ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THU HUYỀN
ĐẶC ĐIỂM BIỆT DANH
CỦA TRẺ EM Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
S. NGUYỄN VĂN KHANG
Hà Nội – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được
công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn Phạm Thu Huyền
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn “Đặc điểm biệt danh của trẻ em ở Hà
Nội”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của rất nhiều cá nhân và tập
thể. Nếu không có họ giúp đỡ, tôi không thể hoàn thành được luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Khang, người
Thầy đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều, đồng thời, Thầy cũng đưa rất
1.1.1. Danh học và một số vấn đề hữu quan 8
1.1.1.1. Lược sử danh học 8
1.1.1.2. Phạm vi nghiên cứu và phân loại danh học 10
1.1.2. Tên riêng và những vấn đề hữu quan 11
1.1.2.1. Khái niệm tên riêng 11
1.1.2.2. Ý nghĩa của tên riêng 13
1.2. Nhân danh học với việc nghiên cứu tên người 15
2
1.2.1. Nhân danh học và một số vấn đề hữu quan 16
1.2.1.1. Lược sử nghiên cứu nhân danh học trên thế giới 16
1.2.1.2. Lược sử nghiên cứu nhân danh học ở Việt Nam 17
1.2.2. Tên người và một số vấn đề hữu quan 20
1.2.2.1. Khái niệm tên người 20
1.2.2.2. Lược sử nghiên cứu tên người 21
1.2.2.3. Các loại tên riêng 22
1.3. Biệt danh và một số vấn đề hữu quan 27
1.3.1. Khái niệm “biệt danh” 27
1.3.2. Lược sử nghiên cứu biệt danh 29
1.3.3. Phân loại biệt danh 32
1.3.4. Phân biệt biệt danh với các loại tên riêng khác 35
Tiểu kết 36
CHƯƠNG 2: 37
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ Ý NGHĨA BIỆT DANH CỦA TRẺ EM 37
2.1. Đặt vấn đề 37
2.1.1. Đặc điểm nguồn gốc ngôn ngữ biệt danh của trẻ em 37
2.1.1.1. Biệt danh là các từ thuần Việt (từ bản ngữ) 39
2.1.1.2. Biệt danh là các từ ngữ Hán Việt 39
3
Bảng 2.6: Biệt danh là từ vay mượn nguyên dạng phổ biến 43
Bảng 2.7: Biệt danh là các từ vay mượn Anh/ Pháp 47
Bảng 2.8: Biệt danh là các từ vay mượn tiếng Anh/ Pháp phổ biến 48
Bảng 2.9: Biệt danh là từ đơn và từ phức 51
Bảng 2.10: Biệt danh là từ đơn phổ biến 54
Bảng 2.11: Biệt danh là từ phức phổ biến 55
Bảng 2.12: Thống kê biệt danh là tên các sự vật 60
Bảng 2.13: Thống kê biệt danh là các hiện tượng tự nhiên và xã hội 62
Bảng 2.14: Thống kê biệt danh về con người và sinh hoạt của con người 64
Bảng 2.15: Thống kê nhóm nghĩa đặc biệt 65
Bảng 2.16: Thống kê các nhóm biệt danh theo phân loại từ vựng - ngữ nghĩa 66
Bảng 2.17: Thống kê biệt danh theo từ vựng - ngữ pháp 67
Bảng 3.18: Thống kê lý do đặt biệt danh 81
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Miêu tả các đặc điểm cấu tạo cũng như ý nghĩa của biệt danh được người
Việt sử dụng để đặt tên cho con trong những năm gần đây.
- Chỉ ra những lý do cũng như cách sử dụng và những đặc điểm ngôn ngữ
xã hội của biệt danh của trẻ em, để qua đó, đưa ra những dự đoán mới về xu hướng
đặt tên của người Việt.
3. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê – phân loại
- Điều tra bằng anket và phỏng vấn sâu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Luận văn hướng đến nghiên cứu các đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa biệt
danh của trẻ em ở Hà Nội. Từ việc đầu tiên là chỉ ra cách thức sử dụng ngôn ngữ để
đặt biệt danh cho trẻ em ở Việt Nam, và sau đó đưa ra các lý do khác nhau để đặt
biệt danh.
4.2. Luận văn tập trung vào nghiên cứu biệt danh của trẻ em ở Hà Nội.
Đối tượng hướng đến ở đây là “biệt danh” của trẻ em ở “Hà Nội”.
