu) của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trên hai bình diện đặc biệt
quan trọng của tín hiệu ngôn ngữ là bình diện từ vựng - ngữ nghĩa và bình diện
ngữ pháp, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trẻ ở giai
đoạn tiền học đường nói chung.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận liên quan đến nội dung nghiên cứu
của đề tài như: những vấn đề về từ vựng - ngữ nghĩa học, ngữ pháp học; những
vấn đề tâm lí và tâm lí - ngôn ngữ học có liên quan đến việc tiếp nhận, phát triển
lời nói của trẻ…
- Khảo sát, đánh giá thực trạng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ở một số
trường mầm non của quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng trên các phương diện:
từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp.
9
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo
lớn ở một số trường mầm non của quận Kiến An, Thành phố Hải Phòng xét trên
phương diện từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian, đề tài giới hạn:
- Số lượng khảo sát: 150 trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi)
- Địa bàn khảo sát: Một số trường mầm non công lập thuộc địa bàn quận
Kiến An, thành phố Hải Phòng như: Trường Mầm non Thực Hành, Trường Mầm
150
Nhóm lớp
Tên trường
Lớp
Thời gian khảo
sát
5C1
5A2
5A1
5A
5A3
5 tháng
5 tháng
5 tháng
5 tháng
5 tháng
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận gồm: Phương pháp tổng hợp, hệ
thống hóa, phân tích tài liệu.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm: Phương pháp thống kê,
phân loại (phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn sâu- trò
chuyện, đàm thoại), phương pháp quan sát, phương pháp trắc nghiệm, phương
pháp miêu tả.
Trong cuốn Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu định nghĩa:
“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang đặc điểm
ngữ pháp nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong
tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [11, tr.16].
1.1.1.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt
Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt đưa ra 7 đặc
điểm của từ tiếng Việt, gồm: đặc điểm về hình thức ngữ âm, đặc điểm về kiểu
cấu tạo, đặc điểm về ngữ pháp, đặc điểm về ngữ nghĩa, đặc điểm là đơn vị nhỏ
nhất để tạo câu, đặc điểm về tính sẵn có, đặc điểm về tính hợp thể.
Khác với Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Nghĩa học Việt
ngữ” chỉ đưa ra 2 đặc điểm là: tính sẵn có và tính thành ngữ.
1.1.2. Bình diện kết học (ngữ pháp) của từ tiếng Việt
Nói đến bình diện kết học - ngữ pháp của từ tiếng Việt, về cơ bản cần xem
xét từ theo các lĩnh vực cấu tạo từ và từ loại.
1.1.2.1. Cấu tạo từ tiếng Việt
a. Từ đơn
Theo Đỗ Hữu Châu, “từ đơn là từ có một hình vị” [12, tr.39]. Trong đó,
hình vị được xem là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất của ngôn ngữ, hay nói cách khác
là âm tiết có nghĩa nhỏ nhất được dùng để tạo từ. Trong đề tài này, chúng tôi đi
theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu khi cho rằng có hai dạng từ đơn trong tiếng
Việt là từ đơn đơn âm tiết và từ đơn đa âm tiết.
Từ đơn đơn âm tiết là từ có một âm tiết mang nghĩa rõ ràng. Ví dụ: cá,
cây, hoa, xe, nhà, cửa…
12
Từ đơn đa âm tiết là từ có hai âm tiết trở nên, nhưng các âm tiết này nếu tách
riêng ra sẽ trở nên vô nghĩa. Ví dụ: bồ hóng, mắc cọp, tắc kè, a xít, pít tông…
b. Từ ghép
Đỗ Hữu Châu định nghĩa “từ ghép được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một
từ tố quyết định như nghĩa của từ ghép biệt loại mà là kết quả của sự hợp nhất
nghĩa của từng từ tố mà có” [11, tr.56].
