Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo ( 3- 6 tuổi - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MAI LINH
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI
MẪU GIÁO (3-6 TUỔI) LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội - 2013

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÔN NGỮ CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI
MẪU GIÁO 5
1.1.Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Ở nước ngoài 5
1.1.2. Ở trong nước 7
1.2. Một số vấn đề lí luận về ngôn ngữ và hiểu từ trong ngôn ngữ 9
1.2.1. Khái niệm chung về ngữ ngôn và ngôn ngữ 9
1.2.2. Chức năng cơ bản của ngôn ngữ 10
1.2.3. Cấu trúc của ngôn ngữ 12
1.2.4. Ngôn ngữ và lời nói 13
1.2.5 Các vấn đề về từ và nghĩa của từ 14
1.2.6 Vấn đề hiểu từ trong ngôn ngữ 15
1.3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 16
1.3.1 Các quy luật lĩnh hội tiếng mẹ đẻ của trẻ 18
1.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 21
1.3.3 Đặc điểm hiểu từ của trẻ mẫu giáo 24
1.3.4 Khả năng hiểu từ của trẻ mẫu giáo(3-6 tuổi) 27
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến ngôn ngữ trẻ em mẫu giáo (3-6 tuổi) 31
1.4.1 Các yếu tố sinh lý thần kinh 31
1.4.2 Môi trường sống của trẻ em 32
1.4.3 Sự phát triển nhận thức của trẻ 33
1.4.4 Tính chủ động trong giao tiếp của trẻ 35
1.4.5 Các biện pháp giúp trẻ mẫu giáo hiểu từ 36
Chƣơng 2 TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Tổ chức nghiên cứu 39
2.1.1 Đặc điểm địa bàn và khách thể 39
2.1.2 Tiến trình nghiên cứu 40
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 40

Bảng 3. 4: Độ tuổi và mức độ hiểu từ đúng của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 64
Bảng 3.5 Đặc điểm hiểu từ của trẻ mẫu giáo theo giới tính 69
Bảng 3.6: Mức độ hiểu từ đúng của trẻ theo giới tính (Tính theo %) 70
Bảng 3.7: Môi trƣờng sống và đặc điểm hiểu từ của trẻ em mẫu giáo 3-6
tuổi 74
Bảng 3.8: Môi trƣờng sống và mức độ hiểu từ đúng của trẻ em mẫu giáo (3-6
tuổi) 76
Bảng 3.9: Mức độ phát triển tính chủ động trong giao tiếp của trẻ em mẫu
giáo 3-6 tuổi 83
Bảng 3.10. Ảnh hƣởng tính chủ động giao tiếp đến mức độ hiểu từ của trẻ
mẫu giáo 3-6 tuổi 86
Bảng 3.11 Các biện pháp dạy trẻ hiểu từ 87
Bảng 3.12 Mức độ hiểu từ của trẻ đo lần 1 92
Bảng 3.13: Mức độ hiểu từ của trẻ nhóm đối chứng và thực nghiệm đo lần
1, lần 2 94

DANH MỤC CÁC BIỀU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 51
Biểu đồ 3.2 Độ tuổi và mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 63
Biểu đồ 3.3 Giới tính và mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi) 69
Biểu đồ 3.4 Môi trƣờng sống và mức độ hiểu từ của trẻ mẫu giáo 75
Biểu đồ 3.5. Mức độ phát triển khả năng hiểu từ của nhóm trẻ đối chứng và
thực nghiệm sau hai lần đo 94
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

