Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc - Pdf 29

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

*********TRẦN THỊ HUYỀN
TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẪU
GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCChuyên ngành:

Tâm lí học
Người hướng dẫn khoa học
TH.S HÀ KIM DUNG
muốn và nhu cầu với thế giới xung quanh. Hơn thế nữa ngôn ngữ là công cụ để
chúng ta tư duy, là chìa khóa vạn năng để chúng ta mở kho tàng khổng lồ của
nhân loại. Ngôn ngữ càng mở rộng thì tri thức thu được càng lớn đồng nghĩa với
việc cá nhân ngày càng hoàn thiện, xã hội càng phát triển mạnh mẽ. Bởi vậy giáo
dục ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng cần thiết và phải bắt đầu ngay từ tuổi mầm non
(0-6T) đặc biệt là từ 3-5 tuổi, giai đoạn này ngôn ngữ phát triển rất nhanh về ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp. Nếu bỏ qua giai đoạn này thì sự phát triển của trẻ sẽ bị
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
khó khăn. Nhà giáo dục EITIKHEEVA cho rằng phát triển ngôn ngữ cho trẻ là
nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động trong trường mẫu giáo trẻ sẽ chuyển sang
trường tiểu học, đây là bước ngoặt rất quan trọng của trẻ 6 tuổi. 6 tuổi trr đến
trường đến với thầy với bạn, trẻ phải chuyển qua và thích nghi với 1 lối sống mới
với sự thay đổi của hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học
tập đồng thời trẻ cũng chuyển sang một vị trí xã hội mới. Chính vì sự thay đổi đó
đòi hỏi các em phải có sự chuẩn bị về mặt tâm lý, ý thức để thích nghi bước đầu
với các điều kiện học tập ở trường phổ thông. Điều kiện tâm lý quan trọng đó
chính là ngôn ngữ của các em. Khi ngôn ngữ của trẻ phát triển nghĩa là trẻ sử
dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngà như phát âm chuẩn vốn từ
phong phú, câu nói hoàn chỉnh về ngữ pháp thì trẻ sẽ có 1 phương tiện để lĩnh
hội, tri thức khoa học và 1 công cụ để trẻ tham gia vào các mối quan hệ xã hội
mới.

Chính bởi tầm quan trọng của ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ đối với sự phát triển toàn
diện của trẻ mẫu giáo đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn cho nên tôi chọn đề tài “ Tìm
hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Sen khu
vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc” Để thấy được thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo lớn từ đó có những tác động để nâng cao ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
lớn


Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

2.

Khách thể nghiên cứu

30 trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

V. Các phương pháp

- phương pháp trò chuyện

- phương pháp quan sát

- phương pháp điều tra

- Phương pháp trắc nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp vấn đáp

VI. Mức độ và phạm vi nghiên cứu

-

Nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ( 5-6T) ở khu vực

Phần 2. Kết quả nghiên cứu

Chương 1. Cơ sở lý luận

Chương 2. Thực trạng biểu hiện ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn ở khu vực Vĩnh
Yên- Vĩnh Phúc

Chương 3. Một số tác động thử nghiệm nhằm nâng cao khả năng ngôn ngữ cho
trẻ
Phần 3. Kết luận và kiến nghị

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập từ thời cổ đại. Trong cuốn “ Bàn về
phương pháp” Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy
đó làm tiêu chí phân biệt con người, khác với động vật Ông kết luận rằng “ có
thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con người với con vật”

Sau cách mạng tháng mười Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô Viết
đã vận dụng quan điểm của Mác Lê Nin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ đó
là xem xét ngôn ngữ với tư cách là 1 hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ là hiện thực
trực tiếp của tư duy là phương tiện giao tiếp của con người. LX.Vưgotxlki trong
cuốn “ Tư duy và ngôn ngữ” đã lập luận rằng hoạt động tinh thần của con người
chính là kết quả học tập


Tác giả EI.Tikheeva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một
cách hệ thống, trong đó cần tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung
quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe

Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “ phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo” đã đưa ra một số biện pháp hướng dẫn trẻ kể chuyện
nhằm phát triển lời nói độc thoại cho trẻ gồm: Kể lại chuyện, kể chuyện theo trí
nhớ, kể chuyện theo tưởng tưởng

Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
Xu hướng thứ 3: Nghiên cứu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ
0-6 tuổi theo từng giai đoạn lứa tuổi với các tác giả GI Liamina (1960)’ V.I
Iadenco (1966), Bùi Anh Tuấn

Ở Việt Nam tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn “ Tâm lý học trẻ em
lứa tuổi mầm non” đã phân tích đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn

Trong cuốn phương pháp phát triển lời nói của tác giả Đinh Hồng Thái đã nêu
lên đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo và nêu ra một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ

Có nhiều nhà nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
nhưng tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn khu vực Vĩnh Yên-
Vĩnh Phúc thì chưa có ai nghiên cứu. Vì thế tôi đi tìm hiểu nghiên cứu vấn đề
này tại trường mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

1.2. Khái niệm chung về ngôn ngữ



Thứ nhất: Ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm
lịch sử xã hội của loài người. kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người lưu truyền
được từ đời này sang đời khác phần lớn dưới dạng ngôn ngữ thế hệ đi trước
truyền đạt, thế hệ đi sau lĩnh hội những kinh nghiệm quý báu ấy biến thành vốn
liếng riêng cho bản thân cũng đều phải sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện cơ
bản

Thực vậy, mới đầu trẻ không tự nhận thức được thế giới xung quanh. Để
thỏa mãn nhu cầu nhận thức, trẻ đặt ra nhiều câu hỏi cho người lớn và những
người xung quanh, nhờ những câu trả lời đó trẻ mở rộng dần về nhận thức những
vấn đề tự nhiên, xã hội và con người còn người lớn muốn dạy trẻ điều gì phải sử
dụng lời nói để giải thích, hướng dẫn kèm theo hành động mẫu của mình. Nếu
không trẻ sẽ chỉ bắt chước như một con khì mà không hiểu được tại sao phải như
vậy.

Như vậy ngôn ngữ có tác dụng xã hội hóa sự phản ánh của mỗi cá nhân và
làm cho nó trở thành ý nghĩa
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
Thứ hai: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất của con người

Trong giao tiếp con người sử dụng rất nhiều phương tiện như: lời nói,
hành vi, cử chỉ, sắc thái biểu cảm, kết hợp với âm thanh của âm nhạc, màu sắc
của hội họa

Trong mọi phương tiện đa dạng ấy. Không ai có thể phủ nhận rằng ngôn
ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản nhất của con người. So với lời nói thì các
phương tiện khác hạn chế hơn rất nhiều vì có những cử chỉ, sắc thái biểu cảm.
chỉ một số người mới hiểu được còn ngôn ngữ có thể truyền đạt những thông tin,

Cụ thể: 3 tuổi ( 800 từ trở lên) trong đó:
50% danh từ
26% động từ
10% tính từ
6% trạng từ
4% đại từ
1,8% số từ (số đếm, một, hai…)
4 tuổi (1926 từ) trong đó:
50,2% là danh từ
27,4% là động từ
11,8% là tính từ
5,8% là trạng từ
1,9% là số từ
1,2% là liên từ
Các từ trẻ sử dụng thường là tên gọi của đồ chơi, đồ dùng, con vật, cây
cối, hoa lá xung quanh mà hàng ngày trẻ thường xuyên được tiếp xúc. Trẻ đã
sử dụng những từ chỉ hành động, công việc của chính bản thân trẻ và mọi
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
người xung quanh như ăn, ngủ, tắm rửa, dọn, giặt, đi chợ, đi làm… hoặc các
từ chỉ hành động của các con vật mà trẻ biết như cào, cắn, nhảy, bơi, mổ,
kêu…
- Theo một số kết quả nghiên cứu khác đó là nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ
em lứa tuổi mẫu giáo ở nội thành Hà Nội của Trung tâm nghiên cứu giáo dục
mầm non cho biết số lượng từ của trẻ tăng dẫn theo tháng tuổi.
Cụ thể: 39 tháng tuổi: 515 từ
42 tháng tuổi: 574 từ
45 tháng tuổi: 683 từ
48 tháng tuổi 724 từ
Những kết quả nghiên cứu trên đã nói lên vốn từ của trẻ 3 - 4 tuổi đã tăng