Địa bàn nghiên cứu trong luận văn hướng đến là Hà Nội – trung tâm chính
trị, văn hoá, kinh tế của cả nước. Các mẫu được chọn hoàn toàn ngẫu nhiên ở những
gia đình khác nhau thuộc những địa điểm khác nhau trên địa bàn Hà Nội. Cụ thể
như sau:
- Quận Thanh Xuân: 76 biệt danh
- Quận Ba Đình: 64 biệt danh
- Quận Long Biên: 76 biệt danh
- Quận Hoàng Mai: 75 biệt danh
- Quận Hai Bà Trưng: 68 biệt danh
- Quận Đống Đa: 63 biệt danh
- Quận Hoàn Kiếm: 69 biệt danh
- Quận Cầu Giấy: 67 biệt danh
Tổng số biệt danh chúng tôi thu được trong quá trình khảo sát là 558 biệt danh.
8
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1.1. Danh học với việc nghiên cứu tên riêng
1.1.1. Danh học và một số vấn đề hữu quan
Thuật ngữ chuyên ngành sử dụng cho nghiên cứu tên nói chung là danh học
(onomastics), và những nhà khoa học nghiên cứu danh học được gọi là nhà danh
học (onomasts). Theo Mai Ngọc Chừ, “bộ môn danh học nghiên cứu các quy luật
đặt tên: tên người, tên sông, tên núi non, tên vùng đất.” [7; tr.133] Như vậy, danh
học là bộ môn nghiên cứu những quy luật cơ bản về nguồn gốc phát sinh, thành
phần cấu tạo, quá trình phát triển và sự hoạt động của tên riêng trong hệ thống ngôn
ngữ. Danh xưng nhìn chung, nghiên cứu về tất cả những danh từ thể hiện được bản
chất của sự vật, bao gồm cả tên chung và tên riêng (proper names). Cụ thể hơn,
danh học nghiên cứu nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, quá trình và xu hướng phát triển
của tất cả các loại tên: tên người như tên họ, tên đệm, tên chính, biệt danh, bút danh,
thụy hiệu, ; tên nơi chốn như quốc gia, phố phường, thị trấn, làng mạc, ; tên của
các danh lam thắng cảnh như sông núi, chùa chiền ; tên của các công trình xây
dựng như nhà cửa, đường phố, sân bay, khách sạn, ; tên của công trình giao thông
như đường phố, cầu cống, ; tên của các loài thực vật, động vật; tên của các phương
tiện giao thông như tàu, máy bay, ; tên của các sản phẩm thương mại như rượu,
thuốc, ; tên của các công trình sáng tạo nghệ thuật như sách vở, thơ ca, phim
truyện, tất cả những cái tên trong tưởng tượng cũng như trong thế giới thật. Danh
sách các loại tên sẽ còn mãi tiếp diễn. Như vậy, có thể nói rằng, danh học có một
Từ nửa cuối thế kỉ XX, một hệ thống lý thuyết chung về danh học đã được
phát triển. Danh học trở thành một chuyên ngành độc lập của ngôn ngữ với sự kết
nối sâu rộng với các ngành khoa học xã hội và tự nhiên khác. Ý nghĩa xã hội của tên
trong giao tiếp và trong quản lý khuyến khích sự phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu
về danh học mà có thể khởi nguồn từ tài liệu tổng quát và từ sự sáng tỏ những vấn
đề hiện hành trong các ấn phẩm đặc biệt về danh học.
Ở Việt Nam, danh học là lĩnh vực dành được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu từ sau những năm 1954 như Nguyễn Bạt Tuỵ với tác phẩm “Tên người
Việt Nam”, Hoàng Thị Châu công bố kết quả nghiên cứu về địa danh, chức danh và
thần danh Việt Nam vào những năm 1960. “Việt Nam danh nhân tự điển” của
Nguyễn Huyền Anh (1967) giới thiệu các vị tiền hiền với những đóng góp của họ
cho đất nước và “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” của Nguyễn Quang Thắng và
Nguyễn Bá Thế trình bày một cách chi tiết thân thế và sự nghiệp của hơn 1.500
nhân vật lịch sử Việt Nam đã đóng góp rất lớn cho danh xưng học Việt Nam (1988).