lý cho bản thân. Mặt khác, nắm đƣợc ngôn ngữ tức là trẻ em nắm đƣợc chìa
khoá của học vấn, của sự phát triển trí tuệ. Đúng nhƣ E. I. Tikheeva – nhà
giáo dục học ngƣời Nga, đã dành nhiều năm nghiên cứu và thực hành việc
giáo dục ngôn ngữ ở trƣờng mẫu giáo, khẳng định “Ngôn ngữ là công cụ để
tƣ duy, là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức
của dân tộc, của nhân loại. Vì vậy việc giáo dục cho trẻ phải bắt đầu từ rất
sớm, từ khi các cháu chƣa cắp sách đến trƣờng” [dẫn theo 13]
Nhƣ vậy, việc phát triển ngôn ngữ là một trong những nhiệm vụ quan
trọng đối với hệ thống giáo dục quốc dân, đặc biệt là đối với giáo dục mầm
non. Chúng ta đều biết giáo dục mầm non là giai đoạn giáo dục đầu tiên, giai
đoạn tạo nền móng cơ sở vững chắc cho sự phát triển về mọi mặt của trẻ sau
này. Và một trong những nội dung mà trƣờng mầm non phải chuẩn bị cho trẻ
ngay từ những ngày đầu tiên đó là phát triển ngôn ngữ cho trẻ đạt tới mức độ
sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ.
Thông qua kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc
chúng ta nhận thấy rằng cùng với sự phát triển của các quá trình tâm lý khác,
ngôn ngữ trẻ mẫu giáo cũng phát triển rất nhanh. Nhu cầu trao đổi, trò chuyện
của trẻ với mọi ngƣời ngày càng trở nên bức thiết, nhƣng do khả năng hiểu từ
và khả năng diễn đạt chƣa tốt nên có nhiều trƣờng hợp trẻ dùng từ lộn xộn, sai
nghĩa Khó khăn này cũng ảnh hƣởng đến sự phát triển tƣ duy của trẻ nói
riêng và sự phát triển tâm lý của trẻ nói chung, đặc biệt là đối với trẻ mẫu giáo
lớn, khi mà ngôn ngữ đóng vai trò là phƣơng tiện quan trọng giúp trẻ chuyển
sang hoạt động học tập ở trƣờng phổ thông.

3
Xuất phát từ vai trò vô cùng quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát
triển tƣ duy và giao tiếp xã hội của trẻ, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu
của mình là: "Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo (3-6 tuổi)".
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trẻ mẫu giáo 3 đến 6 tuổi và một số yếu

- Thử nghiệm tác động sƣ phạm nhằm nâng cao khả năng hiểu từ cho
trẻ mẫu giáo thông qua hình thức dạo chơi, tham quan.
6. Giả thuyết khoa học
Đặc điểm khả năng hiểu từ của trẻ mẫu giáo tăng dần theo độ tuổi, và
không đồng đều ở những trẻ khác nhau trong cùng độ tuổi. Đa số trẻ mẫu giáo
hiểu từ ở mức trung bình trở lên. Nếu sử dụng biện pháp dạy trẻ hiểu từ qua
dạo chơi, tham quan thì mức độ hiểu từ của trẻ có thể tăng lên.
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu.
7.2. Phƣơng pháp quan sát.
7.3. Phƣơng pháp trắc nghiệm.
7.4. Phƣơng pháp thực nghiệm.
7.5. Phƣơng pháp điều tra phỏng vấn
7.6. Phƣơng pháp thống kê toán học

5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÔN NGỮ CỦA TRẺ EM
LỨA TUỔI MẪU GIÁO

1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
Ngôn ngữ là sự sáng tạo kỳ diệu của loài ngƣời, là phƣơng tiện giao
tiếp phổ biến và thuận lợi nhất. Nó gắn liền với sự phát triển tâm lý con

ngữ, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các
thuộc tính của ngôn ngữ… [16]
L.X Vƣgôtxki trong cuốn "Tƣ duy và ngôn ngữ" đã lập luận rằng hoạt
động tinh thần của con ngƣời chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ
không phải chỉ là hoạt động học tập của một cá thể. Theo ông, khi trẻ em gặp
phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác của ngƣời
lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những ngƣời này giúp đỡ trẻ và khuyến
khích trẻ. Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tƣ duy trong một xã hội
nhất định đƣợc chuyển giao sang trẻ. Do ngôn ngữ là phƣơng thức đầu tiên
mà qua đó, con ngƣời trao đổi các giá trị xã hội, L.X Vƣgôtxki coi ngôn ngữ
là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tƣ duy [12].
Việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0-6 tuổi) cũng
đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm. Nhìn lại các công trình nghiên cứu lý
luận và thực tiễn về ngôn ngữ ở giai đoạn này chúng ta có thể thấy các tác giả
đã nghiên cứu theo các xu hƣớng chủ yếu sau:
- Hƣớng nghiên cứu đầu tiên là nghiên cứu chức năng, vai trò của ngôn
ngữ trong sự phát triển và giáo dục của trẻ. Đây là hƣớng nghiên cứu nổi bật
đƣợc thể hiện trong các công trình khoa học của nhiều tác giả nhƣ:
E.I.Tikheeva, Ph.A. Sookhina, L.X.Vƣgôtxki, J.Piaget,… Các tác giả đều đi
đến nhận định, ngôn ngữ là công cụ nhận thức thế giới xung quanh của trẻ, là