- Ghép đẳng lập biệt lập, là loại từ ghép mà “nghĩa S không phải là tổng
loại, không phải là chuyên loại, cũng không phải là phối nghĩa.Mỗi nghĩa là một
sự kiện, một hoạt động, một tính chất riêng” [11, tr.57].
c. Từ láy
Theo Đỗ Hữu Châu, từ láy là “những từ phức do phương thức láy tác
động vào một từ tố cơ sở (kí hiệu C) làm xuất hiện một từ tố thứ sinh được gọi là
từ tố láy (kí hiệu L)” [11,tr.60].
Từ láy được phân loại thành hai nhóm lớn: láy hoàn toàn và láy bộ phận.
Từ láy bộ phận được chia thành 2 kiểu nhỏ là điệp âm (láy âm) và điệp
vận (láy vận).
1.1.2.2. Từ loại tiếng Việt
Từ tiếng Việt luôn đảm nhiệm những chức năng và vị trí ngữ pháp nhất
định trong câu, nên được chia thành các nhóm từ loại sau:
- Danh từ: Theo Diệp Quang Ban, danh từ là “thực từ có ý nghĩa thực thể,
được dùng làm tên gọi các “vật”, kết hợp được về phía trước với loại từ, với
mạo từ chỉ lượng như những, các, về phía sau với các chỉ định từ (này, nọ…) và
thường làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu” [2, tr.474].
- Động từ: là loại từ biểu thị hành động và trạng thái.
- Tính từ: là từ chỉ tính chất, đặc trưng về màu sắc, mùi vị, âm thanh…
của vật.
- Số từ: là “lớp từ gần gũi với danh từ ở cách gọi tên “vật”, tuy nhiên “vật” ở
đây là những khái niệm về số đếm chính xác mà trừu tượng” [2, tr.489].
- Đại từ: là từ thay thế cho từ ngữ rõ nghĩa khác bên trong văn bản và có
tác dụng thiết lập mối quan hệ với vật, hiện tượng ở bên ngoài văn bản.
- Mạo từ: là loại từ liên quan đến việc diễn đạt số lượng và tính xác
định/phiếm định, buộc phải có danh từ đứng sau.
15
thành. Các nét nghĩa này một phần phản ánh các thuộc tính của các sự vật ngoài
ngôn ngữ, một phần do cấu trúc ngôn ngữ quy định” [11, tr. 96].
Ví dụ: cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ “ăn” gồm: [hoạt động nhai và
nuốt], [đưa thức ăn vào cơ thể], [qua đường miệng], [để nuôi sống cơ thể].
Nghĩa phi trung tâm của từ gồm các nét nghĩa như sau:
c. Nghĩa biểu thái
Nghĩa biểu thái là nét nghĩa “biểu thị tình cảm, thái độ đánh giá xấu tốt đi
kèm với nghĩa biểu niệm” [11,tr.97].
d. Nghĩa liên hội
Nghĩa liên hội (còn gọi là nghĩa liên tưởng), là “mỗi từ do được sử dụng
trong những ngôn cảnh nhất định, do kinh nghiệm của từng người khi tiếp xúc
với sự vật được nó gọi tên nên có thể mang những liên tưởng của cả một lớp
người hay từng lớp cá nhân người” [11,tr.98].
e. Nghĩa ngữ pháp
Nghĩa ngữ pháp là một khuôn gồm các nét nghĩa chung của nghĩa biểu
niệm của từ. Đỗ Hữu Châu cho rằng, “từ tiếng Việt, do không có dấu hiệu của từ
loại trong từ nên nhiều từ thường chuyển từ từ loại này sang từ loại khác. Nói
chuyển từ loại có nghĩa là nghĩa biểu niệm của từ đi từ khuôn chung này sang
khuôn chung khác” [11,tr.97].