Đến những cuối thế kỉ XX, danh học Việt Nam đã có nhiều bước chuyển biến mạnh
10
mẽ hơn với nhiều nghiên cứu lớn, có tính hệ thống và sâu sắc hơn. Các luận văn,
luận án thạc sĩ, phó tiến sĩ đã nghiên cứu sâu sắc hơn về chính danh cũng như địa
danh người Việt. Phạm Tất Thắng là người có rất nhiều đóng góp cho nhân danh
học Việt Nam nói riêng và danh học nói chung. Ông có nhiều tác phẩm xung quanh
các vấn đề này và vẫn tiếp tục là nhà nghiên cứu tích cực với những công trình lớn
trong lĩnh vực này. Các công trình của ông nghiên cứu một cách toàn diện về tên
riêng, chính danh, tên họ, tên đệm, tên làng, tên sông, tên thần linh, tên địa
danh, trong đó ông có nêu rõ về đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa, cũng như mối quan hệ
của tên với ngôn ngữ học, xã hội học
1.1.1.2. Phạm vi nghiên cứu và phân loại danh học
Như vậy, danh học là một khoa học nhân văn, nghiên cứu tên nơi chốn, tên
người. Mảnh đất danh học này rất rộng lớn, bao gồm mọi khu vực địa lý, văn hóa,
ngôn ngữ, và mọi thời đại lịch sử. Dựa vào những tiêu chí khác nhau, danh học
Trong sự phù hợp với đề tài của luận văn nghiên cứu về tên riêng của
người, chúng tôi sẽ đi sâu vào nhân danh học và những vấn đề liên quan đến
nhân danh học ở phần sau.
1.1.2. Tên riêng và những vấn đề hữu quan
Tên riêng trong tiếng Anh được dùng bởi thuật ngữ “proper names”. Tên
riêng tồn tại trong bất kì ngôn ngữ nào và cũng là lĩnh vực quan tâm của không chỉ
các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học; cả từ vựng học lẫn ngữ pháp học mà còn nhận
được sự quan tâm của các nhà sử học, dân tộc học, văn học, xã hội học, Vào những
năm 30 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu về tên riêng đã bắt đầu xuất hiện
nhưng phát triển nhiều và sâu rộng hơn trong khoảng những năm 80 - 90 của thế kỉ
XX và đặc biệt là khoảng 20 năm trở lại đây.
1.1.2.1. Khái niệm tên riêng
Trong từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, có định nghĩa thuật ngữ “tên
riêng” như sau: “tên riêng” tên gọi của từng cá nhân, cá thể riêng rẽ, phân biệt với
những cá nhân, cá thể khác cùng loại. Ví dụ: viết hoa các tên riêng. [67; tr.1167]
Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, do Nguyễn Như Ý chủ
biên, giải thích tên riêng như sau: “Từ, cụm từ hoặc câu dùng để tách biệt đối tượng
được gọi tên ra khỏi tập hợp các đối tượng khi cá thể hoá chúng. Đặc điểm của tên
riêng là dùng để gọi tên (kí hiệu) người hoặc sự vật riêng lẻ, không liên quan gì đến
đặc trưng của chúng, tức là không có sự tương ứng giữa tính chất của sự vật được
gọi tên (kí hiệu) và nghĩa của từ, cụm từ hoặc câu.” [68; tr.259]
12
Tên riêng được các nhà từ vựng học tiếng Việt gọi chung là từ, nhưng lại
không xếp chúng thuộc lớp từ nào cụ thể. Theo Nguyễn Thiện Giáp, “tên riêng nên
được coi là những từ, ngữ dùng để gọi tên những thực thể vật chất và tinh thần có
vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá – xã hội, tồn tại với tư cách là những cá
thể trong tư duy của từng dân tộc.” [75]
Trong khi đó, các nhà ngữ pháp học xếp tên riêng thuộc từ loại danh từ và
gọi là danh từ chung. Theo Mai Ngọc Chừ, “danh từ được phân chia bước đầu
vào cả ba bình diện chức năng, ngữ pháp và nghĩa của tên riêng. Theo đó, chúng tôi
đi sâu hơn vào tìm hiểu “Ý nghĩa của tên riêng”.
1.1.2.2. Ý nghĩa của tên riêng
Có hay không “ý nghĩa của tên riêng” là một “cuộc chinh chiến” lâu dài của
các học giả quan tâm đến “tên riêng”. Theo Nguyễn Việt Khoa, “tên riêng có nghĩa
hay không có nghĩa cũng chính là khẳng định sự tồn tại hay không tồn tại của kết
cấu vật chất bên trong của tên riêng.” [21; tr.11] Có hai trường phái quan điểm trái
ngược nhau về sự tồn tại hay không tồn tại của kết cấu vật chất bên trong của tên
riêng – nghĩa là quan điểm cho rằng tên riêng không có nghĩa và quan điểm cho
rằng tên riêng có nghĩa.