7
phƣơng tiện giao tiếp, phƣơng tiện giúp trẻ chiếm lĩnh các giá trị đạo đức,
chuẩn mực xã hội. Đặc biệt các tác giả đều nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ
trong sự phát triển tƣ duy của trẻ.
- Hƣớng nghiên cứu thứ hai đƣợc các tác giả quan tâm là nghiên cứu
đặc điểm phát triển ngôn ngữ trẻ trƣớc tuổi học. Hƣớng nghiên cứu này
đƣợc phản ánh trong công trình của các tác giả: E. I . Tikheeva, Ph. A.
Sookhina, L.P. Phêdôrencô… Trong các công trình nghiên cứu của mình các
tác giả đã nghiên cứu từng nội dung cụ thể của việc phát triển ngôn ngữ nhƣ:

- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng tới sự phát triển ngôn ngữ trẻ em
(môi trƣờng sống, sức khoẻ, giáo dục gia đình…) qua công trình nghiên cứu
của Lƣu Thị Lan (1989), Võ Phan Thu Hƣơng (2006)…
- Các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nhà trẻ - mẫu giáo qua
các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nƣớc nhƣ Nguyễn Gia Cầu
(1986), Hà Thị Dần (1986), Đỗ Thị Xuyến (2000), Nguyễn Thị Băng Tâm
(2000), Nguyễn Xuân Khoa (2004), Nguyễn Thị Yến (2004), Nguyễn Thị
Xuân (2005), Nguyễn Thị Hằng (2008)…
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ trẻ em với các lĩnh vực khoa
học: văn học, giao tiếp, tƣ duy… Với các công trình nghiên cứu của các tác
giả Đào Thị Minh Huyền (1989), Hồ Lam Hồng (1993), Nguyễn Thạc (1995),
Nguyễn Xuân Thức (1997)…
Nhìn chung vấn đề ngôn ngữ của trẻ em đƣợc các nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, nhiều lứa tuổi khác nhau. Có nghiên cứu về cấu
trúc đặc biệt của ngôn ngữ, có nghiên cứu về các yếu tố ảnh hƣởng đến quá
trình hình thành, phát triển ngôn ngữ, một số nghiên cứu khác lại nghiên cứu
biện pháp phát triển ngôn ngữ… Tất cả những nghiên cứu này đều chứng tỏ
rằng ngôn ngữ là một điều kiện hết sức quan trọng để trẻ tiếp xúc với môi
trƣờng mới lạ ở phổ thông, giúp trẻ lĩnh hội đƣợc những kiến thức mang tính

9
chất khoa học của các môn học ở phổ thông… Vì vậy việc nghiên cứu ngôn
ngữ của trẻ mẫu giáo về vốn từ, ngữ âm ngữ điệu, ngữ pháp, ngôn ngữ mạch
lạc,… là rất cần thiết. Để từ đó chúng ta có thể giúp trẻ có sự phát triển ngôn
ngữ một cách đầy đủ về các mặt. Đó cũng là phƣơng tiện cơ bản nhất, quan
trọng nhất để trẻ tiếp thu tri thức không chỉ môn Tiếng Việt mà còn tất cả các
môn khoa học khác của chƣơng trình lớp 1.
1.2. Một số vấn đề lí luận về ngôn ngữ và hiểu từ trong ngôn ngữ
1.2.1. Khái niệm chung về ngữ ngôn và ngôn ngữ
Ngữ ngôn bao gồm hệ thống các ký hiệu từ ngữ và hệ thống các quy tắc