Tuy nhiên trong ngôn ngữ của trẻ 3 - 4 tuổi còn chưa hoàn chỉnh về ngữ
pháp, trẻ vẫn còn nói câu cụt, câu thiếu thành phần trong nhiều tình huống
giao tiếp. Các từ dùng trong câu còn chưa chính xác. Lời nói còn chưa mạch
lạc
1.3.2. Đặc điểm pháp triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi:
+ Vốn từ: Vốn từ của trẻ tăng 1300 - 2000 từ trong đó danh từ, động từ
vẫn chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại từ khác tuy đã xuất hiện trong ngôn
ngữ của trẻ nhưng còn ít và đôi khi trẻ sử dụng chưa chính xác.
+ Phát âm và ngữ điệu khi sử dụng ngôn ngữ:
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
Trẻ 4 - 5 tuổi phát âm có tiến bộ hơn trẻ mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi). Trẻ nói
rõ hơn, dứt khoát hơn, ít ngọng hơn, song vẫn hay sai thanh ngã, âm đệm và
âm cuối.
ở trẻ đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu âm
tiết …Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm
nhầm như các âm vị "t" = "ch" ("tôm to" trẻ nói là "chôm cho"), dễ bị nhoè
các phụ âm như "l" phát âm thành "nh".
+ Việc nắm ngữ pháp của trẻ 4 - 5 tuổi có tiến bộ hơn trẻ 3 - 4 tuổi. Câu
nói của trẻ dài hơn, ít câu cụt hơn. Khi nói câu chưa đúng, chưa chuẩn về ngữ
pháp, trẻ biết sửa nhưng không biết vì sao phải sửa. Trẻ đã sử dụng các câu
phức hợp nhiều hơn mẫu giáo bé, trẻ biết sử dụng các câu có liên từ. Kết quả
nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ở nội ngoại thành Hà Nội
cho thấy trong 1035 câu nói của trẻ 4 - 5 tuổi có 751 câu đúng (chiếm
72,59%), 284 câu sai (chiếm 27,41%), 472 câu đơn (62,83%), 297 câu phức
(37,17%).
Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống. Khi giao tiếp
với mọi người xung quanh trẻ thường gắn liền ngôn ngữ của mình với các sự
vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra trước mắt trẻ - Ví dụ bé H
(45 tháng tuổi), khi nhìn thấy anh (chị) lớp 1 cắp sách đi học, liền đòi mẹ "Mẹ

chót, đỏ choét…)
Ngoài ra các loại từ khác như đại từ, trạng từ, quan hệ từ, phụ từ cũng
được trẻ dùng nhiều hơn các lứa tuổi khác.
+ Nắm ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng ngôn ngữ:
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
Do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, tai âm vị được rèn luyện
thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói cơ quan phát
âm đã trưởng thành mà trẻ có thể phát ra những âm chuẩn, kể cả những âm
khó của tiếng mẹ đẻ như "uềnh càng", "khúc khuỷu"…. Chỉ có trong trường
hợp bộ máy phát âm bị tổn thương, hay do chịu ảnh hưởng của lời nói ngọng
của những người lớn trong địa phương, trẻ mẫu giáo lớn mới phạm nhiều lỗi
trong nắm ngữ âm của tiếng mẹ đẻ hoặc một số âm khó, xa lạ với trẻ thì trẻ
có thể phát âm sai. Ví dụ "quét trầu" trẻ nói thành "quyết trầu".
Trẻ mẫu giáo lớn cũng đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với
nội dung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể. Trẻ thường dùng
ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm yêu thương trìu mến. Ngược lại, khi giận
dữ trẻ lại dùng ngữ điệu thô và mạnh. Khả năng ấy được thể hiện rõ khi trẻ kể
những câu chuyện mà mình yêu thích cho người khác nghe.
+ Nắm cơ cấu ngữ pháp:
Với điều kiện sống và giáo dục tốt, trẻ em ở cuối tuổi mẫu giáo( 5 - 6
tuổi) đã có thể sử dụng ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo, mặc dù
quá trình đó diễn ra một cách không có ý thức, khác với quá trình học ngữ
pháp một cách có ý thức ở trường phổ thông. Điều đó được thể hiện trong câu
nói của trẻ có cấu trúc ngữ pháp phức tạp và nội dung biểu hiện cũng phong
phú hơn nhiều so với lứa tuổi trước.
Chẳng hạn: Trẻ 3 tuổi có tỷ lệ câu đơn là: 72,55%, câu phức là: 27,44%.
Nhưng trẻ 5 tuổi tỷ lệ câu đơn là: 62,13%, câu phức là: 37,84%
Sự lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ (5 - 6 tuổi) còn được quyết định bởi tính
tích cực của trẻ đối với ngôn ngữ. Những trẻ em tích cực giao tiếp, tích cực