1.2. Bình diện kết học và nghĩa học của câu tiếng Việt
1.2.1. Khái quát chung về câu tiếng Việt
Trước năm 1960, quan niệm về câu dựa vào quan niệm mệnh đề và “tính
nọn nghĩa”. Theo Trần Trọng Kim, “câu thành lập do một mệnh đề có nghĩa nọn
hẳn hoặc do hai hay nhiều mệnh đề” [65, tr.202]. Còn theo Nguyễn Lân, “nhiều từ
hợp lại mà biểu thị được một ý hoàn chỉnh và dứt khoát về động tác, tình hình hoặc
tính chất của sự vật thì được gọi là một câu” [65, tr.215].
Từ năm 1960 đến năm 1990, các định nghĩa về câu có chú ý đến những
Theo quan niệm truyền thống, ở bình diện ngữ pháp, câu được cấu thành
bởi các thành phần ngữ pháp. Mỗi thành phần ngữ pháp đó có những đặc trưng
riêng về ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp. Toàn bộ các thành phần ngữ
pháp trong câu tạo nên hệ thống thành phần ngữ pháp của câu.
Theo Bùi Minh Toán [57, tr.27], trong tiếng Việt, thành phần ngữ pháp
trong câu được chia thành ba loại: các thành phần chính, nòng cốt (chủ ngữ, vị
17
ngữ); các thành phần phụ, thứ yếu (trạng ngữ, khởi ngữ, bổ ngữ, định ngữ); các
thành phần biệt lập (chú ngữ, hô ngữ, tình thái ngữ, cảm thán ngữ). Mỗi thành
phần ngữ pháp như thế được xác định đặc tính bởi các đặc điểm về ý nghĩa ngữ
pháp khái quát và đặc điểm về hình thức ngữ pháp (đối với tiếng Việt là đặc điểm
về trật tự từ, hư từ, ngữ điệu).
Có thể dẫn chính ví dụ của Bùi Minh Toán [57, tr.28], để làm rõ sự phân
loại trên như sau:
Ví dụ: Hai ngày hôm sau, chính một số cảnh sát đã giải anh đi tối hôm
trước lại quay về nhà thương Chợ Quán. (Trần Đình Vân)
Trong ví dụ trên, có các thành phần câu sau:
- Chủ ngữ: cảnh sát (từ trung tâm); vị ngữ: quay về (từ trung tâm).
- Trạng ngữ: hai ngày sau
- Bổ ngữ (cho động từ quay về): lại, nhà thương Chợ Quán
- Định ngữ (cho danh từ cảnh sát): một số, đã giải anh đi tối hôm trước
- Tình thái ngữ: trợ từ chính
1.2.2.2. Kiểu cấu trúc ngữ pháp của câu
Trong bình diện ngữ pháp, ngoài các thành phần ngữ pháp còn có các kiểu
cấu trúc ngữ pháp của câu. Mỗi kiểu cấu trúc là một mô hình trừu tượng khái
quát. Số lượng các kiểu cấu trúc ngữ pháp của câu trong một ngôn ngữ là hữu
hạn. Các kiểu cấu trúc cấu tạo nên một hệ thống có tầng bậc, tôn ti. Theo tác giả
Bùi Minh Toán [57, tr.29], trong tiếng Việt phổ biến là sự phân xuất hệ thống cấu
- Phát ngôn 4: có cấu trúc của câu ghép gồm hai vế đẳng lập, mỗi vế là
một cấu trúc C-V (Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi).
Như vậy, bình diện kết học (ngữ pháp) của câu là bình diện của cấu trúc
hình thức trừu tượng, trong đó các quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố cấu tạo
xác định chức năng ngữ pháp của chúng đồng thời cũng xác định kiểu (mô hình)
cấu trúc câu.
1.2.3. Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) của câu tiếng Việt
Bình diện nghĩa của câu chính là sự phát triển từ bình diện nghĩa học của
tín hiệu. Cũng theo tác giả Bùi Minh Toán [57, tr.30], nghĩa của câu thường được
quan niệm gồm hai thành phần cơ bản: nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sự
việc) và nghĩa tình thái, trong đó, phần nghĩa tình thái không hẳn chỉ nằm ở bình
diện nghĩa học mà còn có mối quan hệ đến bình diện dụng học.