trƣớc, thế hệ đi sau lĩnh hội những kinh nghiệm quý báu ấy biến thành vốn
liếng riêng cho bản thân cũng đều phải sử dụng ngôn ngữ làm phƣơng tiện
cơ bản nhất.
Chúng ta biết rằng, đầu tiên đứa trẻ không tự nhận thức đƣợc thế giới
xung quanh. Để thoả mãn nhu cầu nhận thức, trẻ đặt ra nhiều câu hỏi cho
ngƣời lớn và những ngƣời xung quanh. Và nhờ những câu trả lời đó mà trẻ
mở rộng dần về nhận thức những vấn đề tự nhiên, xã hội và con ngƣời. Về
phía ngƣời lớn, nếu muốn dạy trẻ điều gì đều phải sử dụng lời nói để giải
thích, hƣớng dẫn kèm theo hành động mẫu của ngƣời. Nếu không, hành động
của trẻ chỉ là bắt chƣớc mà không hiểu đƣợc tại sao phải nhƣ vậy.
Nhƣ vậy, nhờ có ngôn ngữ mà con ngƣời lĩnh hội đƣợc tri thức, kinh
nghiệm sống trong nền văn hoá nhân loại để tồn tại và phát triển.
Thứ hai, ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp cơ bản nhất của con ngƣời.
Ngƣời ta nói rằng, ngay cả những bộ lạc lạc hậu nhất mà con ngƣời
mới phát hiện ra cũng dùng ngôn ngữ để giao tiếp. Điều đó nói lên rằng, trong
giao tiếp mặc dù con ngƣời còn sử dụng các phƣơng tiện khác nhƣ các hành
động, cử chỉ, các dấu hiệu, ký hiệu khác nhau, kết hợp các âm thanh của âm
nhạc, kết hợp màu sắc của hội hoạ… nhƣng ngôn ngữ vẫn là phƣơng tiện giao
tiếp cơ bản nhất của con ngƣời.

11
So với ngôn ngữ nói thì ngôn ngữ cử chỉ nghèo nàn và hạn chế hơn.
Bởi lẽ có những cử chỉ, chỉ một số ngƣời hiểu với nhau, ý nghĩa của cử chỉ
nhiều khi không rõ ràng, dẫn đến chỗ ngƣời tạo ra cử chỉ với nghĩa này thì
ngƣời giao tiếp lại hiểu theo nghĩa khác. Những ký hiệu và dấu hiệu khác
nhau nhƣ tín hiệu đèn giao thông, tín hiệu hàng hải, chỉ đƣợc áp dụng trong
những phạm vi hạn chế chứ không phải là phƣơng tiện giao tiếp toàn xã hội.
Bản thân các dấu hiệu, ký hiệu đó muốn trở thành phƣơng tiện giao tiếp phải
dùng đến phƣơng tiện ngôn ngữ để giải thích. Ngay cả âm nhạc, hội hoạ, điêu
khắc cũng là những phƣơng tiện giao tiếp sinh động nhƣng vẫn bị hạn chế và

nhau. Chức năng ban đầu của ngôn ngữ là giao tiếp, là phƣơng tiện truyền đạt,
lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử loài ngƣời. Đồng thời, ngôn ngữ còn có
chức năng của tƣ duy, ngôn ngữ là công cụ để biểu đạt kết quả của tƣ duy và
ngôn ngữ cũng tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành các tƣ tƣởng trong
quá trình tƣ duy. [12]
1.2.3. Cấu trúc của ngôn ngữ
Ngôn ngữ đƣợc cấu thành từ ba bộ phận cơ bản: từ vựng, ngữ âm và
ngữ pháp.
- Từ: là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức,
là vật liệu xây dựng không thể thiếu đƣợc của ngôn ngữ. Từ là đơn vị trung
tâm của hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa.
Xu hƣớng hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận là hệ thống từ loại
tiếng việt có thể sắp xếp thành 2 nhóm:
Nhóm 1: Gồm các từ loại danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ.
Nhóm 2: Gồm các từ loại định từ, phó từ, kết từ, tình thái từ.
- Ngữ âm: là mặt âm thanh, phát âm của ngôn ngữ. Ngữ âm có mặt tự
nhiên và xã hội của nó.