Tuy nhiên ở một số trẻ còn nói năng lộn xộn, không rõ ràng, dài dòng,
không mạch lạc… Nguyên nhân chủ yếu là do vốn từ của trẻ còn nghèo, chưa
biết sử dụng các từ liên kết, chưa diễn đạt đúng trình tự lôgíc của sự việc…
Điều đó cho thấy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có sự khác biệt cá nhân thể hiện rõ
trong ngôn ngữ hơn bất cứ lĩnh vực nào khác của sự phát triển tâm lý trẻ.
+ Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc:
Ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ mẫu giáo, không chỉ là phép cộng đơn giản của
những câu và từ mà đó là những suy nghĩ có liên quan đến nhau về một chủ
đề nhất định, được diễn đạt bởi từ ngữ chính xác, có hình ảnh, trong những
câu được xây dựng đúng theo các quy luật ngữ pháp, lôgíc chặt chẽ.
Ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo xuất phát từ nhu cầu vốn ngôn ngữ
của trẻ tăng nhanh. Trẻ muốn giải thích trao đổi với bạn, với người lớn một
nội dung nào đó. Muốn vậy, trẻ phải cố gắng trình bày rõ ràng, nêu được mối
quan hệ giữa các sự vật hiện tượng để thuyết phục người nghe. Theo tác giả
Nguyễn ánh Tuyết, ngôn ngữ mạch lạc của trẻ là lời nói thể hiện tính chặt chẽ,
tính trình tự, tính liên kết [36].
Lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo được thể hiện qua nói đúng cấu trúc
câu của tiếng Việt. Lời nói có nội dung thông báo đầy đủ, lôgíc, có hình ảnh,
diễn đạt rõ ràng khi nói, viết, biết ngắt câu, giọng nói có sắc thái biểu cảm
[22].
Như vậy, ngôn ngữ được coi là mạch lạc khi có đủ những yếu tố sau:
 Các câu phải đúng ngữ pháp và có nghĩa.
 Nội dung thông báo phải đầy đủ, khúc chiết, chính xác và hợp lý và
có chủ đề nhất định.
 Có sử dụng các phép liên kết một cách hợp lý.
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
 Các hành động ngôn ngữ được thực hiện trong các câu phải dung
hợp nhau và thực hiện được chức năng giao tiếp của ngôn ngữ.
 Có sắc thái biểu cảm trong lời nói.

Giai đoạn này những cấu tạo tâm lí trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp
tục phát triển mạnh. Với sự giáo dục của người lớn những chức năng tâm lý đó
sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lí để hoàn thành việc
xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người. Trẻ sử dụng thành
thạo tiếng mẹ đẻ nhưng vẫn còn nhiều trẻ phát âm ngọng, dùng từ sai. Chủ yếu là
do trẻ học lỏm của người lớn hay bắt chước. Do đó ở gia đình hay ở lớp mẫu
giáo cần coi trọng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nội dung
quan trọng của giáo dục mầm non

Trẻ bắt đầu ý thức về giới tính của mình những đánh giá nhận xét bắt đầu
mang sắc thái giưois tính Trẻ thường nói: “ Con trai mà lại khóc à” hay “ con gái
mà lại đánh nhau à” Trẻ bắt đầu nhận biết mình là người thế nào có những đặc
điểm gì. Trẻ bắt đầu đánh giá người khác nhưng bị xúc cảm tình cảm chi phối
mạnh. Trẻ biết điều khiển hành vi của mình theo mục đích đã định. Sự tập trung
tính bền vững của chú ý tăng lên, nhu cầu nhận thức mạnh hoạt động vui chơi
không thỏa mãn nhu cầu, trẻ phải tìm đến một hoạt động jmới đó là hoạt động
học tập. Vì vậy việc chuẩn bị sẵn sang về mặt tâm lí cho trẻ đến trường phổ
thông là mọt việc làm rất quan trọng
1.5. Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi:
Chúng ta biết rằng, tiếng mẹ đẻ là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh
hội nền văn hoá dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy,
để tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn… Cho nên việc phát triển tiếng mẹ đẻ
cho trẻ em ở tuổi mầm non là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng mà ở độ tuổi
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
mẫu giáo lớn thì nhiệm vụ đó phải được hoàn thành. Nếu một đứa trẻ 5 - 6
tuổi mà nói năng ấp úng, phát âm ngọng líu ngọng lô, vốn từ nghèo nàn tới
mức không đủ để diễn đạt những điều mình cần nói, không sử dụng được ngữ
pháp để nói mạch lạc cho người khác hiểu được mình và hiểu được người
khác nói, thì có thể liệt đứa trẻ đó vào loại chậm phát triển. Và như vậy, cần