Những học giả trên thế giới cho rằng tên riêng không có nghĩa như Nina
Davidovna Arutjunova, John Stuart Mill, Saul Aaron Kriple, Watanabe Mitsou,…
J. St. Mill cho rằng: “Tên riêng cũng giống như vệt phấn đánh dấu ở một cái
nhà; nó không có nghĩa mà chỉ có mục đích là chỉ ra biểu vật Tên riêng thường
được quan niệm để gọi tên sự vật mà không gán cho sự vật bất kì một thuộc tính nào.
Đồng tình với quan điểm của J. St. Mill, Saul A. Kriple, một nhà triết học, logic học
người Mỹ cho rằng: “tên riêng chỉ gọi tên sự vật một cách cứng nhắc, tên riêng
không có nghĩa hàm chỉ”. Ông nói rõ hơn “nếu tên riêng có nghĩa thì dường như cái
biểu vật của tên riêng sẽ thay đổi trong các thế giới khác nhau.” [theo 31; tr.23]
Theo N.D.Arutjunova, tên riêng “trong suốt như thuỷ tinh, qua nó có thể
thấy rõ cái sở biểu. Nếu nó có nghĩa thì cũng giống như thuỷ tinh, các vết rạn nứt,
nó sẽ không được trong suốt, khiến ta không thấy được biểu vật.” [theo 31; tr.23]
Wanatabe Mitsuo, một giáo sư Nhật Bản chuyên ngành Giáo dục ngôn ngữ
Anh, cũng đưa quan điểm của mình về tên riêng: “Tôi hay bạn rất có thể bị ai đó
căm ghét mà chưa từng được gặp, vẻ mặt của tôi hoặc của bạn không gợi lên điều
gì trong đầu của họ ngoài cái tên riêng của tôi hoặc của bạn.” [theo 18; tr.13]
Trong khi đó, trường phái cho rằng tên riêng có nghĩa trên thế giới bao gồm
F. L. Gottlob Frege, A.A Ufimceva, E.S Aznaurova,
14
hoá, của người có tên.” Ông cũng cho rằng: “để hiểu tên riêng, người ta cần phải
có sự hình dung rõ ràng và cụ thể về đối tượng được gọi tên chứ không phải thông
15
qua các đặc điểm của nó. Một tên riêng bất kì (cụ thể là tên người) hoàn toàn xa lạ
với chúng ta sẽ không nói lên được điều gì ngoài thứ âm thanh trống rỗng nên
chúng ta không thể hiểu biết gì về đối tượng được gọi tên là nam hay nữ, già hay
trẻ, cao hay thấp, béo hay gầy.” Như vậy, nghĩa của tên riêng mang ý nghĩa hàm
chỉ. Bên cạnh đó, tên riêng cũng mang giá trị biểu trưng bởi “tên riêng phản ánh
những tư tưởng, tình cảm, hay nguyện vọng của con người đối với việc hiện thực
thông qua việc lựa chọn và sử dụng các hình thức ký hiệu tên gọi”. [32]
Có thể nói rằng, quan điểm tên riêng có nghĩa hay không có nghĩa vẫn là đề tài
tranh luận sôi nổi của các học giả trong và ngoài nước. Bởi mỗi quan điểm lại có
những điểm mạnh và cũng có những lý giải chưa thoả đáng. Các tác giả không cho
rằng tên riêng không có nghĩa lại chưa thể giải thích được nội dung có tính chất nhận
thức hiển nhiên của tên riêng. Xét ví dụ sau: “Nguyễn Tấn Dũng, sinh ngày 17 tháng
11 năm 1949 tại Cà Mau, là Thủ tướng đương nhiệm của nước CHXHCN Việt Nam.”