13
+ Mặt tự nhiên của ngữ âm: là những thuộc tính về âm học (cao độ,
trƣờng độ…) và những thuộc tính về cấu âm (hoạt động của bộ máy hô hấp và
chuyển động của các cơ quan phát âm nhƣ môi, lƣỡi tạo ra một âm nào đó).
+ Mặt xã hội của ngữ âm: hay còn gọi là chức năng của ngữ âm là
những quy định, những giá trị mà cộng đồng ngƣời sử dụng chung một ngôn
ngữ gán cho các đặc trƣng âm thanh.
- Ngữ pháp: là hình thức biến đổi từ, các mô hình kết hợp từ, hay nói
cách khác: ngữ pháp chính là cách thức và phƣơng tiện cấu tạo từ thành câu.
Ngữ pháp bao gồm có từ pháp và cú pháp. Từ pháp là các quy tắc biến
hình của từ, các phƣơng thức cấu tạo từ và các đặc tính ngữ pháp của từ loại.
Còn cú pháp chỉ những quy tắc kết hợp từ, nhóm từ thành các kết cấu cú

1.2.5.1 Từ là gì?
Từ là đơn vị của ngôn ngữ. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ.
Dƣới góc độ ngữ pháp học thì từ đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
“Từ” là một đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa, có tính độc lập tự do xuất hiện
trong lời nói và có chức năng cú pháp là thành phần của câu hay là câu của
một thành phần.
Từ là một tín hiệu ngôn ngữ bao gồm các phần âm thanh và ý nghĩa.
Hai phần này có liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau để biểu hiện ý nghĩa
của con ngƣời.
Từ không chỉ biểu thị các sự vật hiện tƣợng riêng lẻ mà biểu thị cả một
nhóm sự vật hiện tƣợng tập hợp lại theo một dấu hiệu nhất định. Do đó từ có
tính chất khái quát. [20]
1.2.5.2 Nghĩa của từ
Nghĩa của từ là mặt bên trong của từ, là cái mấu chốt nhất của tƣ duy
ngôn ngữ. Nếu từ mà không có nghĩa thì không phải là từ mà chỉ là âm
thanh trống rỗng. Ý nghĩa của từ là mối quan hệ của từ với ý thức của con

15
ngƣời về các sự vật và hiện tƣợng. Cơ sở để xây dựng ý nghĩa của từ là
biểu tƣợng và khái niệm, đó là hình thức phản ánh của con ngƣời về sự vật
hiện tƣợng xung quanh.
Đối với từng ngƣời từ có nghĩa và ý. Ý của từ là quan hệ của từ với
từng ngƣời hoặc nhóm ngƣời nào đó. Ý của từ phản ánh động cơ và mục đích
hoạt động của họ. Ý cùng với nghĩa của từ phản ánh lối sống, phản ánh mức
độ phát triển nhân cách của con ngƣời. Ở từng ngƣời, nghĩa của từ phát triển
tƣơng ứng với trình độ học vấn của ngƣời đó.
Nghĩa của từ chỉ thể hiện khi sử dụng các từ trong lời nói, nó không có
tính ổn định, vì bản thân mối quan hệ của từ với các sự vật, hiện tƣợng có thể
thay đổi tùy theo hoàn cảnh nói năng cụ thể. [20]
Nhƣ vậy, có thể nói rằng: Từ chỉ có giá trị khi nó có nghĩa, một từ

Mức độ 3: Hiểu những thuộc tính bản chất của đối tƣợng đƣợc nêu
trong từ nhƣng dựa trên tài liệu cảm tính phong phú, do đó mới hiểu một cách
chung chung, trừu tƣợng. Ví dụ, trẻ trả lời câu hỏi: Chó là gì? Chó là loài
động vật
Mức độ 4: Hiểu sâu sắc toàn diện và có hệ thống thể hiện ở chỗ: Xác
lập đƣợc mối liên hệ giữa tri thức mới với tri thức đã có. Ở mực độ này cá
nhân đã hiểu đƣợc dấu hiệu bản chất nhất, nắm đƣợc các biểu hiện đa dạng
của khái niệm và vận dụng thành thạo. Ví dụ: bút có nhiều loại, ngoài loại để
viết ra còn có loại để vẽ bằng lông, bút dạ, bút xóa, bút viến lên bản gỗ… [20]
1.3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi)
Trong quá trình bồi dƣỡng giáo dục thế hệ mầm non tƣơng lai thì một
trong những việc làm cần thiết đầu tiên là giúp trẻ nắm vững và sử dụng thành
thạo tiếng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày. Tiếng mẹ đẻ là phƣơng tiện quan
trọng nhất giúp trẻ lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, giúp trẻ tƣ duy, phát triển ý
thức và giao lƣu với mọi ngƣời xung quanh. Từ 3 tuổi đến 5 tuổi là khoảng
thời gian không dài, nhƣng đối với sự phát triển ngôn ngữ lại có thay đổi rất