trong khi kể chuyện cho trẻ nghe và khi trẻ kể chuyện cho người khác nghe
chúng ta cần dạy trẻ phát âm đúng và sử dụng những ngữ điệu thích hợp.
Người lớn kể chuyện cho trẻ nghe phải có giọng kể hấp dẫn, phát âm chuẩn,
rõ, biết sử dụng ngữ điệu thích hợp để diễn tả tính cách nhân vật. Trẻ sẽ tập
trung chú ý cao độ vào ngôn ngữ kể chuyện của người lớn trên cơ sở đó trẻ
học được cách phát âm, dùng ngữ điệu thích hợp và kể lại chuyện theo sự
sáng tạo của mình. Khi kể lại chuyện, người lớn cần uốn nắn cho trẻ cách phát
âm đúng các âm khó sử dụng ngữ điệu thích hợp trong những tình huống cụ
thể.
1.5.3. Rèn trẻ nói đúng ngữ pháp:
Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ thì cung cấp, phát triển vốn từ cho trẻ là
rất quan trọng, song việc luyện tập cho trẻ biết nói đúng cấu trúc câu trong
tiếng mẹ đẻ, không nói câu què, câu cụt, nói nhát ngừng, nói lộn ngược vị trí
từ trong câu còn quan trọng hơn nhiều.
Vì vậy trong giao tiếp hàng ngày hay trong quá trình tổ chức các hoạt
động cho trẻ người lớn phải tập cho trẻ nói đúng cấu trúc câu: Có chủ ngữ, có
vị ngữ, sử dụng trạng từ, bổ ngữ phù hợp. Do trẻ chưa ý thức một cách đầy đủ
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa Luận Tốt Nghiệp
Trần Thi Huyền K33 - GDMN
về vị trí xã hội, về chuẩn mực hành vi nên nhiều khi trẻ còn nói trống không
(thiếu chủ ngữ) với mọi người, khi ấy người lớn cần phải nghiêm túc, yêu cầu
trẻ nói lại một cách đầy đủ.
Cần phải tạo nhiều tình huống, cơ hội để trẻ giao tiếp, bộc lộ những ý
muốn, hiểu biết của mình với người lớn, bạn bè bằng lời nói của chính trẻ,
quan sát trẻ nói với nhau, qua đó sửa sai uốn nắn câu cho trẻ.
1.5.4. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc:
Trong quá trình giao tiếp và trong quá trình tổ chức cho trẻ hoạt động để
kích thích trẻ nói năng mạch lạc người lớn cần tạo điều kiện để trẻ nói rõ ràng,
sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lý, nêu bật được các ý cần nhấn mạnh để
người nghe hiểu một cách dễ dàng. Cụ thể như cần cho trẻ mô tả lại trường

Trong thời gian 10 tuần thực tập tại trường mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên-
Vĩnh Phúc. Tôi đã có điều kiện được tiếp xúc trò chuyện với các phụ huynh và
các cháu ở khu vực này phần lớn các phụ huynh ở đây là gia đình cán bộ công
chức, học có điều kiện chăm sóc con cái. Con cái của họ cũng rất ngoan và thông
minh, nhanh nhẹn, các cô giáo ở đây rất nhiệt tình, năng động, họ chăm sóc nuôi
dạy trẻ rất chu đáo. Đa phần các giáo viên đều có trình độ, với các phương pháp
giảng dạy tiên tiến mỗi lớp đều có máy tính, đàn và đồ dùng phong phú. Nó ảnh
hưởng tốt đến sự phát triển của trẻ, giúp trẻ có điều kiện học tập, lĩnh hội kiến
thức tốt hơn. Ở lớp mẫu giáo lớn tôi chủ nhiệm có cô giáo rất nhiệt tình năng
động, trang thiết bị dạy học đầy đủ, phòng học sạch sẽ thoáng mát, trẻ rất nhanh
nhẹn hoạt bát. Trong các giờ học trẻ chăm chú nghe giảng, tích cực hoạt động,
thưa gửi lễ phép, các hoạt động đàm thoại, tiến hành dễ dàng vì ngôn ngữ của trẻ
rất phát triển, các cháu trả lời câu hỏi rõ ràng rành mạch đặc biệt rất ít trẻ phát
âm sai chữ “ L-N” trẻ phát âm tương đối chuẩn. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn
một số trẻ vẫn chậm nói, giao tiếp còn kém

Những thực trạng trên có ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, để
tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ tôi đã tiến hành dự giờ
và ghi rõ những biểu hiện của ngôn ngữ của trẻ

Trích đoạn Vài nét khái quát về khách thể nghiên cứu Thực trạng khả năng phát âm của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi trường mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên Vĩnh Phúc Thực trạng sử dụng ngữ pháp trong lời nói của trẻ mẫu giáo lớn 5 tuổi trường mầm non Hoa Sen Vĩnh Yên – Vĩnh phúc Kết quả của quá trình thử nghiệm tác động sư phạm 1 Về khả năng biểu hiện vốn từ Về khả năng nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status