[70] Trong ví dụ trên, nếu cho rằng “Nguyễn Tấn Dũng” là một tên riêng vô nghĩa thì
thật chưa thoả đáng. Bản thân tên “Nguyễn Tấn Dũng” hàm chỉ tới một đối tượng xác
định, người là “Thủ tướng đương nhiệm của nước CHXHCN Việt Nam”. Đồng thời,
“Nguyễn Tấn Dũng” cũng gợi ra nhiều đặc điểm và liên tưởng khác ngoài phạm vi
ngôn ngữ thuần tuý. Ngược lại, đối với các tác giả cho rằng tên riêng có nghĩa, vậy
trong những trường hợp sau nghĩa được hiểu và bày tỏ như thế nào: “Những ai tên
Huyền tập trung lại đây”. Như vậy, cái tên “Huyền” không bao gồm bất kì một đặc
điểm hay ý nghĩa nào khác ngoài việc gọi tên đối tượng chưa xác định.
Quan điểm về nghĩa của tên riêng, trong luận văn này, chúng tôi đồng tình
với quan điểm của Phạm Tất Thắng và Lê Quang Thiêm. Theo đó, “tên riêng tự
thân khiếm nghĩa, chỉ khi tên riêng được gắn với nội dung biểu đạt được hình thành
trong xã hội thì nó mang nghĩa hàm chỉ và có giá trị biểu trưng”.
1.2. Nhân danh học với việc nghiên cứu tên người
thế giới cho thấy người Việt có lẽ là dân tộc đầu tiên, cùng với người Trung Hoa và
Hàn Quốc, có một hệ thống tên họ đơn giản và hợp lý nhất” [80]. Đáng chú ý và có
lịch sử lâu đời nhất phải kể đến hệ thống của tên họ của người Trung Quốc. Có thể
nói cho tới nay, Trung Quốc là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới có
những tác phẩm nói về tên họ. Manh nha nghiên cứu về tên người ở Trung Quốc đã
bắt đầu từ những năm 2852 trước Công Nguyên, khi vua Phục Hi ra lệnh bắt dân
chúng phải có một “gia tính” hay “tộc tính” để dễ phân biệt các hệ phái gia đình và
định phép tắc hôn nhân. Các nghiên cứu phát triển nhanh và nhiều hơn vào Ðời Tấn
(265 - 420). Cho tới tận trước thế kỉ XIX, ở Trung Quốc, nhân danh học mới chỉ
dừng lại ở việc khảo sát và tìm hiểu cội nguồn cũng như phân loại họ và tên. Tuy
17
nhiên, bước sang thế kỉ XX là sự phát triển mạnh mẽ của ngành nhân danh học ở
Trung Quốc. Với lịch sử lâu đời cũng như những nghiên cứu sâu rộng của mình,
Trung Quốc là một trong những quốc gia có thư mục về nhân danh học phong phú
nhất trên thế giới. Các nhiều tác giả đã công bố các tác phẩm của mình về nhân
danh học. Theo tác giả Sheau Yueh J. Chao, trong tác phẩm “In Search of Your
Asian Roots”, ở Trung Quốc có khoảng 210 tác phẩm nói về tên họ. Trong đó, có
những tác phẩm mang tính chất chuyên ngành và được đánh giá cao như “Trung
Quốc Tính Thị Đại Toàn” của Trần Minh Nguyên và Vương Tống Hổ; “Phân tích
thống kê cách dùng chữ trong họ tên” của NXB Ngữ Văn năm 1986; “Họ tên và
văn hoá trung hoa” của Hà Hiểu Minh năm 2001; “Bàn về văn hoá tên người trong
tiếng Hán” của Dương Dương năm 2004, [theo 22; tr.13]
Là châu lục có nhiều đặc điểm thú vị về cách đặt tên, châu Âu có nhiều công
trình về nhân danh học xuất hiện khá sớm. Những tác phẩm khởi đầu cho nhân danh
học tại châu Âu thường gắn với các tác phẩm kinh Thánh, bởi ở đó, đề cập tới tên
các vị thánh thần, tên con chiên,
Hiện nay, Mỹ là quốc gia có nhiều nhà nhân danh học gạo gội và sở hữu một
số lượng tài liệu nghiên cứu danh học phong phú nhất trên thế giới. Tập san
“Names” do Tổ chức American Name Society xuất bản từ năm 1951 đến nay đã
tên riêng, tên người cũng như những vấn đề văn hoá – xã hội – ngôn ngữ liên quan.
Các công trình tiêu biểu như:
- Họ và tên người Việt Nam, tác giả Lê Trung Hoa năm 1992 của nhà xuất
bản Khoa học Xã hội. Cuốn sách này được hoàn thiện từ luận án cùng tên của tác giả.