17
quan trọng, bởi đây là thời kỳ phát cảm của sự phát triển ngôn ngữ. Do đó sự
phát triển ngôn ngữ ở thời kỳ này diễn ra với tốc độ nhanh, cƣờng độ mạnh,
nhịp độ đều. Vì vậy mà đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ em đã sử dụng ngôn ngữ
(tiếng mẹ đẻ), một cách thành thạo trong hoạt động nhận thức thế giới xung
quanh, trong giao tiếp với mọi ngƣời, trong điều chỉnh hành vi về nhận thức,
tình cảm, hành vi, phục vụ cho mục đích giáo dục mầm non ở nƣớc ta. Trong
những năm gần đây, vấn đề ngôn ngữ trẻ em đã đƣợc quan tâm. Nhiều công
trình nghiên cứu của nhiều tác giả đã đƣa ra các số liệu, nhận xét, kết luận
khoa học đáng quý trên nhiều mặt khác nhau về sự hình thành và đặc điểm
phát triển ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo. Nhìn chung sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ em đƣợc phát triển theo các hƣớng từ vựng, ngữ âm, ngữ
pháp và phƣơng pháp thực dụng (đƣợc hiểu là khả năng sử dụng ngôn ngữ

Đối với trẻ trước tuổi học, ngôn ngữ nảy sinh và phát triển không phải
vì bản thân nó mà vì những nhu cầu khác. Đó là nhu cầu nhận thức thế giới
xung quanh để thích ứng với nó, nhu cầu tự khẳng định mình bằng cách bắt
chƣớc (tập làm) ngƣời lớn và nhu cầu tham gia vào các hoạt động… Việc
thỏa mãn các nhu cầu trên sẽ trở thành điều kiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Chính vì vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ trƣớc tuổi học mang những nét
đặc thù riêng [13]
Chúng ta biết rằng, đứa trẻ bị điếc không thể học nói đƣợc và trẻ không
nghe ngƣời lớn nói thì cũng không thể học nói đƣợc. Trẻ học nói nhờ vào tai
nghe và khả năng bắt chước của mình [13]. Bằng chứng là trƣờng hợp những
đứa trẻ ở Ấn Độ bị thất lạc và sống trong rừng với sói, khi đƣợc tìm thấy thì
những đứa trẻ đó không biết nói. Trẻ em bắt chƣớc cách phát âm, bắt chƣớc
các hình thức khẩu ngữ của ngƣời lớn kể cả ngữ điệu giọng nói… Vì vậy mà
lời nói của trẻ ở mức độ nào đó phản ánh màu sắc ngôn ngữ của ngƣời lớn
sống xunh quanh trẻ. Lƣu Thị Lan nhận định rằng: “Những trẻ là con bác sĩ
thƣờng hay nói các từ ngữ bác sĩ hay nói nhƣ: sốt cao, viêm họng, tiêm,

19
khám… còn những đứa trẻ là con ngƣời bán hàng biết sớm hơn những đứa trẻ
khác các từ nhƣ: đắt, rẻ, ế, vốn…” [10]. Trẻ em cũng bắt chƣớc cả ngữ điệu
và sắc thái biểu… của lời nói. Nếu trong gia đình bố mẹ, ông bà, anh chị và
cô giáo của trẻ nói năng dịu dàng, nhẹ nhàng, tình cảm,… thì lời nói của trẻ
cũng trở nên tình cảm, nhẹ nhàng khi nói chuyện với mọi ngƣời. Ngƣợc lại,
nếu mọi ngƣời trong gia đình và những ngƣời xung quanh trẻ ăn nói cộc lốc,
bố bã, thiếu văn hóa, ngữ điệu gắt gỏng. không tình cảm… thì lời nói của trẻ
cũng mang những đặc điểm đó.
Nhƣ vậy ngôn ngữ của trẻ có đƣợc chính là bắt chƣớc từ ngôn ngữ của
ngƣời lớn. Do vậy ngôn ngữ của ngƣời lớn xung quanh có ảnh hƣởng lớn đến
ngôn ngữ của trẻ. Nó có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển lời nói của
trẻ. Xuất phát từ đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mang quy luật này mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status