Đây là một công trình có tính hệ thống và được đánh giá cao trong giới nhân danh học.
Trong tác phẩm này, tác giả đưa ra cái nhìn toàn diện về lịch sử, chức năng, nguyên tắc
đặt tên và cả quy tắc viết hoa tên người. Quan trọng hơn, tác giả đã đề cập được từng
yếu tố trong tên gọi người Việt như tên họ, tên đệm, tên chính và các nhóm danh hiệu;
- Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt của tác
giả Phạm Tất Thắng. Một luận án Phó tiến sĩ tại Viện Ngôn ngữ học, Viện Khoa học
xã hội Việt Nam, năm 1996. Trong công trình này, tác giả đã nêu bật những khái
niệm cơ bản của danh học và vấn đề nghiên cứu nhân danh học ở Việt Nam. Tác giả
cũng đồng thời chỉ ra đặc điểm cấu tạo cũng như ý nghĩa tên riêng người Việt cũng
như cách thức sử dụng tên riêng trong giao tiếp. Đây được xem là công trình nghiên
cứu chuyên sâu và có hệ thống về tên người trên quan điểm ngôn ngữ học;
- Khảo sát đặc điểm cấu trúc- ngữ nghĩa của tên người Anh của tác giả
Nguyễn Việt Khoa là một luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ tại khoa Ngôn ngữ học,
19
Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, năm 2002 (đã được phát triển
thành luận án Tiến sĩ);
- Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa của tên (chính danh) người Nhật (có đối
chiếu với tên người Việt) của tác giả Vương Đình Hòa – luận văn Thạc sĩ bảo vệ tại
khoa Ngôn ngữ học, Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, năm 2005;
- Những đặc trưng xã hội - ngôn ngữ học của tên riêng chỉ người trong
tiếng Việt của tác giả Vũ Thị Kim Hoa, luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ tại khoa Ngôn
ngữ học, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, năm 2005. Luận văn
miêu tả cấu trúc của tên thật người Việt; khảo sát và miêu tả những đặc trưng về
mặt xã hội học của tên thật người Việt. Qua đó, luận văn góp phần làm rõ bản chất
xã hội của các tín hiệu ngôn ngữ và có ý nghĩa trong việc tìm hiểu những giá trị
- Tên người (nhân danh)
- Tên Thánh, Thần, tên Phật
- Tên văn vật
- Tên thời đại, thời kì, thời nhật
- Tên công trình kiến trúc, cơ quan xí nghiệp, tàu bè, vũ khí
- Tên sách báo, vở diễn, phim ảnh
- Tên sự kiện, phong trào xã hội, nhân vật, địa danh lịch sử, nhãn hiệu hàng hoá
- Tên đất (địa danh)
- Tên các vùng không gian vũ trụ, thiên hà, chòm sao
- Tên các thiên thể
- Tên các thiên tai
- Tên gia súc, gia cầm
- Tên cỏ cây hoa lá [31; tr.20]
Cho dù có phân loại thế nào, tên người cũng nằm trong danh sách ưu tiên
hàng đầu của nhân danh học nói riêng và danh học nói chung. Tên người hay còn
được dùng với thuật ngữ “nhân danh” dùng để chỉ tên của người nói chung. Theo
Phạm Tất Thắng, “có thể sử dụng thuật ngữ “Tổ hợp định danh” (THĐD) để chỉ
loại đơn vị định danh tên người. Theo đó, tên người là một THĐD gồm ba bộ
phận: tên họ, tên đệm và tên cá nhân. Như vậy, THĐD ở Việt Nam hay trên thế
giới nói chung được cấu tạo từ “Tên họ”, “Tên đệm” và “Tên cá nhân” tuỳ theo vị
trí quy định của từng vùng miền. Ngoài THĐD, người Việt còn nhiều loại tên khác
như: tên cúng cơm, tên hiệu, tên huý, tên thánh, tên thuỵ, tên tục, tên tự, biệt danh
(nickname), bút danh, nghệ danh mà có thể có hoặc không được cấu tạo theo cách
21
một THĐD cấu tạo. Trong sự phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận văn,
những cái tên này sẽ được làm rõ ở phần “Các loại tên người”.
1.2.2.2. Lược sử nghiên cứu tên người
Như đã từng đề cập ở phần lược sử nhân danh học, nhân danh học có một
lịch sử khá lâu đời, tuy nhiên, ngành khoa học nghiên cứu về tên người chính thức